Hôm nay,  

Trở Về Pattivattna...

20/08/200100:00:00(Xem: 4890)
Trong một bài viết trên tạp chí Văn Học (Cali, số tháng Ba/1998), Ngô Thế Vinh nhắc tới André Malraux, sự quan tâm tới Đông Dương, và tác phẩm Con Đường Vương Giả của nhà văn người Pháp này. 'Cũng trên con đường vương giả đó, khi còn là phóng viên chiến tranh theo chân những đơn vị miền Nam, ông Khắc (nhân vật chính trong bài viết mang nhiều tính phóng sự, nhưng với sự thận trọng cố hữu, tác giả nhấn mạnh, khung cảnh nhân vật chỉ là hư cấu), đã từng làm quen khắp vùng cao nguyên, và đồng bằng Cửu Long. Lần trở về Pattivattna, đi giữa mênh mông Những Cánh Đồng Chết, ông Khắc vẫn không sao hiểu được mối tương quan giữa nền văn minh Angkor rực rỡ, nền giáo dục Pháp... đầy tính khai phóng mà sản phẩm của nó lại là những trái đắng dẫn tới một chính sách tự diệt chủng...' Theo ông Khắc, Pol Pot tuy được coi là biểu tượng của tội ác, nhưng tư tưởng chỉ đạo là từ Khieu Samphan, cùng du học Paris, xuất thân đại học Sorbonne. Trong luận án tiến sĩ 1959, ông ta đã đề ra 'cương lĩnh' của Khờ Me Đỏ: Muốn bảo vệ độc lập thực sự về chính trị và kinh tế cho Cam-bốt thì cần phải cô lập quốc gia này và trở về một nền kinh tế nông nghiệp tự túc. Để thực hiện cương lĩnh, chế độ Pol Pot đã trở thành lá cờ đầu, và là tiền thân, precursor, từ hai mươi năm trước, của những cơn khủng hoảng ở cuối thế kỷ, thí dụ như ở Rwanda, theo như nhận xét của Ben Kiernan. Trong cuốn Chế độ Pol Pot: Sắc tộc, Quyền lực, và Diệt chủng tại Căm-bốt dưới thời Khờ Me Đỏ, 1975-79 (nhà xb Yale, tháng Tư/ 96), ông đã làm một nghiên cứu về nguồn gốc Pol Pot, liên hệ Những Cánh Đồng Chết với những cuộc chiến diệt chủng ở khắp nơi trên thế giới.

Theo tác giả, những điểm nóng, trouble-spots, đặc biệt từ năm 1989 trở đi, ngày một gia tăng và trở nên một hiện tượng toàn cầu, biến trái đất thành một biển trầm, ocean of troubles. Hầu hết những xung đột quốc gia chủng tộc này mang tính nhà quê (rural), không hẳn theo nghĩa nông nghiệp, hay không-phải thành thị; nhưng đây là những khu vực nhà quê (rural) chuyển thành dân quê (peasant). Những khu vực đời này tiếp đời khác, con người sở hữu miếng ruộng, mảnh vườn, quần tụ lại thành những làng mạc, tỉnh lỵ, và cùng với nó, là những di sản, vừa tinh thần (đạo đức, niềm tin, phong tục, tập quán...), vừa vật chất (ruộng đất, của cải tiếp nối cho đời con cháu...). Xung đột Sarajevo cũng ở trong trường hợp này, đây là một kiểu chiến tranh làng (village war), tuy không ở vùng quê. Và ngay cả những cuộc xung đột hiện nay tại một số đô thị, vẫn có gốc rễ miệt vườn mà con người đã bỏ lại ở phía sau. Cùng với nó, là nỗi ám ảnh, về một thế giới đã mất, ở những đứa con của đô thị. Còn một từ khác, cho nỗi ám ảnh này: chủ nghĩa quốc gia chủng tộc, tiến trình từ nông dân (peasantry) quần tụ thành quốc gia. Tại Căm-bốt, rõ rệt nhất là thời điểm giữa 1975 và 1979, đã có một toan tính nhằm đảo ngược tiến trình trên, tái lập xã hội nhà quê thành một thể loại quốc gia khác biệt, một quốc gia hợp đồng nông nghiệp mà Ben Kiernan gọi là the indentured agrarian state. Mọi người đều biết những điều rùng rợn đi cùng toan tính đó, tuy nhiên chính thời kỳ này, cho tới nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức, nếu không nói là sai lạc (ill-unsderstood). Cuộc cách mạng Cam-bốt, vào những ngày tháng ghê rợn của nó, vẫn được giải thích bằng chủ nghĩa độc đoán thời Chiến Tranh Lạnh, ý thức hệ CS hay Mác-xít. Địa ngục Căm-bốt là một biến dạng do sự phát triển quốc gia hơn là chủ nghĩa xã hội. Những quan niệm sắc tộc bao trùm lên trên những quan niệm giai cấp, lịch sử đã được làm lại, về dân số, cũng như là về lãnh thổ. Mục tiêu mà Pol Pot mong đạt được là một thuần-máu (pure-blood), hoàn toàn miệt vườn (rural), tự túc tự cường (self-sufficient); đó là quốc gia Khờ Me của ông ta.

