Hôm nay,  

Trúc Tím, Hoa Vàng

28/02/200500:00:00(Xem: 5991)
Trong thi ca Đại- thừa có hai câu thơ diễn tả tuyệt vời chân- như, bản- thể qua bức tranh hài hòa mầu sắc đến gần như toàn hảo:
“Túy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân”
Vô thỉ vô chung, không đi cũng chẳng đến thì nơi đây trúc tím hoa vàng chính là chân như; nơi kia mây trắng trăng tỏ khác gì bản thể; tự nơi tâm trong suốt này, đâu chẳng là trúc tím hoa vàng, đâu chẳng là mây trắng trăng tỏ" Đó chính là tâm đối cảnh mà không dính cảnh thì tâm, cảnh, hiện toàn chân.
Buổi đầu, hành giả tọa thiền còn phải dùng cái dụng- của- trí để nhận biết mặt mũi của vọng; nhận ra vọng thì tâm buông; vọng buông thì tâm tịnh; tâm tịnh rồi thì vạn hữu với ta là một, đâu còn lăng kính phân biệt nào để trúc tím hoa vàng là đẹp xấu hay héo tươi, mà nhìn trúc tím chỉ là trúc tím, nhìn hoa vàng chỉ là hoa vàng; chỉ là thế, và chỉ thế thôi, nguyên thủy, trong suốt tới mức tâm cảnh là một. Đã là một thì cũng không còn thời gian, không gian nữa.
Hành giả chuyên cần có thể đạt được điều đó, nhưng giữ được trạng thái đó lâu hay mau mới là công lực, bởi vì vọng luôn đầy ắp trong tâm như bọn trộm đông đảo luôn rình rập ngoài cửa, một chút chểnh mảng là chúng lẻn vào đánh cắp những gì quý giá! Phút mất chánh niệm là phút vọng khởi lên, bị trộm xô ngã rồi mới nhận ra sáu cánh cửa lục-căn bỏ ngỏ thì còn chi bản thể chân như!
Đó là lúc tôi ngồi thiền đêm qua, trăng mười sáu vằng vặc bên song đã thừa phút mơ màng kéo tôi về tuốt đêm trăng quê nội. Ngày về quê giã từ ông nội để xuôi Nam, tôi mới mười tuổi, biết gì đâu dáng núi Ba-Vì tắm đẫm hồn thơ Quang Dũng, biết gì đâu ngã ba sông Đáy u hoài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Nếu thuở ấu thơ xưa tôi biết đất quê nội chính là chiếc nôi hồng chở đầy cung bậc, vần điệu của thơ bất tử, của nhạc ngàn đời đó, thì không biết tâm hồn tôi có thay đổi gì không. Chỉ biết quê nội lúc nào cũng ở trong tôi, ở phần ấm áp nhất của trái tim, nơi góp nhặt, chứa đựng đủ loại cảm thọ rắc rối!
Trên bờ đê sông Hồng dẫn về thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, tôi chỉ thấy mắt ông nội đỏ hoe, cha tôi thì vội vã nắm tay chị em tôi, nghẹn ngào quay đi. Khi chúng tôi gào lên “Nội ơi, nội !” thì cha mẹ tôi không còn kìm giữ được nữa, cùng òa lên, vừa khóc, vừa chạy. Dạo đó tôi không hiểu, vì sao mình không muốn xa nội mà phải xa " Có ai bắt buộc đâu " Quê mình, nhà mình ở miền Bắc, sao lại bỏ để vào miền Nam " v..v..
