Hôm nay,  

Trúc Tím, Hoa Vàng

28/02/200500:00:00(Xem: 6003)
Trong thi ca Đại- thừa có hai câu thơ diễn tả tuyệt vời chân- như, bản- thể qua bức tranh hài hòa mầu sắc đến gần như toàn hảo:
“Túy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân”
Vô thỉ vô chung, không đi cũng chẳng đến thì nơi đây trúc tím hoa vàng chính là chân như; nơi kia mây trắng trăng tỏ khác gì bản thể; tự nơi tâm trong suốt này, đâu chẳng là trúc tím hoa vàng, đâu chẳng là mây trắng trăng tỏ" Đó chính là tâm đối cảnh mà không dính cảnh thì tâm, cảnh, hiện toàn chân.
Buổi đầu, hành giả tọa thiền còn phải dùng cái dụng- của- trí để nhận biết mặt mũi của vọng; nhận ra vọng thì tâm buông; vọng buông thì tâm tịnh; tâm tịnh rồi thì vạn hữu với ta là một, đâu còn lăng kính phân biệt nào để trúc tím hoa vàng là đẹp xấu hay héo tươi, mà nhìn trúc tím chỉ là trúc tím, nhìn hoa vàng chỉ là hoa vàng; chỉ là thế, và chỉ thế thôi, nguyên thủy, trong suốt tới mức tâm cảnh là một. Đã là một thì cũng không còn thời gian, không gian nữa.
Hành giả chuyên cần có thể đạt được điều đó, nhưng giữ được trạng thái đó lâu hay mau mới là công lực, bởi vì vọng luôn đầy ắp trong tâm như bọn trộm đông đảo luôn rình rập ngoài cửa, một chút chểnh mảng là chúng lẻn vào đánh cắp những gì quý giá! Phút mất chánh niệm là phút vọng khởi lên, bị trộm xô ngã rồi mới nhận ra sáu cánh cửa lục-căn bỏ ngỏ thì còn chi bản thể chân như!
Đó là lúc tôi ngồi thiền đêm qua, trăng mười sáu vằng vặc bên song đã thừa phút mơ màng kéo tôi về tuốt đêm trăng quê nội. Ngày về quê giã từ ông nội để xuôi Nam, tôi mới mười tuổi, biết gì đâu dáng núi Ba-Vì tắm đẫm hồn thơ Quang Dũng, biết gì đâu ngã ba sông Đáy u hoài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Nếu thuở ấu thơ xưa tôi biết đất quê nội chính là chiếc nôi hồng chở đầy cung bậc, vần điệu của thơ bất tử, của nhạc ngàn đời đó, thì không biết tâm hồn tôi có thay đổi gì không. Chỉ biết quê nội lúc nào cũng ở trong tôi, ở phần ấm áp nhất của trái tim, nơi góp nhặt, chứa đựng đủ loại cảm thọ rắc rối!
Trên bờ đê sông Hồng dẫn về thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, tôi chỉ thấy mắt ông nội đỏ hoe, cha tôi thì vội vã nắm tay chị em tôi, nghẹn ngào quay đi. Khi chúng tôi gào lên “Nội ơi, nội !” thì cha mẹ tôi không còn kìm giữ được nữa, cùng òa lên, vừa khóc, vừa chạy. Dạo đó tôi không hiểu, vì sao mình không muốn xa nội mà phải xa " Có ai bắt buộc đâu " Quê mình, nhà mình ở miền Bắc, sao lại bỏ để vào miền Nam " v..v..
Thời gian đầu, sau cái ngày tháng ấy của năm 1954, hầu như không lúc nào nghĩ về quê nội mà tôi không khóc. Mà có phải chúng tôi được ở quê nhiều đâu, chỉ mùa hè ông tôi cho người ra Hà Nội đón, mấy chị em tôi mới được về quê chơi dăm bữa, nửa tháng. Ấy thế mà tôi nhớ từng hàng cau, từng gốc bưởi, gốc lựu, gốc na, bể nước mưa, chuồng trâu bò, gà vịt, đàn ngỗng ồn ào, vào cổng sau là đi qua bếp rơm, chuồng lợn, vào cổng trước là gặp ngay đền thờ Đức Thánh Trần, dãy nhà ngang chứa thóc v…v…
Ngày được tin ông nội bị Cộng Sản Việt Nam đấu tố đến chết, sự bi thương đã quá sức chịu đựng của tôi. Tôi ốm liệt giường một tuần, trong những cơn mê sảng chỉ thấy hình ảnh ông nội quằn quại dưới đòn thù cuồng tín vô minh. Từ đó, kỷ niệm về quê nội càng hằn sâu trong lòng tôi với niềm mơ ước một ngày được trở lại, được bắc chiếc chõng tre dưới gốc cây đào trong sân gạch rộng mênh mông một đêm trăng sáng, chờ rổ khoai bác Cả đang lùi thơm phức trong bếp tro, nghe ông nội giảng nghĩa câu “Nhân tri sơ, tính bản thiện”. Nhưng niềm mơ ước đó đã không bao giờ thành sự thật. Toàn bộ nhà cửa, ruộng nương, trang trại của ông nội đã được nhanh chóng chia vụn ra cho những người trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào việc thảm sát ông.