Tên thực: Saloth Sar. Thế giới chỉ biết đến tên Pol Pot, vào ngày 14 tháng Tư 1975, khi ông trở thành thủ tướng tân chính quyền cách mạng ở Phnom Penh. Gia đình nông dân (12 mẫu ruộng, sáu con trâu), nhưng dây dưa hoàng tộc; ông có bà con là vũ công, vợ cưng của vua, có người anh làm người hầu trong cung, ông theo anh vào cung khi mới sáu tuổi. Như Kiernan cho thấy, ông ta chưa hề biết làm ruộng, và gần như chẳng biết gì về cuộc sống nhà quê. Pol Pot vào chùa hoàng tộc, học trường Thiên chúa giáo dành riêng cho con ông cháu cha. Toàn thứ dữ: với dân số 7 triệu, và sau gần thế kỷ Pháp thuộc, con số trường trung học ở Căm-bốt thật hiếm hoi, và cao học hoàn toàn không có. Độc lập vào năm 1953, Căm-bốt chỉ có 144 người đậu tú tài. Năm 1948, tới Sài-gòn cùng với một người bạn 20 tuổi, trên đường đi Paris du học, họ cảm thấy như hai con khỉ đen ở trên rừng lạc về thành phố. Gặp Khieu Ponnary tại Paris, vào năm 1956, hai người thành vợ chồng, bà là người đàn bà Căm-bốt đầu tiên có bằng trung học. Học bổng của ông, là để làm nghề vô tuyến điện, nhưng ông thi rớt. Gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp (khu vực Căm-bốt), thành viên lực lượng lưu vong đòi hỏi độc lập. Để tránh bị tầm nã, đám chóp bu thường dùng bút hiệu như là Công nhân Căm-bốt (Cambodian Worker), nhưng của Saloth Sar, thật khác thường: khmaer da'em, (gốc Căm-bốt.) Hai chục năm sau, biểu tượng của lòng trung thành với đất mẹ của ông là những núi sọ người ở Tuol Sleng, trung tâm hủy người.

Tất cả những 'mặt mạnh' này đều được giấu kín, thời kỳ ở Paris, cũng như sau này. Bề ngoài, người ta chỉ thấy đây là một con người dễ thương, nhún nhường, có học, và còn biết khôi hài, rất ít khi tỏ ra giận dữ trước công chúng. Nhưng tác giả cuốn sách cho biết, ông đã từng bẻ giò (theo nghĩa đen), chính vị Phó Thủ Tướng của ông, Vorn Vet. Nói chung, chẳng ai có thể nhận ra một chút điềm triệu nào cho biết sự ghê tởm tha nhân của ông ta. Rồi xẩy ra vụ Malcolm Calwell bị giết.

