Hôm nay,  

Thiền Trăng

26/05/200500:00:00(Xem: 6495)
Hành giả lặng lẽ quán sát thân, tâm, cảnh trí trước khi nhẹ nhàng ngồi xuống tọa cụ trong thế kiết già. Bộ áo lụa nâu, mềm và rộng sẽ giúp thân thoải mái. Tâm đã lắng như bể nước mưa, phiền não tuy còn đâu đó nhưng chắc mờ nhạt lắm, tựa bụi bặm tận sâu đáy bể. Căn phòng nhỏ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ, không giường lớn nệm cao, chỉ có tọa cụ trên tấm thảm nhỏ và chiếc bàn con để dăm cuốn sách với ly nước lạnh. Lòng bàn tay phải đặt lên tay trái, hai đầu ngón cái chạm nhau như giao ước cho một thời thiền tĩnh lặng, hành giả lắc vai qua phải, qua trái, phía trước, phía sau, kiểm soát thế ngồi cho thoải mái, xong, khép hờ đôi mắt mới thấy thêm vị khách sẽ theo hành giả cùng vào thiền. Đó là ánh trăng mười bốn len qua song cửa, mềm, nhẹ và thơm ngát hương đêm rằm.
Đêm nay hành giả sẽ quán công án KHÔNG. Chỉ Không thôi, không gì nữa. Có trăng hay không trăng cũng nằm trong Không, có ta hay không ta cũng nằm trong Không, tọa thiền hay không tọa thiền cũng nằm trong Không. Phải hợp nhất vào Không vì rốt ráo, vì tận cùng, vì sâu thẳm, cái chúng sanh miệt mài đi tìm là cái Thường Hằng, cái Sẵn Có, cái Đã Là, Đang Là, Sẽ Là, cái Chưa Từng Đến, Chưa Từng Đi …… gọi cái đó tên gì tùy người tìm kiếm. Cái đó, tự bản thể trong suốt, không biệt phân hý luận mà giải tỏa trùng trùng hý luận, không mầu sắc mà rực rỡ lưu ly, không hương vị mà bát ngát mạn-đà-la mười phương ba cõi. Cái đó là Phật Tánh. Cánh cửa mở ra để thấy được Phật Tánh là Không. Tâm phải được nung đỏ như hòn sắt, chảy ra, hòa vào, hợp nhất với Không tới mức “không cả nghĩ tới Không” mới mong nhận thấy cái vi diệu ta vẫn thường hằng có. Cái đó vẫn ở đó, cùng ta, ngay cả phút giây người đi tìm chợt thấy, nó cũng vẫn Thường Là, chẳng hề biến diệt, đổi thay, thêm bớt. Chỉ có người đi tìm, khi bất chợt thấy được thì sửng sốt, kinh ngạc, nhìn nó như nhìn Thiên Sứ, như nhìn đóa hoa chưa từng thấy, như nghe giòng nhạc chưa từng nghe. Phút giây đó, hốt nhiên vạn hữu chuyển mình, muôn người, muôn loài phủ choàng mầu áo mới, thanh sắc mới, hương vị mới, rực rỡ như chưa từng bao giờ rực rỡ thế. Tất cả, chỉ vì người tìm kiếm bước qua được cửa Không, thấy Chính Mình, thấy cái “Thiên Thượng Thiên Hạ Vô Ngã Độc Tôn”.
Đơn giản tột cùng mà khổ nhọc vô song !
Chẳng thế mà hành giả vẫn thường thất bại, cả những lần hòn-sắt-tâm đã nung được tới cực đỏ mà lơ là một niệm khởi lên, nó lập tức nguội lạnh trong tiếng khóc tức tưởi của người thất bại !
Trăng mười bốn mềm và mát như tơ tằm. Hành giả ơi, sao ông khổ lụy thế ! Hãy để tâm an nhiên, hãy để nó hát khi muốn hát, khóc khi muốn khóc, dạo khi muốn dạo …… vì hành giả đã từng thấy nó rồi, đã từng biết Vọng cũng là Chân thì ngại chi vọng khởi. Hãy để mặc cái vọng tâm dong chơi vì qua sự quán chiếu của hành giả, vọng tâm tất tìm thấy chân tâm. Đó là sát na, vọng tâm bước qua cửa Không và nó sẽ đột nhiên bừng sáng ! Vậy hãy mặc nó.
Đêm nay, hành giả hãy cùng Trăng tọa thiền, hãy lặng thinh, êm ả, hãy như giòng suối trong, hãy như bờ cát trắng, hãy như giải mây bay lãng đãng, như làn gió xôn xao giữa nội cỏ hoa ngàn….. Hành giả đang mỉm cười rồi, Trăng biết, hành giả đang cùng Trăng nghe được giòng nhạc đêm, không phải từ cung trời Đao Lợi đâu, từ ngay cõi ta-bà của hành giả đấy:
“Đá mòn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Ngàn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương
Đan sa rã mộng phi thường
Đào tiên trụi lá bên đường tử sinh
Đồng hoang mục tử chung tình
Đăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô”.
