Hôm nay,  

Thế Trận Lòng Dân

03/03/200500:00:00(Xem: 6376)
“Thế Trận Lòng Dân”õ là một nhóm từ vừa được ông Phan Văn Khải, thủ tướng CSVN đề cập đến, nhân ông đến chủ tọa hội nghị có tên là 'Đánh giá 15 năm xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành khu vực phòng thủ' vào ngày 28 tháng 2 vừa qua. Tham dự hội nghị này có nhiều quan chức cao cấp trong bộ quốc phòng đến dự như đại tướng Phạm Văn Trà, Thượng tướng Phùng Quang Thanh, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu và các đại diện quân binh chủng cũng như đại diện tỉnh, thành. Theo Thượng tướng Phùng Quang Thanh, hiện đang giữ chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội Cộng sản Việt Nam thì Hội nghị khởi đi từ nghị quyết 2 của bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra vào năm 1990, nhằm vào một số mục tiêu như:

1/Phát huy vai trò xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2/Giữ vững ổn định chính trị.
3/Kịp thời xử lý các tình huống phức tạp xảy ra.
4/Tạo môi trường thuận lợi cho đất nước và từng địa phương thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.

Căn cứ vào những mục tiêu và thời điểm đưa ra chỉ thị thành lập các khu vực phòng thủ, cho thấy là đảng Cộng sản Việt Nam ở trong tâm trạng lo âu khi đối diện với những cuộc cách mạng dân chủ tại các nước Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm 1988 kéo dài đến năm 1991, cách nay đúng 15 năm. Lúc đó, điều mà đảng Cộng sản Việt Nam lo sợ nhất là sự rối loạn chính trị bởi những bài viết đòi dân chủ đa nguyên của các văn nghệ sĩ, trí thức ở trong và ngoài đảng, đồng thời những áp lực thay đổi của thế giới khi Hà Nội phân vân ở vào thế chọn lựa giữa mở cửa áp dụng nền kinh tế thị trường hay tiếp tục đóng cửa theo nền kinh tế chỉ huy, khi theo gót chân Liên Xô áp dụng chính sách đổi mới từ năm 1986. Chính trong bối cảnh này, đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ thị quân đội xây dựng những khu vực phòng thủ, để 'kịp thời xử lý các tình huống phức tạp'. Nghĩa là cách nay 15 năm, họ đã đặt quân đội ở vào tình huống sẵn sàng 'hành động' nếu có những sự biến như trường hợp Đông Âu đã xảy ra.

Mặc dù Việt Nam đã không xảy ra như Đông Âu hay Liên Xô và đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục duy trì quyền lực độc tôn trong suốt 15 năm qua; nhưng có một điều ai cũng thấy rõ là Hà Nội có thể thành công trên mặt 'thế trận', nhưng họ đã không thành công trên mặt 'lòng dân'. Nghĩa là Hà Nội có thể đạt kết quả nào đó trong việc dùng công an và quân đội để ngăn chận những cuộc chống đối của quần chúng; nhưng họ đã không thể nào chinh phục được lòng người, khi mà càng ngày đảng càng xa rời dân như sự thú nhận của các cấp lãnh đạo. Ngay cả trong việc xây dựng thế trận, không phải đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn đạt kết quả mong muốn. Theo Thượng tướng Phùng Quang Thanh thì kết quả xây dựng thế trận ở một số khu vực phòng thủ trong 15 năm qua, đã không có sự đồng bộ, đạt kết quả rất thấp so với yêu cầu đưa ra và nhất là khả năng tự lực và độc lập tác chiến của nhiều khu vực phòng thủ còn rất hạn chế.

Với những kết quả không mấy lạc quan nói trên, ông Phan Văn Khải trong phần nói chuyện, thay vì 'ca ngợi' các nỗ lực của quân đội, công an và các tỉnh, thành trong việc xây dựng khu vực phòng thủ trong 15 năm qua, đã cho rằng việc nắm 'lòng người' phải là định hướng xây dựng khu vực phòng thủ trong thời gian tới. Ông Khải nói rằng, vấn đề xây dựng thế trận trong thời bình phải là làm sao cho người dân thấy rõ sự lớn mạnh của phát triển - kinh tế, với hệ thống chính trị ổn định và nền tảng văn hóa - xã hội phong phú. Qua phát biểu của ông Khải cho thấy là đảng Cộng sản Việt Nam rất quan tâm vào 'lòng người', dùng nó như một yếu tố then chốt trong vấn đề xây dựng khu vực phòng thủ trong thời gian tới, hoàn toàn khác với trước đây coi nặng về thế trận.

Tuy ông Khải đã nhìn ra mấu chốt của vấn đề; nhưng với bản chất độc tài độc tôn của giới lãnh đạo đảng Cộng sản, không dễ gì ông Khải có thể huy động lòng người trong những công việc xây dựng khu vực phòng thủ như đã làm trong 15 năm qua. Ngày nào mà Hà Nội chưa chứng tỏ thiện chí xây dựng dân chủ, tôn trọng các quyền tự do của người dân, thì ngày đó, mọi nỗ lực phát triển kinh tế hay chấn hưng văn hóa - xã hội chỉ là việc làm lấy có để tuyên truyền mà thôi. Cứ nhìn vào một số thảo luận của quốc hội và các cơ quan chính quyền Hà Nội trong việc giải quyết tình hình xuống cấp một cách thê thảm của nền giáo dục, hành chánh, y tế, môi trường, luật lệ trong vài năm qua, cho chúng ta thấy là đảng Cộng sản Việt Nam đã không thực sự quyết tâm giải quyết theo đúng nguyện vọng dân chúng. Những thảo luận vẫn còn bị vướng mắc vào cơ chế độc tài cũ và không dám thay đổi mạnh vì sợ đảng mất ảnh hưởng hay mất quyền kiểm soát.

Tóm lại, cách nay 15 năm, trong bối cảnh tan rã của khối cộng sản Quốc Tế, đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thành lập các khu vực phòng thủ ở trong dân, với chủ yếu là dùng sức mạnh quân đội, công an để trấn áp những ai dám chống lại đảng, tạo ra những rối loạn chính trị. Ngày hôm nay, tuy đảng Cộng sản Việt Nam vẫn coi quân đội, công an là lực lượng nòng cốt để làm trụ cột trong các khu vực phòng thủ; nhưng họ đã nhìn ra rằng 'lòng dân' mới là yếu tố then chốt. Đây là xu thế tất yếu của sự hình thành xã hội công dân trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Những lên tiếng gần đây của Giáo sư Phan Đình Diệu, ông Phương Nam, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Nhà Văn Hoàng Tiến, Giáo sư Nguyễn Thanh Giang về nhu cầu xây dựng xã hội đa nguyên tại Việt Nam chính là một biểu hiện của lòng dân. Ông Khải và đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ sao"

Lý Thái Hùng
March 2 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.