Vào tháng Chạp 1978 một nhóm quan sát viên độc lập Tây phương được phép viếng Căm-bốt Dân chủ, trong có hai ký giả Mỹ và Calwell, giáo sư đại học London. Đây là những người được nhà nước coi như những cảm tình viên của cách mạng. Quan trọng nhất trong số họ là Calwell. Tương phản với chủ nghĩa Mác-xít qui ước, những nghiên cứu của ông như'Sự Thịnh Vượng của Một số Quốc gia' cổ võ sự phát triển tập trung vào nông nghiệp và tự túc tự cường, như con đường cách mạng thích hợp nhất cho những điều kiện của Thế Giới Thứ Ba. Lúc đó, ông đang viết về đề tài 'Kampuchia: [Một sự] hữu lý cho một Chính sách Đồng quê.'
Tuy bề ngoài làm ra vẻ du lịch, phái đoàn tỏ ra thật bướng bỉnh. Họ tỏ ra không thông, về chính sách nhân quyền của nhà nước... Bất cứ điều gì chúng tôi cố gắng giải thích, họ đều từ chối không chịu hiểu, viên hướng dẫn du lịch nói về phái đoàn. Họ đòi được gặp những người đã bị giết, thành thử làm sao gặp được, và chúng tôi lại cứ phải bịa ra những cớ này cớ nọ. Rồi bóng dáng những đám người vũ trang, và đám trẻ rách rưới bầy ngay ra trước mắt làm cho họ như tìm ra câu trả lời, và trong nhật ký của Calwell đã có những câu chết người.

Như rất nhiều trí thức cùng thời đã từng bất bình với phương pháp phát triển kiểu Liên bang Xô viết, Calwell mong tìm một công thức mới cho vấn đề. Nhưng ông là một con người thành thật. Và những gì chứng kiến tận mắt lại càng khó thuyết phục ông, về một viễn ảnh hồng của chế độ. Nói ngắn gọn, hơn bất cứ một ai, Calwell 'hiểu' phương án của Pol Pot.
Vào cuối chuyến viếng thăm, phái đoàn được phép gặp Nhà Lãnh Đạo, để thực hiện một cuộc phỏng vấn hữu nghị, và chủ yếu là về vấn đề nông nghiệp. Một giờ sáng hôm sau, một kẻ lạ đột nhập căn nhà khách của nhà nước, và bắn chết Calwell. Kẻ sát nhân sau đó bị xử tử ngay lập tức, sau khi đã thú nhận, là người của Việt Nam. Chỉ vài ngày sau đó, Hà-nội mở cuộc tấn công chấm dứt chế độ Khờ Me Đỏ. Kiernan, tác giả cuốn sách chúng ta đang bàn tới, hoàn toàn tỏ ra không tin có bàn tay của Việt Nam trong vụ sát nhân. Sự kiện Calwell 'hiểu' Pol Pot làm cho ông trở thành nguy hiểm, vậy thôi.

Trong bài diễn văn dài ba tiếng đồng hồ, vào ngày 27 tháng Chín, 1977, Pol Pot vinh danh quốc ca Campuchea Dân chủ: Quốc ca hiển nhiên cho thấy yếu tính cuộc chiến đấu của dân tộc. Như chúng ta đều biết, quốc ca của chúng ta không phải do một thi sĩ làm ra. Yếu tính của nó là máu của toàn thể dân tộc... Tiếng gọi của máu đã được lồng vào trong bài quốc ca. Một khối lượng khổng lồ máu đã được Khờ Me Đỏ vung vãi. Kiernan ước tính, chừng 20% dân số trước đó, khoảng 1,5 triệu. Hai mươi năm trước [những chuyện xẩy ra ở] Rwanda, con đường diệt chủng đã được Pol Pot hoạch định. Chẳng có lý do gì để chứng tỏ, tiến trình diệt chủng sẽ chậm lại, nếu không có vụ Việt Nam xâm lược, và chấm dứt nó.