Cái tin này, mấy năm sau, do chú tôi lưu lạc ngoài Trung mãi, khi vào Nam mới cho biết. Lạ thay, cái tin ấy không hề làm phai mờ một hình ảnh nào mà tôi đã ghi khắc. Hai bể nước mưa vẫn trong vắt, ngọt lịm, hàng cau vẫn thẳng tắp, đùa với mây xanh, dãy nhà ngang vẫn chất đầy thóc lúa, những đụn rơm vẫn cao ngất góc sân, đền thờ Đức Thánh Trần vẫn phảng phất uy linh, mười ba bực thềm gạch dẫn lên ngôi nhà chính vẫn in đầy dấu chân chúng tôi nhảy nhót, chuồng trâu chuồng bò vẫn đậm nét câu chuyện đầu năm ông tôi thường kể khi bà nội còn sống.

Cứ trưa mồng một Tết, sau khi cúng bái, bà nội tôi lại bưng một mâm cỗ đặt trước chuồng trâu bò rồi ngồi thụp xuống dỗ dành: “Ông Trâu ông Bò ơi, năm hết tết đến, xin các ông ăn cho chúng tôi một miếng. Suốt năm các ông đã khó nhọc giúp chúng tôi làm nên hạt lúa. Các ông làm thật mà ăn giả, chẳng quản công lao, chúng tôi biết lấy gì đền đáp”. Và mâm cỗ đầu năm cứ để trước chuồng trâu bò như thế cho đến chiều mới mang sang chuồng lợn. Gia đình lợn không làm khách như ông Trâu ông Bò nên chỉ một loáng là mâm cỗ đã được thanh toán gọn ghẽ, dù bà nội tôi không ngồi đó để dỗ dành, mời mọc…..
Bên cạnh những ngọt ngào không hề mất ấy là niềm đau đớn chẳng thể nguôi ngoai. Rõ ràng là một tâm trạng mâu thuẫn, phức tạp, nhưng tôi chưa từng phân tách nó cho đến sau 30 tháng tư năm 1975, người anh họ gửi sang cho tôi một tấm hình chụp con đường đất ngoằn ngoèo với hai hàng trúc xiêu vẹo. Cuối con đường đất đó là một bức tường gạch loang lổ. Mặt sau tấm hình anh tôi ghi: “Toàn bộ dinh cơ của nội chỉ còn bức tường gạch này thôi. Em có nhận ra đây là cổng trước, vào đền Đức Thánh Trần không"” Tôi đã ngồi lặng, nhìn bức tường trong hình, đau đớn như đang nhìn ông nội trong những phút cuối đời đầy nhục nhã, uất ức. Chính bức hình này mới thực sự kéo tôi ra khỏi tâm trạng mơ hồ để chấp nhận thực tế là quê nội tuy vẫn đó nhưng thật ra không còn nữa, không còn gì nữa!
Qua những lần điện đàm, anh họ tôi còn cho biết thêm, sau khi Cộng Sản bức tử ông nội, họ lập tức đuổi anh ra khỏi nhà. Nơi trú ngụ của anh khi đó là căn chòi ngoài trại, nơi khi xưa vẫn dùng để nông cụ. Vì anh còn nhỏ quá nên mỗi sáng, anh được phép cán bộ cho bưng nồi về nhà cũ, chờ người Cộng Sản đang quản lý nhà mình, phát cho lon gạo nhỏ lấy từ vựa thóc của nhà! Lon gạo không đủ no, anh tôi phải ra đồng mót khoai, mót sắn. Ngày đầu anh chỉ mót được dăm củ khoai sùng bé bằng hai ngón tay. Nhưng hôm sau, khi anh ra đồng, dân làng len lén nhìn anh. Anh nghe thấy có người thì thầm: “Tội nghiệp, cháu cụ Tổng đấy”. Anh chẳng cần họ tội nghiệp, anh chỉ cần mót được dăm củ khoai, vài cọng lúa để tối nay no lòng. Lạ chưa, những ngày sau đó anh rất may mắn. Sao có những củ khoai to thế này, những nhánh lúa chĩu nặng thế kia mà họ bỏ sót " Anh mừng rỡ nhặt vào rổ. Những hôm sau, rồi những hôm sau nữa vẫn thế, anh mót dễ dàng được cả rổ khoai sắn. Những người nông dân đi hái hoa mầu thường nhìn anh, kín đáo mỉm cười. Và anh đã hiểu. Thì ra, không phải những nông dân kia bỏ sót hoa mầu mà họ đã cố tình chừa lại chút đỉnh cho thằng bé tội nghiệp, cháu cụ Tổng, dù họ cũng nghèo đói. Anh tôi đã bật khóc khi nhận ra như thế. Giữa những tang thương đổ nát, vẫn còn một điều thấp thoáng nhưng không biến, không mất. Đó là Tình Người.
