Hôm nay,  

Oregon Thiên Phú

13/03/200500:00:00(Xem: 7013)
(- Bút ký và tham khảo )
Vào năm 1792 thuyền trưởng Robert Gray và hạm đội của ông trong khi tuần du về phía Tây đã tìm ra và đặt tên cho con sông ngày nay mang tên Columbia theo tên con tàu tuần du của hạm đội Hoa Kỳ do ông điều khiển. Vùng đất quanh lưu vực sông từ đó được mang tên Oregon và trở thành lãnh địa của Hoa Kỳ từ những năm cuối thế kỷ 18.
Trước đó, khoảng những năm 1500 và 1600 các thủy thủ người Tây Ban Nha và Anh cũng tin rằng họ đã trông thấy bờ biển Oregon từ ngoài khơi. Đến năm 1778, thuyền trưởng James Cook trong khi đi mở đường về phía đông bắc đã lập hải đồ một số khu vực của vùng bờ biển Oregon. Nhưng phải đợi đến năm 1805 khi đoàn thám hiểm của Lewis và Clark thám hiểm khu vực này, lãnh địa Oregon mới thực sự được biết đến. Sáu năm sau, năm 1811, trạm mua bán lông thú đầu tiên được thành lập ở Astoria dưới tên John Jacob Astor. Theo Hiệp Ước Oregon (the Oregon Treaty), ký năm 1846 giữa Công ty Hudson Bay (the Hudson Bay Company) và những người định cư mang quốc tịch Hoa Kỳ, các tranh chấp về quyền lãnh đạo khu vực được giải quyết và theo đó, Anh Quốc từ bỏ các tuyên bố của họ trên lãnh thổ Oregon.
Ngày nay, Oregon có một kỹ nghệ lâm nghiệp và lâm sản hơn 3.3 tỉ mỹ kim, cộng với công nghiệp khai thác giấy cùng các xưởng sản xuất liên ngành giấy khoảng 859 triệu mỹ kim. Công nghiệp nuôi và sản xuất thịt cá salmon ở Oregon là một trong những ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới.
Về nông nghiệp, tiểu bang dẫn đầu trên cả nước về sản lượng cây bạc hà cay; loại cây này cung cấp dầu thơm bạc hà dùng trong công nghiệp chế biến kẹo và làm thuốc. Ngoài ra, các loại cây trồng khác như blackberries, boysenberries, loganberries, và quả đậu phỉ (hazelnuts) cũng là những sản phẩm dẫn đầu nổi tiếng của Oregon cả về sản lượng lẫn chất lượng. Loại nông sản đứng hàng thứ hai ở Oregon được biết đến là cây hoa bia (hop), đây là loại cây leo có hoa mọc thành chùm; hoa bia xấy khô dùng tạo vị đắng cho rượu bia trong công nghiệp giải khát. Mận tây (prune) cũng là sản phẩm nổi tiếng của Oregon bên cạnh củ hành tây là loại nông sản đem về cho Oregon hằng năm nhiều triệu mỹ kim.
Những con sông lớn của Oregon là nguồn năng lượng của công nghiệp điện tiêu dùng. Nguồn điện với giá chi phí thấp cung cấp đều đặn cho các hãng xưởng đến từ các đập nhân tạo được xây dựng ngay trên dòng chảy của các con sông. Chính từ nguồn điện dồi dào và giá thành không cao đã góp phần phát triển cho những nền công nghiệp khác như hàng chế kim (metalwork), gỗ dán (plywood), máy thiết bị, nhôm, hóa chất, thực phẩm đóng gói và linh kiện điện tử.
Đến Oregon, người tham quan sẽ bị cuốn hút bởi các thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng như Công Viên Quốc Gia Hồ Crater, được mang tên là Hồ Thiên Thai trong dòng Văn học Việt Nam ở Oregon, Ngọn Mount Hood hay còn gọi là Ngọn Bạch Đầu quanh năm phủ trắng tuyết. Đây là nguồn nước uống thiên nhiên trong lành cung cấp cho hơn 3 triệu rưỡi dân sinh sống ở tiểu bang. Nước tuyết tan từ Ngọn Bạch Đầu còn là nguồn dinh dưỡng đặc biệt cho các loài thảo mộc của Oregon như Hoa Hồng Portland đẹp nổi tiếng thế giới. Nhưng Oregon không chỉ có thế. Người Oregon thường rất tự hào về cảnh quan thiên nhiên của sứ sở này với những khu di tích hùng vĩ mà diễm lệ, thâm trầm mà kiêu sa như đài tưởng niệm quốc gia ở vùng đồi hóa thạch John Day (John Day Fossil Beds National Monument), khu di tích đồi dâu mọc ngay trên vùng đất khi xưa là miệng núi lửa (Newberry Volcanic National Monument), Hẻm Núi Trên dòng Columbia trong khu vực The Dalles và Troutdale (Columbia River Gorge between The Dalles and Troutdale) và Thạch Động Oregon (Oregon Caves National Monument). Các kỳ quan kể trên được công nhận là những danh thắng hiếm có ở Hoa Kỳ, tuy không thật đặc biệt như các suối phun nước nóng ở công viên quốc gia Yellowstone thuộc tiểu bang Wyoming, hay như công viên băng hà Glaicer ở vùng núi tiểu bang Montana, nhưng lại là những điểm chấm phá tuyệt mỹ của tạo hóa trên vùng đất lạ kỳ Oregon.