Những mỹ từ được bọn vô minh dụng ý xử dụng để “mị” người chỉ là “ngàn năm vang một nỗi đời” thôi, có hơn gì “đào tiên trụi lá”. Hành giả đừng vội thất vọng vì bên cuộc lữ đó, có những hạt ngọc phủ trong áo tơi:
“Đồng hoang mục tử chung tình
Đăm chiêu dư ảnh nóc đình hạc khô”
Tình người ở nơi gần gũi nhất, lặng thinh nhất, tầm thường nhất, như khi hành giả khổ nhọc quán Không mà Không ở ngay nơi “không gì cả”!
Ly nước lạnh của hành giả còn nguyên trên bàn đây, hãy nhấp một hớp rồi ta thiền tiếp. Bây giờ thì hành giả nghe thấy trước Trăng rồi, tiếng vĩ cầm quyện vào sáo trúc đó:
“ … Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh
Ngoài hư không có dấu chim bay
Từ tiếng gọi mầu đen đất khổ
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời"
Ta gọi kiến, ngập ngừng mây bạc

Đường ta đi, non nước bồi hồi
Bóc quá khứ, thiên thần kinh ngạc
Cắn vô biên trái mộng vỡ đôi …”
A, chính hành giả cũng đang kinh ngạc như thiên thần ư " kinh ngạc vì sự tàn phá thâm hiểm của vô minh, tàn phá từ lòng đất ! đất nuôi người mà đất nhiễm độc hại thì người không phải chỉ bị hủy diệt một đời mà là nhiều đời ! Hãy nhìn chính sách ngu dân và nghèo đói quanh hành giả mà xem, có phải là vô tình mà dân ngu dân đói đâu! Khi kẻ cầm quyền dùng bụng (bao tử) để kiểm soát đầu (trí tuệ) thì không còn bao nhiêu cái đầu có thể làm chủ cái bụng, vì khi bụng lên tiếng khóc, đầu sẽ đầu hàng! Khi đời cha bị hủy diệt trí tuệ thì đời con, đời cháu còn chi !
Chúng ta đi xa thiền quá rồi ư " Không đâu, Trăng nghĩ là ta vẫn đang trong thiền đấy chứ. Tác giả bài thơ mơ màng viết “Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh "” vậy mà bất ngờ có câu trả lời “Ngoài hư không có dấu chim bay”. Câu trả lời đầy thiền vị, khác chi giai thoại có người đến hỏi thiền sư “Thế nào là đạo"” Thiền sư trả lời: “Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu"” Hành giả tu thiền thì đã biết rõ dụng ý câu trả lời này rồi, vì nếu thiền sư giảng giải đạo là gì thì người hỏi sẽ lập tức bị cái lưới hý luận ngôn từ phủ chụp xuống, còn biết đâu đường ra để mà quán chiếu; câu trả lời không dính nhập tới câu hỏi mới giúp người đó chặt đứt dòng suy tư mà có thể đón nhận lời chỉ dạy một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Như có vị học giả mang dầy bụng kiến thức tới tham vấn thiền sư chỉ vì tò mò, thiền sư rót nước mời khách, nước tràn ly rồi mà vẫn rót, rót mãi … tới lúc khách không chịu nổi, phải nhắc khẽ : “Thưa ngài, nước đã tràn”, thiền sư mới nhẹ nhàng bảo: “Vâng, tôi biết, cũng như ông, ông đến đây với đầy ắp kiến thức, tôi còn gì để nói nữa"”
Trăng đoán rằng tác giả những câu thơ này vừa ngồi thiền vừa làm thơ. Nếu người ấy không là một thi sỹ thiền sư thì cũng là một thiền giả mang tâm từ bi, cùng khổ với dân khổ, cùng đói với dân đói, nhưng, vượt trên bờ sinh tử, người ấy giữ vững trí tuệ sáng ngời để dẫn dắt chúng sanh:
“…Non nước ấy trầm ngâm từ độ
Lửa rừng khuya yêu xác lá khô
Ta đi tìm trái tim đã vỡ
Đói thời gian, ta gặm hư vô”
À, hành giả đã cảm thấy được an ủi rồi phải không " Trong tuyệt vọng chẳng phải tận cùng tuyệt vọng đâu mà còn có lửa rừng yêu lá khô, có hư vô che chở.