Quốc ca, gần như dòng nào cũng nói đến máu, không chỉ giản dị có nghĩa cụ thể; 'máu' ở đây, trong ý nghĩa sâu thẳm, cơ bản nhất, là tư tưởng, 'gia tài của mẹ', bí mật liên can đến số phần của cả dân tộc, được trao từ đời này qua đời kế tiếp. Nhưng đâu phải 'cả dân tộc' hiểu được 'bí mật' này: Phnom Penh và chính quyền cũ 'ancient régime' đầy rẫy những tên phản bội, Khờ Me gian, những thằng bán nước, cũng như những người ngoại quốc. Chúng phải bị huỷ diệt, và điều này chỉ có thể thực hiện, với sự tiếp tay của nguyên mẫu Khờ Me đích thực.

Mặc dù khẩu hiệu bao gồm nông dân và thợ thuyền, sự thực Cambodia chỉ có nông dân, nhưng nông dân chưa chắc đã thuần chủng Khờ Me: nông dân khá giả, 'no good', bởi vì của cải, vật chất làm họ đi theo kẻ thù. Phải là nông dân khố rách áo ôm, những người nông dân giản dị mang trong họ 'gánh nặng-máu' của linh hồn dân tộc. Nhà ý thức hệ, tư tưởng gia Khờ Me Đỏ, Khieu Samphan đã nói rõ: Đám sinh viên bằng cấp biết gì về những môn khoa học thiên nhiên thực sự" Không... tất cả là theo những sách vở, chuẩn mức ngoại quốc. Do đó vô dụng. Ngược lại, ngay trẻ con nhà quê của chúng ta luôn luôn có một tri thức rất hữu ích. Chúng có thể chỉ cho thấy con bò nào hiền, con nào dữ; chúng có thể trèo lên mình trâu bằng cả hai phía... Chúng là những người chủ thiên nhiên, do thực tế, do thực hành, và đây mới là khoa học thiên nhiên, bởi vì nó gắn liền với thực tại quốc gia, với những tư tưởng về một chủ nghĩa quốc gia, sản xuất, xây dựng, và quốc phòng. Phải bám vào đất, thay vì tiến về thành thị, hãy làm trống mọi thành phố. Hoang tưởng ngoại lai, ám ảnh hướng ngoại, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, tất cả đều phải khu trục, tẩy rửa cho sạch. Với sức người sỏi đá cũng thành cơm, lao động cật lực làm tăng thêm thực phẩm, làm dân tộc trở thành tự túc tự cường, thực sự độc lập. Phải làm sao tiến tới một hệ thống xã hội sạch, một xã hội mới, không còn đĩ điếm, côn đồ, cờ bạc, say sưa... Những phần tử không thể, hoặc không muốn đi theo đường lối dân tộc, là phải quét sạch.

Hiển nhiên, Pol Pot và Khieu Samphan đã bị ảnh hưởng bởi cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Trung Hoa, nhưng, Đám Vệ Binh Đỏ chỉ là đồ gà chết. Sau khi kết liễu tụi đầu tròn như quả trứng của ancient régime, chế độ cũ, đúng ra là phải dọn sạch cỏ và người thành phố. Bây giờ hãy coi, đến lượt Cambodia. Những ngọn lửa sáng rực của chủ nghĩa ái quốc nông dân, đã được Mao thổi bùng lên, cùng với Bước Nhẩy Vọt, lần này lại càng rực rỡ, nóng bỏng hơn, ở những người Khờ Me, một dân tộc nhỏ bé, sức chống trả yếu ớt theo như lịch sử cho thấy, chỉ võ trang bằng lòng thù hận những láng giềng của họ. Vậy mà Cambodia Party tin rằng họ có thể xây dựng nên, một quốc gia xã hội chủ nghĩa-dân giả gương mẫu (rural-socialist state). Lần thứ nhất trong lịch sử hiện đại, một 'autarchy', một quốc gia hoàn toàn tự túc tự cường, là chuyện có thể thực hiện được. Caldwell đã nghiên cứu, trên lý thuyết, một kiểu mẫu như vậy, nhưng ông không làm sao tưởng tượng ra được, tiềm năng khát máu của nó.

Jennifer Tran

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.