Hôm nay,  

Thế Trận Lòng Dân

03/03/200500:00:00(Xem: 5533)
“Thế Trận Lòng Dân”õ là một nhóm từ vừa được ông Phan Văn Khải, thủ tướng CSVN đề cập đến, nhân ông đến chủ tọa hội nghị có tên là 'Đánh giá 15 năm xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành khu vực phòng thủ' vào ngày 28 tháng 2 vừa qua. Tham dự hội nghị này có nhiều quan chức cao cấp trong bộ quốc phòng đến dự như đại tướng Phạm Văn Trà, Thượng tướng Phùng Quang Thanh, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu và các đại diện quân binh chủng cũng như đại diện tỉnh, thành. Theo Thượng tướng Phùng Quang Thanh, hiện đang giữ chức vụ Tổng tham mưu trưởng quân đội Cộng sản Việt Nam thì Hội nghị khởi đi từ nghị quyết 2 của bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra vào năm 1990, nhằm vào một số mục tiêu như:

1/Phát huy vai trò xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
2/Giữ vững ổn định chính trị.
3/Kịp thời xử lý các tình huống phức tạp xảy ra.
4/Tạo môi trường thuận lợi cho đất nước và từng địa phương thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới.

Căn cứ vào những mục tiêu và thời điểm đưa ra chỉ thị thành lập các khu vực phòng thủ, cho thấy là đảng Cộng sản Việt Nam ở trong tâm trạng lo âu khi đối diện với những cuộc cách mạng dân chủ tại các nước Cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô vào những năm 1988 kéo dài đến năm 1991, cách nay đúng 15 năm. Lúc đó, điều mà đảng Cộng sản Việt Nam lo sợ nhất là sự rối loạn chính trị bởi những bài viết đòi dân chủ đa nguyên của các văn nghệ sĩ, trí thức ở trong và ngoài đảng, đồng thời những áp lực thay đổi của thế giới khi Hà Nội phân vân ở vào thế chọn lựa giữa mở cửa áp dụng nền kinh tế thị trường hay tiếp tục đóng cửa theo nền kinh tế chỉ huy, khi theo gót chân Liên Xô áp dụng chính sách đổi mới từ năm 1986. Chính trong bối cảnh này, đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ thị quân đội xây dựng những khu vực phòng thủ, để 'kịp thời xử lý các tình huống phức tạp'. Nghĩa là cách nay 15 năm, họ đã đặt quân đội ở vào tình huống sẵn sàng 'hành động' nếu có những sự biến như trường hợp Đông Âu đã xảy ra.

Mặc dù Việt Nam đã không xảy ra như Đông Âu hay Liên Xô và đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục duy trì quyền lực độc tôn trong suốt 15 năm qua; nhưng có một điều ai cũng thấy rõ là Hà Nội có thể thành công trên mặt 'thế trận', nhưng họ đã không thành công trên mặt 'lòng dân'. Nghĩa là Hà Nội có thể đạt kết quả nào đó trong việc dùng công an và quân đội để ngăn chận những cuộc chống đối của quần chúng; nhưng họ đã không thể nào chinh phục được lòng người, khi mà càng ngày đảng càng xa rời dân như sự thú nhận của các cấp lãnh đạo. Ngay cả trong việc xây dựng thế trận, không phải đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn đạt kết quả mong muốn. Theo Thượng tướng Phùng Quang Thanh thì kết quả xây dựng thế trận ở một số khu vực phòng thủ trong 15 năm qua, đã không có sự đồng bộ, đạt kết quả rất thấp so với yêu cầu đưa ra và nhất là khả năng tự lực và độc lập tác chiến của nhiều khu vực phòng thủ còn rất hạn chế.

Với những kết quả không mấy lạc quan nói trên, ông Phan Văn Khải trong phần nói chuyện, thay vì 'ca ngợi' các nỗ lực của quân đội, công an và các tỉnh, thành trong việc xây dựng khu vực phòng thủ trong 15 năm qua, đã cho rằng việc nắm 'lòng người' phải là định hướng xây dựng khu vực phòng thủ trong thời gian tới. Ông Khải nói rằng, vấn đề xây dựng thế trận trong thời bình phải là làm sao cho người dân thấy rõ sự lớn mạnh của phát triển - kinh tế, với hệ thống chính trị ổn định và nền tảng văn hóa - xã hội phong phú. Qua phát biểu của ông Khải cho thấy là đảng Cộng sản Việt Nam rất quan tâm vào 'lòng người', dùng nó như một yếu tố then chốt trong vấn đề xây dựng khu vực phòng thủ trong thời gian tới, hoàn toàn khác với trước đây coi nặng về thế trận.

Tuy ông Khải đã nhìn ra mấu chốt của vấn đề; nhưng với bản chất độc tài độc tôn của giới lãnh đạo đảng Cộng sản, không dễ gì ông Khải có thể huy động lòng người trong những công việc xây dựng khu vực phòng thủ như đã làm trong 15 năm qua. Ngày nào mà Hà Nội chưa chứng tỏ thiện chí xây dựng dân chủ, tôn trọng các quyền tự do của người dân, thì ngày đó, mọi nỗ lực phát triển kinh tế hay chấn hưng văn hóa - xã hội chỉ là việc làm lấy có để tuyên truyền mà thôi. Cứ nhìn vào một số thảo luận của quốc hội và các cơ quan chính quyền Hà Nội trong việc giải quyết tình hình xuống cấp một cách thê thảm của nền giáo dục, hành chánh, y tế, môi trường, luật lệ trong vài năm qua, cho chúng ta thấy là đảng Cộng sản Việt Nam đã không thực sự quyết tâm giải quyết theo đúng nguyện vọng dân chúng. Những thảo luận vẫn còn bị vướng mắc vào cơ chế độc tài cũ và không dám thay đổi mạnh vì sợ đảng mất ảnh hưởng hay mất quyền kiểm soát.

Tóm lại, cách nay 15 năm, trong bối cảnh tan rã của khối cộng sản Quốc Tế, đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thành lập các khu vực phòng thủ ở trong dân, với chủ yếu là dùng sức mạnh quân đội, công an để trấn áp những ai dám chống lại đảng, tạo ra những rối loạn chính trị. Ngày hôm nay, tuy đảng Cộng sản Việt Nam vẫn coi quân đội, công an là lực lượng nòng cốt để làm trụ cột trong các khu vực phòng thủ; nhưng họ đã nhìn ra rằng 'lòng dân' mới là yếu tố then chốt. Đây là xu thế tất yếu của sự hình thành xã hội công dân trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Những lên tiếng gần đây của Giáo sư Phan Đình Diệu, ông Phương Nam, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Nhà Văn Hoàng Tiến, Giáo sư Nguyễn Thanh Giang về nhu cầu xây dựng xã hội đa nguyên tại Việt Nam chính là một biểu hiện của lòng dân. Ông Khải và đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ sao"

Lý Thái Hùng
March 2 2005

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.