Ly nước của hành giả cạn rồi, có cần rót thêm không" Hành giả lại biết đùa rồi đấy, đòi uống ánh trăng khuya ! Vâng, xin mời, uống trăng rồi, theo với Trăng, hành giả đã thấp thoáng thấy thêm những gì:
“…Đàn cò đứng gập ghềnh không ngủ
Ngóng chân trời con mắt u linh
Chân trời sụp, ngàn cây bóng rủ
Cổng luân hồi mở rộng bình minh”
Trời hỡi, hành giả là Phật tử mà thấy “cổng luân hồi mở rộng” hẳn là đau đớn biết bao cho cõi-người đó ! Nhưng khoan, đừng vội bi thương vì:
“Chờ dứt cơn mưa ta vô rừng
Bồi hồi nghe khói lạnh rưng rưng
Ngàn lau quét nắng lùa lên tóc
Ảo ảnh vô thường, một thoáng chưng !”
Một thoáng chưng. Đêm đã tàn rồi ư"
Hành giả thở mạnh một hơi, dài thật dài. Mở mắt. Trăng không còn nữa, mà là tia nắng sớm. Ly nước trên bàn vẫn đầy như tấm lòng chưa vơi. Phải, hành giả vẫn tự biết lòng này chưa vơi nên dẫu cố gắng vẫn chẳng thể vượt cửa Không bằng tâm của người-ngoại-cuộc. Cuộc đây là cuộc lữ của cả một dân tộc đang vùng vẫy trong lưới vô minh. Đêm nay, có ngờ đâu, với Trăng, hành giả đã vừa bước qua cánh cửa vô hình đó, không bằng công án mà bằng những câu thơ:
“Ta lên bờ, nắng vỗ bờ róc rách
Gió ở đâu, mà sông núi thì thầm"
Kìa bóng cỏ nghiêng mình che hạt cát
Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm"”
Hay như:
“Khói ơi, bay thấp xuống đi
Cho ta nắm lại chút gì thanh xuân
Ta đi trong cõi Vĩnh Hằng
Nhớ tàn cây nhỏ mấy lần rụng hoa”
Bất cứ khi thơ khóc, thơ đau, thơ nhục, ngay cả khi thơ tự khai là thơ chết mà người đọc, người nghe vẫn nhận ra cả một trời bất tử với ngân nga chuông Bát Nhã, với thấp thoáng bóng Bồ Tát từ bi, với rượi mát từng hạt mưa Cam Lộ.
Đó là gì" Có phải trong mỗi chúng sanh đều sẵn ngôi nhà Phật. Đó là nơi an toàn đầu tiên và cuối cùng cho chúng ta. Tìm ra được nơi an toàn đó, chúng ta sẽ không bao giờ còn sợ hãi trước bất cứ sức mạnh nào bên ngoài.

Tạ ơn Thượng Tọa thích Tuệ Sỹ, tác giả những giòng thơ rực lửa-bản-thể đã đốt đuốc cho chúng ta thấy đường tìm về nhà Phật.
Diệu Trân
Tháng 5, 2005
Mùa Phật Đản lần thứ 2629

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tháng 5 vừa qua, một chuyến bay từ Johannesburg, Nam Phi đã đáp xuống phi trường Quốc tế Dulles, Hoa Kỳ. Trên phi cơ là khoảng 50 công dân Nam Phi da trắng thuộc cộng đồng Afrikaner. Những người này cho biết sinh kế của họ đang bị đe dọa nghiêm trọng do xã hội ngày càng “kỳ thị người da trắng.” Cách mô tả tình hình Nam Phi như vậy ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ các nhà bình luận cánh hữu có ảnh hưởng ở Mỹ như Tucker Carlson, Charlie Kirk, và Stephen Miller.
Hãy tưởng tượng bạn là một người thợ mỏ khai thác đồng tại Đông Nam Âu Châu vào năm 3,900 trước Công Nguyên. Mỗi ngày, bạn phải gồng mình kéo từng tảng quặng qua những đường hầm chật hẹp và ngột ngạt. Cuộc sống cứ thế trôi qua trong nỗi mỏi mệt rã rời và sự đơn điệu không hồi kết. Nhưng rồi một chiều nọ, điều kỳ lạ xảy ra: một anh bạn đồng nghiệp xuất hiện với một thứ trông thật lạ mắt, và anh ta thản nhiên kéo theo đống quặng gấp ba lần trọng lượng cơ thể mình – chỉ trong một chuyến đi.
Làn sóng tranh luận dữ dội đang diễn ra xoay quanh câu hỏi: liệu những gì đang xảy ra tại Gaza kể từ tháng 10 năm 2023 có phải là hành vi diệt chủng hay không? Vấn đề này đã được đưa ra trước Tòa Án Quốc Tế (International Court of Justice, ICJ), Nam Phi đệ đơn kiện Israel, cáo buộc quốc gia này đã phạm tội diệt chủng. Phiên tòa bắt đầu từ tháng 12 năm 2023, nhưng đến nay ICJ vẫn chưa đưa ra phán quyết cuối cùng.