Đêm qua, trăng mười sáu vừa đưa tôi về quê cũ với những đêm trăng thơm phức khoai lùi, ngạt ngào hương bưởi hương cau và say sưa cổ tích Tấm Cám. Tôi đã lạc lối thiền, bèn nhắm mắt, tìm về hơi thở. Thở vào, tôi biết mình đang thở vào. Thở ra, tôi biết mình đang thở ra. Tôi nắm bắt hơi thở và làm chủ nó. Thở vào, bụng tôi nhè nhẹ thót vào. Thở ra, bụng tôi nhè nhẹ dãn ra. Tôi theo dõi hơi thở và đặt chú tâm nơi bụng, cốt không cho ý luẩn quẩn trên đầu để không suy nghĩ, không còn niệm phân biệt nữa. Cứ thế, trăng cùng với tôi, thở nhịp nhàng, khoan thai. Trăng thở và tôi thở. Trăng là tôi và tôi là trăng…..
Trong tĩnh lặng, dưới ánh trăng, quê nội bỗng hiện ra. Không còn nữa, oan cừu thù hận mà chỉ là bát ngát trúc tím hoa vàng. Và bạn ơi, bạn biết không, tôi vừa bàng hoàng nhìn thấy tôi ngay nơi trúc ấy, ngay nơi hoa kia.
Hóa ra, TÔI CHƯA TỪNG MẤT GÌ, BỞI TÔI CHƯA HỀ THẬT CÓ.
Muốn kiểm chứng lời tôi, bạn hãy ngồi xuống đi, khoanh chân và khép hờ đôi mắt. Khi cảm thấy thoải mái, hãy theo dõi hơi thở, hãy nắm bắt hơi thở và làm chủ nó, bạn sẽ nhận ra sự mầu nhiệm là, có bao giờ ta ngưng thở đâu (cho đến khi ta ….tắt thở), vậy mà, rất ít khi ta nhận ra là ta đang thở. Ta thờ ơ, lãnh đạm với hơi thở của ta quá, trong khi, nếu theo dõi nó, làm chủ nó, sẽ có lúc bạn bất chợt mỉm cười mà không hay, vì đó chính là lúc:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân.
Diệu Trân (Đêm trăng 16 tháng Giêng năm Ất Dậu)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện hàng loạt chuyến công du quốc tế. Đằng sau những chuyến đi đó là các thỏa thuận trị giá hàng tỷ MK, những buổi đón tiếp hoàng gia trang trọng, xa hoa, hay “nỗ lực tìm kiếm hòa bình” giữa khủng hoảng và xung đột. Trong khi Trump công du đến các quốc gia khác, Tòa Bạch Ốc cũng liên tục mở cửa đón tiếp các lãnh đạo từ khắp thế giới. Từ Tổng thống El Salvador Nayib Bukele (thăm Washington vào tháng 4) đến Quốc vương Jordan Abdullah II (đến Hoa Kỳ vào tháng 2), và gần đây nhất là hội nghị thượng đỉnh giữa Trump và Putin diễn ra tại Alaska.
Trong hơn hai thế kỷ qua, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã “trưởng thành” cùng đất nước thông qua các tu chính án. Những sửa đổi mang tính lịch sử như Tu Chính Án 13 (xóa bỏ chế độ nô lệ) hay Tu Chính Án 19 (mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ) là minh chứng rõ ràng cho tinh thần ấy: Hiến Pháp không phải là những điều bất biến, mà là một công trình luôn phát triển cùng thời đại.