Thời gian đầu, sau cái ngày tháng ấy của năm 1954, hầu như không lúc nào nghĩ về quê nội mà tôi không khóc. Mà có phải chúng tôi được ở quê nhiều đâu, chỉ mùa hè ông tôi cho người ra Hà Nội đón, mấy chị em tôi mới được về quê chơi dăm bữa, nửa tháng. Ấy thế mà tôi nhớ từng hàng cau, từng gốc bưởi, gốc lựu, gốc na, bể nước mưa, chuồng trâu bò, gà vịt, đàn ngỗng ồn ào, vào cổng sau là đi qua bếp rơm, chuồng lợn, vào cổng trước là gặp ngay đền thờ Đức Thánh Trần, dãy nhà ngang chứa thóc v…v…
Ngày được tin ông nội bị Cộng Sản Việt Nam đấu tố đến chết, sự bi thương đã quá sức chịu đựng của tôi. Tôi ốm liệt giường một tuần, trong những cơn mê sảng chỉ thấy hình ảnh ông nội quằn quại dưới đòn thù cuồng tín vô minh. Từ đó, kỷ niệm về quê nội càng hằn sâu trong lòng tôi với niềm mơ ước một ngày được trở lại, được bắc chiếc chõng tre dưới gốc cây đào trong sân gạch rộng mênh mông một đêm trăng sáng, chờ rổ khoai bác Cả đang lùi thơm phức trong bếp tro, nghe ông nội giảng nghĩa câu “Nhân tri sơ, tính bản thiện”. Nhưng niềm mơ ước đó đã không bao giờ thành sự thật. Toàn bộ nhà cửa, ruộng nương, trang trại của ông nội đã được nhanh chóng chia vụn ra cho những người trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào việc thảm sát ông.
Cái tin này, mấy năm sau, do chú tôi lưu lạc ngoài Trung mãi, khi vào Nam mới cho biết. Lạ thay, cái tin ấy không hề làm phai mờ một hình ảnh nào mà tôi đã ghi khắc. Hai bể nước mưa vẫn trong vắt, ngọt lịm, hàng cau vẫn thẳng tắp, đùa với mây xanh, dãy nhà ngang vẫn chất đầy thóc lúa, những đụn rơm vẫn cao ngất góc sân, đền thờ Đức Thánh Trần vẫn phảng phất uy linh, mười ba bực thềm gạch dẫn lên ngôi nhà chính vẫn in đầy dấu chân chúng tôi nhảy nhót, chuồng trâu chuồng bò vẫn đậm nét câu chuyện đầu năm ông tôi thường kể khi bà nội còn sống.

Cứ trưa mồng một Tết, sau khi cúng bái, bà nội tôi lại bưng một mâm cỗ đặt trước chuồng trâu bò rồi ngồi thụp xuống dỗ dành: “Ông Trâu ông Bò ơi, năm hết tết đến, xin các ông ăn cho chúng tôi một miếng. Suốt năm các ông đã khó nhọc giúp chúng tôi làm nên hạt lúa. Các ông làm thật mà ăn giả, chẳng quản công lao, chúng tôi biết lấy gì đền đáp”. Và mâm cỗ đầu năm cứ để trước chuồng trâu bò như thế cho đến chiều mới mang sang chuồng lợn. Gia đình lợn không làm khách như ông Trâu ông Bò nên chỉ một loáng là mâm cỗ đã được thanh toán gọn ghẽ, dù bà nội tôi không ngồi đó để dỗ dành, mời mọc…..
Bên cạnh những ngọt ngào không hề mất ấy là niềm đau đớn chẳng thể nguôi ngoai. Rõ ràng là một tâm trạng mâu thuẫn, phức tạp, nhưng tôi chưa từng phân tách nó cho đến sau 30 tháng tư năm 1975, người anh họ gửi sang cho tôi một tấm hình chụp con đường đất ngoằn ngoèo với hai hàng trúc xiêu vẹo. Cuối con đường đất đó là một bức tường gạch loang lổ. Mặt sau tấm hình anh tôi ghi: “Toàn bộ dinh cơ của nội chỉ còn bức tường gạch này thôi. Em có nhận ra đây là cổng trước, vào đền Đức Thánh Trần không"” Tôi đã ngồi lặng, nhìn bức tường trong hình, đau đớn như đang nhìn ông nội trong những phút cuối đời đầy nhục nhã, uất ức. Chính bức hình này mới thực sự kéo tôi ra khỏi tâm trạng mơ hồ để chấp nhận thực tế là quê nội tuy vẫn đó nhưng thật ra không còn nữa, không còn gì nữa!