Ngày 27/5 vừa qua, trên mạng xã hội, nhiều người đã đăng lời chúc mừng sinh nhật gửi tới tù nhân Phạm Đoan Trang. Trước đó vài tuần, một tù nhân nổi tiếng khác là Trịnh Bá Phương đã bị khởi tố thêm tội danh "tuyên truyền chống Nhà nước" khi đang ở tù. Những dòng tin này nhắc nhở rằng tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn còn là những vấn đề nhức nhối tại Việt Nam, 50 năm sau khi cuộc chiến kết thúc.
Sáng thứ Bẩy ngày 24 tháng 5 vừa qua, trong buổi lễ tốt nghiệp tại vận động trường Michie của Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ ở West Point, khi chuẩn tướng Rogelio Garcia, chỉ huy trưởng Học Viện, tuyên bố giải tán khóa 2025, hàng ngàn chiếc mũ képi trắng được các học viên của khóa tung lên trời. Tiếng reo hò tở mở từ các tân thiếu úy đang đứng dưới sân cỏ và thân nhân của họ trên khán đài tạo nên một quang cảnh với âm thanh vừa đẹp mắt, vừa tưng bừng, vừa cảm động.
Đoàn Viết Hoạt sanh năm 1942 tại Nam định. Năm 1954 theo gia đình di cư vào Nam. Năm 1965 tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sàigòn ban Anh Văn. Năm 1966 lập gia đình với chị Trần Thị Thức, một nữ sinh viên trong phong trào sinh viên Saigon lúc bấy giờ. Năm 1967 ĐVHoạt du học Hoa Kỳ về môn Tổ Chức và Quản Trị Đại Học tại Đại học Florida State (FSU), Tallahassee, Florida. Năm 1971, đậu Ph.D. về Giáo Dục. Sau đó, Đoàn Viết Hoạt trở về nước giữ chức vụ Phụ tá Viện trưởng tại Viện Đại học Vạn Hạnh cho đến 30 tháng Tư, 1975.
Một cuộc triển lãm mới tại thành phố Philadelphia soi chiếu hành trình tiến hoá của sức khoẻ dinh dưỡng tại Hoa Kỳ qua một lăng kính độc đáo: căng-tin học đường. Mang tựa đề “Giờ Ăn Trưa: Lịch Sử Khoa Học Trên Khay Thức Ăn Học Đường,” cuộc triển lãm miễn phí tại Viện Lịch sử Khoa học Philadelphia trưng bày các bích chương, tài liệu, dụng cụ khoa học, sách dinh dưỡng và ảnh chụp để thuật lại câu chuyện về các bữa ăn tại trường học ở Mỹ.
Năm Tổng Thống Hoa Kỳ liên tiếp, thuộc cả hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, đã nhất quyết giúp nhân dân Miền Nam bảo vệ “tiền đồn của Thế Giới Tự Do.” Hành động mạnh mẽ nhất là ‘tự động’ mang nửa triệu quân vào để chiến đấu - mặc dù Chính phủ VNCH không yêu cầu. Rồi xây cất đường xá, xa lộ Biên Hòa, hải cảng Đà Nẵng, Cam Ranh, Chu Lai, Sàigòn, và mấy chục phi trường lớn nhỏ, với những kho xưởng như Long Bình, Quy Nhơn, Phú Bài, tốn phí bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu tiền của để xây dựng một “tiền đồn của thế giới tự do”, ngăn chận Trung Cộng ở phía Nam
Nửa thế kỷ trước, nước Mỹ đã không tôn trọng lời cam kết giúp VNCH chiến đấu tới cùng trước làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Thế Giới. Nhiều người, cả Việt lẫn Mỹ, cũng như dư luận thế giới, đã gọi đây là một sự phản bội đáng xấu hổ. Nhưng có học giả Mỹ đã khẳng định: “Sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm”.
Ngày 28 tháng 4 năm nay vừa tròn 80 năm kể từ khi nhà độc tài Ý Benito Mussolini bị xử tử tại một ngôi làng ở Ý vào cuối Thế Chiến II năm 1945. Chỉ một ngày sau đó, thi thể của ông ta bị bêu rếu và lăng nhục công khai ở Milan. Dưới bóng tội ác ghê rợn của Adolf Hitler, khi nhắc đến chủ nghĩa phát xít, nhiều người thường nghĩ ngay đến những ký ức về Đức Quốc xã. Thế nhưng, cần nhớ rằng Benito Mussolini mới chính là kẻ mở đường. Biệt danh Il Duce (xin tạm dịch là Lãnh tụ) của Mussolini chính là nguồn cảm hứng cho Hitler.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.