Đến Oregon, sau khi chiêm ngưỡng những nét hữu tình của thiên nhiên mà không nếm qua những món ăn chế biến từ cây nấm vàng vùng khí hậu Thái Bình Dương sẽ là một thiếu sót lớn lao. Cây nấm vàng có tên khoa học là Pacific Golden Chanterelle, được nhà khoa học Kevin Winthrop đặt vào danh mục cây nấm quốc gia của tiểu bang. Nguyên thuỷ, cây nấm vàng Chanterelle là một loại nấm thiên nhiên mọc hoang trên các vùng thảo nguyên Oregon, sau khi được thử nghiệm và thuần hóa để nuôi cấy và thu hoạch, cây nấm vàng Chanterelle đã được công nhận là sản phẩm đặc quyền của tiểu bang qua các dự luật the Turkey Bills năm 1999. Từ đó, Cây nấm vàng với mã số khoa học HJR 68 được chính thức khai sinh là thành viên của ngôi nhà Oregon.
Nấm Chanterelle không chỉ là một loại thức ăn dồi dào chất dinh dưỡng mà còn được công nhận là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao. Nấm Chanterella chứa một hàm lượng lớn sinh tố B, nguyên tố á kim selen, kim loại đồng, cùng một lượng cao các chất khoáng khác. Đặc biệt nguyên tố á kim selen là một nguyên tố khi có ánh sáng chiếu vào với cường độ càng mạnh thì năng lượng dẫn điện của chất á kim này càng tăng. Do đó khi được tiêu thụ trong cơ thể con người như một loại thực phẩm, á kim selen trong cây nấm vàng cung cấp năng lực và làm tăng thể lực của con người. Cây nấm, nói chung có lượng calories thấp, mỗi tách nấm sống chứa khoảng 20 calories. Ngoài ra, cây nấm, nhất là cây nấm vàng Chanterelle còn chứa một lượng chất kháng sinh và các dược chất chữa bệnh khác như chất tổng hợp kháng bướu (anti-tumor compounds).
Cây nấm tuy được gọi là "cây" nhưng lại không thuộc họ thảo mộc, mà là một loại nấm vi sinh không có rễ, không lá, không hoa hay hạt để di truyền, cũng không đòi hỏi phải có ánh sáng mới phát triển. Nấm có thể sinh sôi nảy nở trong bóng tối và sản sinh bằng cách tái phân bổ hằng triệu triệu bào tử. Hiện nay trên thế giới có vào khoảng 38,000 chủng loại nấm, từ loại bổ dưỡng như nấm Chanterelle đến các loại nấm độc gây chết người hay tê liệt hệ thần kinh các sinh vật tiêu thụ tế bào nấm. Phần lớn các chủng loại nấm được nuôi trồng trong môi trường tự nhiên, nhưng thực tế, từ hàng nghìn năm trước, hương vị đất trong cây nấm đã được con người thưởng thức và khen ngợi. Các vua pharaohs người Ai Cập đã liệt nhiều chủng loại nấm thơm vào hàng thức ăn hoàng tộc vì đặc tính bổ dưỡng quý hiếm của cây nấm.
Trở lại với cây nấm vàng Oregon, món nấm nổi tiếng được biết đến là món kem nấm vàng mùa thu, còn gọi là the creme of Autumn Chanterelle. Nếu quý vị đến Oregon vào tháng 9, hay sớm hơn, vào những tháng cuối hạ, quý vị có thểå thưởng thức những món kem nấm tươi ở các vùng trung tây và tây nam của Oregon. Chỉ ăn một bát súp kem nấm vàng, quý vị sẽ không thể nào quên hương vị lạ kỳ của món súp kem vàng óng. Tuy được phong xưng là một món ăn hoàng tộc nhưng nấm trong các các món ăn dù được chế biến với công thức và phương cách nào vẫn đậm đà nét mộc mạc nguyên thủy của một loại hương đồng cỏ nội.
Hạ Miên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.