Hôm nay,  

Đêm Mưa, Gửi Về Đất Bắc

15/02/200600:00:00(Xem: 6813)
Dạ Vũ Ký Bắc

Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ,

Ba sơn dạ vũ trướng thu trì.

Hà đương cộng tiễn tây song chúc,

Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì.

Lý Thương Ẩn

Em hỏi ngày về để tính xem !

Núi Ba ao ngập nước mưa đêm.

Bao giờ mới được cùng chong nến,

Trò chuyện ngoài trời mưa suốt đêm. (1)

Châu Ngọc Bính dịch

Lúc mưa đêm, làm gửi về bắc

Ngày về chưa biết bao giờ,

Ba sơn mưa tối, ao thu dâng đầy.

Bao giờ khêu nến song tây,

Cùng nhau kể chuyện mưa bay đêm nào"

Trần Trọng San dịch

*

Hai Lúa đã từng chôm tên Lý Thương Ẩn, khi dịch truyện ngắn Evelyne, của Joyce, trong Những Cư Dân Dublin, đăng trên Tập San Văn Chương, ngày nào còn Sài Gòn. Và, còn thi sĩ Joseph Huỳnh Văn.

Hai Lúa vẫn còn nhớ, một câu giới thiệu Joyce, của Lý Thương Ẩn "giả hiệu", mà Huỳnh Văn rất mê, là: Mười lăm truyện ngắn như mười lăm mảnh đời, xé ra từ thành phố Dublin nghèo khổ... Thi sĩ HV. mê nhất hình ảnh "xé ra"...

Lạ, không hiểu có phải hậu quả của việc chôm, nhưng, ý tưởng "Chỉ tiếc sắp hoàng hôn", của nhà thơ họ Lý đã nhập vào Hai Lúa, và, bao nhiêu năm sau, đứng trên bờ biển giả, bãi cát giả Wasaga, làm bật ra hình ảnh này:

Sóng đẩy biển lên cao, khi xuống kéo theo mặt trời,

Không gian bỗng đỏ rực rồi đêm tối trùm lên tất cả.

NQT: Biển

*

Trò chuyện ngoài trời mưa suốt đêm" (1)

Câu thơ dịch này, của Châu Ngọc Bính, sợ không đúng tinh thần nguyên tác.

Bởi vì cái chuyện ngoài trời mưa suốt đêm, là chuyện đã xẩy ra rồi, ở một nơi khác. Thành thử dịch như thế, là bỏ đi một số từ, làm câu thơ trở nên lệch ra khỏi nguyên tác.

Bao giờ mới được cùng chong nến,

Trò chuyện [về cái chuyện] ngoài trời mưa suốt đêm [ở núi Ba Sơn đêm nào một mình không có bạn ở bên cạnh]. Như vậy, bản dịch của TTS giữ được tinh thần nguyên tác hơn, theo Hai Lúa.

Đây là bản tiếng Anh. Cách dùng thì [it was like] cho thấy rất rõ, tinh thần bài thơ.

A Letter Home

You ask when I shall return: there is no knowing

Night rain on Pa-shan floods the autumn pools

Someday we shall trim the wick beneath the west windows

I'll tell you that it was like - the night rain falling

[Edited by Robert Payne]

(1) Dịch giả Châu Ngọc Bính, đề nghị sửa lại:

Nhắc chuyện Ba Sơn mưa suốt đêm.

Thơ Lý Thương Ẩn, hay nói chung, thơ Đường, hay ở chỗ kiệm lời, thơ thật cô đọng, nhờ vậy mà ý thơ, như những ao kia, nước mưa dâng đầy. Cách hiểu, và dịch của Châu Ngọc Bính, thực sự không sai, nhưng mà là hiểu theo cách đổi ngược dòng thời gian, lấy cái chuyện tương lai làm chuyện hiện tại, nói rõ hơn, khi viết thư cho bạn, trong đêm mưa, là kể như đã có bạn ở ngay bên mình rồi!