Qua những lần điện đàm, anh họ tôi còn cho biết thêm, sau khi Cộng Sản bức tử ông nội, họ lập tức đuổi anh ra khỏi nhà. Nơi trú ngụ của anh khi đó là căn chòi ngoài trại, nơi khi xưa vẫn dùng để nông cụ. Vì anh còn nhỏ quá nên mỗi sáng, anh được phép cán bộ cho bưng nồi về nhà cũ, chờ người Cộng Sản đang quản lý nhà mình, phát cho lon gạo nhỏ lấy từ vựa thóc của nhà! Lon gạo không đủ no, anh tôi phải ra đồng mót khoai, mót sắn. Ngày đầu anh chỉ mót được dăm củ khoai sùng bé bằng hai ngón tay. Nhưng hôm sau, khi anh ra đồng, dân làng len lén nhìn anh. Anh nghe thấy có người thì thầm: “Tội nghiệp, cháu cụ Tổng đấy”. Anh chẳng cần họ tội nghiệp, anh chỉ cần mót được dăm củ khoai, vài cọng lúa để tối nay no lòng. Lạ chưa, những ngày sau đó anh rất may mắn. Sao có những củ khoai to thế này, những nhánh lúa chĩu nặng thế kia mà họ bỏ sót " Anh mừng rỡ nhặt vào rổ. Những hôm sau, rồi những hôm sau nữa vẫn thế, anh mót dễ dàng được cả rổ khoai sắn. Những người nông dân đi hái hoa mầu thường nhìn anh, kín đáo mỉm cười. Và anh đã hiểu. Thì ra, không phải những nông dân kia bỏ sót hoa mầu mà họ đã cố tình chừa lại chút đỉnh cho thằng bé tội nghiệp, cháu cụ Tổng, dù họ cũng nghèo đói. Anh tôi đã bật khóc khi nhận ra như thế. Giữa những tang thương đổ nát, vẫn còn một điều thấp thoáng nhưng không biến, không mất. Đó là Tình Người.
Đêm qua, trăng mười sáu vừa đưa tôi về quê cũ với những đêm trăng thơm phức khoai lùi, ngạt ngào hương bưởi hương cau và say sưa cổ tích Tấm Cám. Tôi đã lạc lối thiền, bèn nhắm mắt, tìm về hơi thở. Thở vào, tôi biết mình đang thở vào. Thở ra, tôi biết mình đang thở ra. Tôi nắm bắt hơi thở và làm chủ nó. Thở vào, bụng tôi nhè nhẹ thót vào. Thở ra, bụng tôi nhè nhẹ dãn ra. Tôi theo dõi hơi thở và đặt chú tâm nơi bụng, cốt không cho ý luẩn quẩn trên đầu để không suy nghĩ, không còn niệm phân biệt nữa. Cứ thế, trăng cùng với tôi, thở nhịp nhàng, khoan thai. Trăng thở và tôi thở. Trăng là tôi và tôi là trăng…..
Trong tĩnh lặng, dưới ánh trăng, quê nội bỗng hiện ra. Không còn nữa, oan cừu thù hận mà chỉ là bát ngát trúc tím hoa vàng. Và bạn ơi, bạn biết không, tôi vừa bàng hoàng nhìn thấy tôi ngay nơi trúc ấy, ngay nơi hoa kia.
Hóa ra, TÔI CHƯA TỪNG MẤT GÌ, BỞI TÔI CHƯA HỀ THẬT CÓ.
Muốn kiểm chứng lời tôi, bạn hãy ngồi xuống đi, khoanh chân và khép hờ đôi mắt. Khi cảm thấy thoải mái, hãy theo dõi hơi thở, hãy nắm bắt hơi thở và làm chủ nó, bạn sẽ nhận ra sự mầu nhiệm là, có bao giờ ta ngưng thở đâu (cho đến khi ta ….tắt thở), vậy mà, rất ít khi ta nhận ra là ta đang thở. Ta thờ ơ, lãnh đạm với hơi thở của ta quá, trong khi, nếu theo dõi nó, làm chủ nó, sẽ có lúc bạn bất chợt mỉm cười mà không hay, vì đó chính là lúc:
Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân.
Diệu Trân (Đêm trăng 16 tháng Giêng năm Ất Dậu)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.