Năm 1978, Hồng y Karol Józef Wojtyla, Tổng Giám mục Kraków của Ba Lan, được bầu làm giáo hoàng (John Paul II, Gioan Phaolô II). Năm 1980, thi sĩ Czesław Miłosz, giáo sư gốc Ba Lan tại Đại học Berkeley, được trao giải Nobel Văn chương, là người đầu tiên của trường nhận giải Nobel không phải trong lãnh vực khoa học và ông có những quan tâm đến tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Từ đó tôi chú ý đến đất nước Ba Lan nhiều hơn, nhất là chuyến trở về quê hương lần đầu tiên của Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1979.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, vợ chồng sắp bay sang Ý dự đám cưới con gái vào ngày 12. Sáng ấy, ông vẫn dậy 4 giờ rưỡi, tắm, hát điệu music-hall, mặc bộ pin-stripe xanh đậm – ông bắt nhân viên an ninh mang áo cà vạt mỗi ngày; nhiều người khó, ông tự móc tiền mua cho. 8 giờ 15 như lệ, gọi cho Susan. Nửa giờ sau, Susan đang nói chuyện với con thì đầu dây khác reo: “Mở tivi lên!” Tháp phía bắc bốc khói. Bà gọi văn phòng chồng; đồng nghiệp bảo: “Rick đang ngoài hành lang, cầm loa, đưa mọi người ra.” Ở Florida, Dan Hill xem tivi thì điện thoại reo: Rick gọi từ di động. “Tôi đang sơ tán.” Hill nghe ông dùng loa, giọng bình tĩnh, rồi bật hát bài “Men of Harlech”: “Đứng vững, người Cornwall ơi… đừng bao giờ chịu khuất.” Rick nói thêm: Ban quản trị toà nhà bảo ở yên. “Tôi bảo hắn cút đi,” Rick nói. “Những tầng trên điểm trúng sẽ sập, kéo cả nhà xuống. Tôi đưa người của tôi ra.” Vài phút sau, máy bay thứ hai ngoặt trái lao vào tháp nam. Susan bấm gọi; không ai bắt máy...
Về mặt pháp lý và hình sự ở châu Âu, hiện nay không có một Tòa án Hình sự duy nhất nào có thẩm quyền chung cho toàn châu Âu như kiểu “Tòa án Tối cao Hình sự châu Âu”. Tuy nhiên, có một số cơ quan và tòa án có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định có liên quan đến hình sự chung cho châu Âu. European Union Agency for Criminal Justice Cooperation, EUROJUST không phải là tòa án mà là cơ quan hợp tác tư pháp hình sự của Liên minh châu Âu, có chức năng hỗ trợ và điều phối hợp tác điều tra và truy tố hình sự xuyên biên giới giữa các quốc gia thành viên. Các tội phạm xuyên quốc gia là khủng bố, buôn ma túy, rửa tiền, tội phạm mạng... Cơ quan này có trụ sở đặt tại The Hague, Hà Lan.
Năm 1969 ông Hồ qua đời, đúng vào Ngày Quốc khánh 2/9 nên lãnh đạo Hà Nội đã “cho ông sống thêm một ngày” vì thế trên các văn kiện của Đảng Lao động lúc bấy giờ, ông Hồ được xem như chính thức sinh ngày 19/5/1890, mất ngày 3/9/1969, hưởng thọ 79 tuổi.
LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao. Cùng thời điển, Nguyễn Phan Quế Mai, ngòi bút Việt nổi tiếng đã đăng trên FB (18/8): “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).” Những sự việc nối tiếp ấy đã dấy lên nhiều thư từ bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa của 19/8 và ngày 2/9 đối với cộng đồng tị nạn. Bài viết dưới đây của tg Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này.
Trong thời gian qua, dư luận chú ý nhiều đến cuộc đối đầu giữa Tòa Bạch Ốc và các đại học danh tiếng như Columbia hay Harvard. Tuy nhiên, cuộc tranh chấp này đã vô tình che lấp vấn đề sâu rộng và nghiêm trọng hơn: chính quyền Trump cùng nhiều tiểu bang đang tiến hành một chiến dịch nhắm vào hệ thống giáo dục công lập K-12
Có lẽ nếu lịch sử, nói chung, có bất kỳ một huyền thoại thuần khiết nào, thì sự vươn mình trỗi dậy của người Mỹ gốc Phi để bước ra khỏi địa ngục, chính là sự thuần khiết nhất. Bởi vì, huyền thoại của họ được viết từ chính nhận thức của lương tri và sức mạnh của trí tuệ. Huyền thoại của họ là ánh sáng phát ra từ bóng tối.
Trong thời đại của những dòng tin tức u ám và bầu không khí chính trị đầy bất an, hành động tập thể và tổ chức vận động ở cấp cơ sở vẫn lặng lẽ tỏa sáng như ánh lửa ấm giữa đêm dài, không chỉ giúp xua tan tuyệt vọng mà còn khơi lên hy vọng thay đổi và tiến bộ. Chính ánh lửa đó đã thôi thúc những người bất đồng với Tổng thống Donald Trump xuống đường. Các cuộc biểu tình trong suốt mùa xuân và mùa hè đã cho thấy sự phản đối mạnh mẽ (không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà còn lan ra toàn thế giới) đối với nghị trình của chính quyền Trump, đặc biệt là các nỗ lực nhằm thâu tóm quyền lực và phá hoại các cơ quan và dịch vụ công trọng yếu. Hậu quả từ các chính sách ấy chủ yếu đè nặng lên các cộng đồng vốn đã chịu nhiều thiệt thòi: di dân, người nghèo, người da màu, phụ nữ và cộng đồng LGBTQIA+.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.