Bài thơ của Lý Thương Ẩn, nó như vầy, theo tôi.

Đêm, nơi núi Ba Sơn, ngồi đọc thư bạn, tới câu bạn hỏi, khi nào về, mới trả lời, chưa biết được. Khi đó, ngoài trời mưa, nước ao dâng đầy, mơ tưởng cái ngày gặp lại, kể cho bạn về cái cảnh đẹp tuyệt vời của đêm nay.

Thành thử cái chuyện "kể chuyện ngoài trời mưa suốt đêm" đúng là giấc mơ của kẻ ngồi ngắm mưa, "kể như" có bạn mình ngồi kế bên, vậy.

*

Lý Thương Ẩn [813-858]

Tự là Nghĩa Sơn, hiệu là Ngọc Khuê sinh. Người huyện Hà Nội, tỉnh Hà Nam. Năm 837 (đời Đường Văn-tông), nhờ thế lực của Lệnh Hồ Đào, con của Lệnh Hồ Sở mà được chấm đậu tiến sĩ. Rồi được Vương Mậu Nguyên, trấn thủ Hà Dương, dùng vào việc thư ký và gả con gái cho. Vì Mậu Nguyên là địch thủ chính trị của Lệnh Hồ Sở nên ông bị coi là người vong ân.

Lý Thương Ẩn nổi tiếng ngang với Ôn Đình Quân và Đỗ Mục, nên người đương thời gọi là Ôn Lý và Lý Đỗ.

Có ảnh hưởng rất lớn đối với thi đàn đời Tống. Vương An Thạch khen thơ ông có cái vẻ tài tình giống thơ Đỗ Phủ.

Hai Lúa mới lục trong tủ sách, cuốn Thơ Đường, của Trần Trọng San, có phần tiếng Anh, nhà xb Đại Học Tổng Hợp Thành Phố HCM.

Lạ một điều, bản tiếng Anh, dịch bài Đăng Lạc-Du nguyên, lại giống như bài thơ Biển của... Hai Lúa!

Biển

Buổi chiều đứng trên bãi Wasaga

Nhìn hồ Georgian

Cứ nghĩ thềm bên kia là quê nhà.

Sóng đẩy biển lên cao, khi xuống kéo theo mặt trời

Không gian bỗng đỏ rực rồi đêm tối trùm lên tất cả.

Cát ở đây được con người chở từ đâu tới,

Còn ta bị quê hương ruồng bỏ nên phải đứng ở chốn này.

Số phận còn thua hạt cát.

Hàng cây trong công viên bên đường nhớ rừng,

Cùng thi nhau vươn cao như muốn trút hết nỗi buồn lên trời.

Chỉ còn ta cô đơn lẫn vào đêm

Như con hải âu già

Giấu chút tình sầu

Vào lời thì thầm của biển...

Bản dịch qua tiếng Anh, của Witter Bynner, bài Đăng Lạc-Du nguyên của Lý Thương Ẩn.

The Lo-Yu Tombs

With twilight shadows in my heart

I have driven up among the Lo-Yu Tombs

To see the sun, for all his glory

Buried by the coming night

“Buried by the coming night”, dịch lại qua tiếng Việt, chẳng là:

Không gian bỗng đỏ rực rồi đêm tối trùm lên tất cả"

Tuyệt cú mèo. Cứ y hệt như Hai Lúa khi làm, sáng tác... bài thơ Biển của mình, là... dịch nó từ tiếng Anh qua!

*

Thơ là toán thuần tuý, ngược với văn, là toán áp dụng, của ngôn ngữ. Nó xác thực hơn, có nhiều khả năng tạo những hình thức lý thuyết, độc lập không dựa vào nền tảng chất liệu, so với văn.

G. Steiner: Verse in Tragedy, Thơ trong Bi Kịch.

[... that verse is the pure mathematics of language. It is more exact than prose..., and more capable of constructing theoretic forms independent of material basis. Prose, on the contrary, is applied mathematics].

Nhân nói chuyện dịch thơ, tờ Guardian online kể kinh nghiệm dịch Antigone của nhà thơ Nobel văn chương, Seamus Heaney. Ông bị bí, và rồi cảm hứng đã tới với ông, khi ông nhận ra rằng, đừng coi bản dịch của mình như là một cơ hội để phản đối cuộc chiến Iraq. Đây là một vở kịch thơ, nhưng bình luận và nghiên cứu đã biến nó trở thành một ẩn dụ chính trị. Tôi nhắm cái chiều hướng nhân chủng học của tác phẩm, không muốn bản dịch của mình biến thành một lời chỉ trích cuộc chiến Iraq, vì thế mà tôi đổi là The Burial at Thebes, Chôn Cất Tại Thebes, thay vì Antigone.

Burial, chôn cất, là vì, chôn hay không chôn, đó là vấn đề; một bên, quyền của người chết, và một bên, luật của đất. Nhưng chôn là một từ luôn bám rễ vào đất, nghĩa là, chẳng bao giờ mất đi cái thực tại nguyên thuỷ của nó. Chôn bảo cho những người còn sống là người chết muốn được quyền chôn cất, rằng, hãy tỏ lòng tôn kính, với chiếc quan tài, và cái xác chết ở trong đó, cho dù cái quan tài đó phủ cờ gì.

Search for the soul of Antigone: Đi tìm linh hồn nàng Antigone

Wednesday November 2, 2005

The Guardian

*

Hai Lúa, phải đợi đến lúc sắp ngỏm củ tỏi, phải đợi cơ may độc nhất, do Ông Trời thí cho, là gặp lại cô bạn ngày xưa ở nơi tận cùng trái đất, xúc động quá, "bèn" được "Thần Thơ nhập" [chữ này chôm của thi sĩ THT], và sáng tác ra được vẻn vẹn một... cục thơ, nằm trong lòng bàn tay, trong có Biển, và "nhân đó" nhận ra, luật thơ, rõ nhất là ở trong Thơ Đường, chỉ gồm trong sáu chữ:

Cứ theo hư không mà đi.

Thơ là cõi hư, là mắt bão, ở giữa, đầu tịnh, đầu động, một chẵn một lẻ, một âm một dương, một hư một thực, một thanh một tục....

Lòng nhà thơ phải hư... nhưng đừng... hỏng!

*

Đăng Lạc-Du Nguyên

Hướng vãn ý bất thích,

Khu xa đăng cổ nguyên.

Tịch dương vô hạn hảo,

Chỉ thị cận hoàng hôn.

Lý Thương Ẩn

Sau đây là bản dịch, khi chưa chuyển thành thơ, của Trần Trọng San.

Lên Lạc-Du nguyên

Lúc trời sắp tối, ý không thoả thích, nên rong xe lên khu đất cổ. Nắng chiều đẹp vô hạn, thế nhưng đã sắp hoàng hôn!

Bây giờ bạn đọc lại bài Biển.

Buổi chiều đứng trên bãi Wasaga

Nhìn hồ Georgian

Cứ nghĩ thềm bên kia là quê nhà.

Cái "air" của bài thơ rất giống cái "air" của bản dịch khi chưa chuyển thành thơ, của bài thơ Đường.

Nói một cách khác, mấy bài thơ của Hai Lúa, một cách nào đó, đều như được dịch từ Đường Thi qua, và còn ở dạng "nháp", chưa được gọt rũa, thành vần, thành điệu.

Và đây là một trong những cái "mánh", trong cái việc tập tành làm thơ:

Hãy thử dịch thơ Đường!

Và đó cũng là câu Alain khuyên ông học trò sau này nổi danh của mình, là André Maurois, mày mê ai, thì cứ dịch người đó (1) và rồi sẽ trở thành văn sĩ, như người đó.

*

Nhưng thơ Đường không làm sao có những dòng như vầy:

Cát ở đây được con người chở từ đâu tới,

Còn ta bị quê hương ruồng bỏ nên phải đứng ở chốn này.

Số phận còn thua hạt cát.

Nó là tâm thức bi đát về phận người, về những hoàn cảnh giới hạn của nó, tâm trạng sao xuyến, lưu đầy, và, lưu vong.

Cũng xin được cắt nghĩa một tí về "Cát ở đây..."

Bãi Wasaga không có cát, cát được chở từ nơi khác tới, làm một bãi biển giả, câu du khách từ thành phố tới.

Bài thơ trên, làm đúng vào lần đầu tiên được một người bạn chở tới đây. Ông bạn này nói cho biết về cái vụ "cát ở đây", và, bài thơ được hoàn thành ở trong đầu, khởi từ ý đó.

Cụm từ " bị quê hương ruồng bỏ" lúc ban đầu, đúng như vậy, rồi đuợc sửa là, "không hiểu tại sao", như bản được đọc trên Gió_O, nhưng một ông bạn đọc cả hai, bèn mắng cho, "bị quê hương ruồng bỏ", là đúng rồi, đúng ra phải nói, "bị VC đá văng ra khỏi đất nước", nhưng "bị ruồng bỏ" nghe có vẻ... thơ hơn!

*

Hàng cây trong công viên bên đường nhớ rừng

Cùng thi nhau vươn cao như muốn trút hết nỗi buồn lên trời.

NQT: Biển

Một lần, nhậu cùng một ông bạn trẻ tuổi hơn, cũng nòi thi sĩ, đã từng có thơ đăng trên Trăm Con. Cũng cùng quê Bắc, và cái ý thơ Đêm Mưa Gửi Bắc, là cũng cùng ngậm ngùi.

Say thơ, say rượu, đọc tới hai câu trên, anh gật gù:

-Thơ không cần làm nhiều. Chỉ hai câu này, là có thể chẳng cần làm thơ nữa, cũng vẫn được, anh ạ!

Đọc lại, bỗng liên tưởng tới cái di chúc của nhà thơ Du Tử Lê:

Khi tôi chết hãy liệng mẹ cái thây tui xuống biển!

Thì trút lên trời hay liệng xuống biển thì cũng mêm xôi, mắm xốt [từ chữ même chose, tiếng Tẩy mà ra]

(1) Hai Lúa bỗng dưng liên tưởng tới mấy dòng thơ của nữ sĩ Lê Thị Thấm Vân:

Con gái mẹ,

Yêu ai, con cứ fuck họ

Ghét ai, con cũng có thể fuck họ.

Khinh ai, mẹ để tùy ý con.

Nếu nói đến "fuck", thì hình ảnh vươn lên cao như muốn trút hết... làm liên tưởng đến cảnh bắn máy bay, và nếu như thế, nó "nam tính" [viril] hơn nhiều, so với "ném mẹ xác thằng già xuống biển"!

*

Phương Nghi lúc nào cũng vội vội, vàng vàng

Mùa Thu không đâu xa mà ở trong đôi mắt

Hồ Thu và đôi mắt của cô cùng một mầu

NQT: Sinh nhật

Mấy câu trên, lấy ý từ Đằng Vương Các Tự, của Vương Bột, một trong tứ trụ, thời Sơ Đường

Lạc dà dữ cô vụ tề phi, thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.

Trần Trọng San, [trong cuốn Hán Văn, nhà xb Bắc Đẩu, lần in thứ bẩy tại Canada], dịch là: Ráng chiều rơi xuống cùng cái cò đơn chiếc đều bay; làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.

Nguyên tác, động từ bay, phi, chỉ dùng một lần, để tả hai vật cùng bay một lúc, một, từ dưới bay lên, và một từ trên rơi xuống.

Thành thử TTS, tuy đã nhận ra cảnh tuyệt vời này, dịch "ráng chiều rơi xuống", nhưng sau đó, ông lập lại động từ bay một lần nữa, trong "đều bay", hỏng!

Theo Hai Lúa, câu dịch đại khái phải như thế này:

Ráng chiều rơi xuống cùng lúc với cái cò đơn chiếc kia bay lên [bay lên, không phải đều bay!]

Bởi vì, phải cả hai cái bay, mới nối liền một dải, như câu sau cho thấy:

Hồ Thu cùng Trường Thiên - nhờ ráng chiều rớt xuống và cái cò cô đơn bay lên cùng một lúc - nên mới - cộng được cả trời đất - trời đất từ nay xa cách mãi - bỗng chốc được liền lại - kéo dài thành một vạch - là nhất sắc mùa thu!

Câu thơ của Hai Lúa, từ ý thơ trên, nhưng, vì thiếu một cái cò đơn chiếc, mà thành ra dư ra... hai hồ thu.

Bởi vì có tới ba hồ thu, ở đây.

Mùa Thu không ở đâu xa, [đâu cần phải vội vội vàng vàng đi tìm], mà ở ngay trong đôi mắt của cô.

Hồ Thu và Đôi Mắt của cô cùng một mầu.

Cái ý "cộng thành một", nhờ hai vật cùng bay, một xuống, một lên, làm người đọc liên tưởng tới cảnh người đẹp bay lên trời trong Trăm Năm Cô Đơn, và để tả nó, Garcia Marquez đã phải sử dụng những nấc thang vải, hay một cái thang vải kiểu ốc xoắn, như ông kể lại trong bài trả lời phỏng vấn.

Khi viết tới đoạn Người Đẹp Remedios bay lên trời, tôi loay hoay hoài, làm sao cho người đọc tin nổi đây. Bữa đó, tôi ra vườn và thấy người đàn bà vẫn thường tới lo việc lau chùi, quét dọn; lúc đó bà ta đang phơi những tấm khăn trải giường, và đang năn nỉ gió: "mày đừng thổi bay tứ tung những tấm khăn của tao nhe!", thế là tôi vớ ngay lấy, và sử dụng những tấm khăn đang phất phơ trong gió kia, như là cái thang cuốn, nhờ đó Người Đẹp cùng bay lên trời với chúng. Đó là cách tôi làm cho độc giả tin. Đối với bất cứ một nhà văn, vấn đề là, độ khả tín. Bạn có thể viết bất cứ điều gì, chừng nào còn tin được.

Garcia Marquez trả lời phỏng vấn báo Paris Review về chuyện nghề

Đọc Thơ Đường, sững sờ trước cái đẹp của nó, Hai Lúa lẩn thẩn, cứ nghĩ tới cái đẹp của một thời La Hy, như Lukacs đã từng phán về nó. Thơ Đường, giống như Hùng Ca của Tây Phương, là một Cái Đẹp khép kín, tròn trịa, con người không sao thay đổi chi được, mà chỉ có thể chiêm ngưỡng. Trong Thơ Đường, chưa có cái gọi là tâm thức lưu vong, chỉ xuất hiện sau đó, cùng với tiểu thuyết. Nếu Đỗ Phủ có nói tới cái khổ làm người, ông cũng không hề phát giác ra nỗi cô đơn của nó, một khi những thần thi như Lý Bạch đã nhẩy xuống sông ôm vầng trăng mà... tịch!

Nếu tiểu thuyết là để diễn tả cõi không nhà siêu việt, thì thơ sẽ là căn nhà của một cõi không nhà siêu việt đó!

Trong Lý thuyết về Tiểu thuyết (1916), lưu vong có nghĩa: trục xuất ra khỏi Hy Lạp cổ.

Nếu thế, Thơ, sau Thơ Đường có nghĩa: Bị trục xuất ra khỏi thơ Đường"

Thơ là một cõi lưu vong khi không còn…. thơ Đường"

NQT - tanvien.net

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.