Hôm nay,  

Tìm Mẹ

13/08/200300:00:00(Xem: 6687)
Thân tặng Giám Mục Mai Thanh Lương, Người vừa nhận sứ mạng mới ở Orange County.

Bản quán của tôi là làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhưng tôi ra đời là Cố Đô Huế. Hồi còn bé, mẹ tôi gởi tôi về ở với Cậu, đi học Tiểu Học trường làng Thâm Triều, quận Hải Lăng. Đã lỡ uống nước vùng đồi núi Nam Giao rồi thì giọng Huế rặt ròi không mất khiến cho những người quen tôi cứ ngỡ rằng tôi đích thị là người Huế chánh tông.

Những năm mới ngoài hai mươi, tôi phải buộc lòng xa Huế. Càng đi xa Huế, lòng thương lòng nhớ Huế càng nặng. Huế của tôi trong đó có bóng người cha những năm ngắn ngủi với đời mà tình sâu với con bền vững như đỉnh núi Ngự Bình, có dáng người mẹ hiền một đời tần tảo khổ nhọc muôn bề mà trái tim thương lo cho con mênh mông vời vợi như dòng sông Hương. Huế là tình sâu nghĩa nặng như thế, cho nên một ngày nọ, khi Bác Sĩ Tôn Thất Niệm mời tôi tham gia vào việc thành lập Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, tôi đã nhận lời không một chút ngần ngại, bởi vì đây là dịp cho nguồn yêu thương Huế trong tôi lớn dậy, cho nỗi nhớ về nơi chôn giau cắt rốn từ xa xưa tràn ngập trong lòng. Làm cái gì cho Huế cũng là một cách lên đường đi tìm lại những nỗi niềm thân thiết đã thất lạc từ lâu rồi.

Góp mặt với Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, đa số là người Huế, những người Huế xa Huế đã lâu và sự nghiệp một đời đã lẫy lừng ở những nơi ngoài Huế. Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, ông Bùi Hữu Lân... và đặc biệt là Linh Mục Bửu Dưỡng, là những người năng nổ nhất. Câu chuyện nào giữa chúng tôi với nhau cũng rất thân thiết, rất tình cảm, nhẹ nhàng như những lời tâm sự. Linh Mục Bửu Dưỡng rất muốn tôi đứng ra làm Hội Trưởng nhưng tôi lại theo chủ trương "kính lão đắc trường thọ" nên thôi thúc Ngài lãnh trách nhiệm Hội Trưởng đầu tiên. Điều này còn thêm một ý nghĩa khác vì Ngài là người Hoàng Tộc lại đang là Giáo Sư của Đại Học Văn Khoa. Tuy chỉ làm việc chung với nhau trong một thời gian gần 10 năm, gặp nhau hài hòa giữa những buổi họp, nhưng giao tình giữa chúng tôi và tình đồng hương cũng đủ tin cậy để làm chỗ dựa cho những chuyện riêng tư.

Một lần, Linh Mục kể cho tôi nghe chuyện gia đình của Ngài. Ngài là con út của một bà mẹ cả, trong một gia đình quý tộc quy ngưỡng đạo Phật. Rủi ro mẹ mất sớm. Có một người anh đầu. Tuổi bé thơ mà mất mẹ, nên mỗi lần nhớ tới mẹ, nhớ tới thân phận mồ côi của mình thì buồn xa xót. Ngài hay tìm tới ngôi chùa ngày trước thường được mẹ dẫn đi, lang thang thơ thẩn một mình trong vườn chùa, đi mãi đi hoài như cố kiếm tìm một cái gì thiết tha đã mất. Có bữa Thầy Trú Trì bắt gặp, hỏi thăm chú tìm chi ngoài vườn vậy " Trong trái tim bé thơ với vết thưong mất mát nặng trĩu, chú hồn nhiên trả lời: "Thưa Thầy con đi tìm mẹ" ! Thầy bảo: "Chú có điên không" Mẹ chú chết rồI còn đâu nữa mà đi tìm". Chú không tin người lớn. Chú không tin sự mất mát kia là có thật.

Thuở thiếu niên, Linh Mục Bửu Dưỡng học trường Providence ở Huế. Giờ ra chơi, giờ nghỉ học, chú không chịu về nhà, cứ quanh quẩn nơi vườn hoa trước nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, thơ thẩn trông tìm. Có một Linh Mục tình cờ bắt gặp hỏi: "Con đi tìm gì thế "" Chú trả lờI: "Con đi tìm mẹ con". Cha dẫn chú vào nhà thờ, chỉ vào tượng Đức Mẹ Maria, bảo chú: "Mẹ của con đó". Chú im lặng, không nói năng chi. Người mẹ mà chú đi tìm vẫn biệt tăm mất tích. Nhưng từ đó, cùng với ngày tháng nặng nề vô cảm trôi qua, giờ khắc rảnh rỗi nào chú cũng tìm vào nhà thờ quỳ trước linh tượng Đức Mẹ dịu dàng để tìm sự an ủi.

Như đi giữa sương lâu dầm ướt áo, chú bé bước vào đường tu, làm Linh Mục nhiều năm, nổi tiếng uyên bác và làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sàigòn. Có lần, ngồi bên Linh Mục, tôi đùa: "Nếu trở lại vài chục năm trước, gặp Ngài đi ngoài vườn chùa, tôi sẽ hỏi: "Chú đi tìm gì vậy "" Ngài, cũng với câu trả lời quen thuộc: "Con đi tìm mẹ". Tôi sẽ dẫn chú vào Chùa, chỉ vào ngôi tượng Phật Bà Quan Âm dịu hiền thanh thoát. Lúc ấy chắc là Ngài đã tìm được mẹ rồi. Và bây giờ ngồi bên cạnh tôi đây là hình ảnh trở thành của chú bé ngày xưa, một Hòa Thượng hiền lành. Ngài cũng như tôi, đã nuôi lòng đi tìm người mẹ ruột thịt của mình qua hình ảnh Mẹ bất tuyệt của tín ngưỡng và trần gian.

Trẻ con nào mà không gần mẹ, không cần mẹ, không quay quắt đi tìm Mẹ lúc xa vắng" Mẹ là cái gì thân thiết, gần gủi làm ấm áp mặn mà đời con như hương của loài hoa. Thiếu mẹ, mất mẹ là một nỗi buồn lớn, một thứ bất hạnh rủi ro nhất cho đời người. Trong đạo Phật, mùa Lễ Vu Lan là mùa mẹ cha, mùa của tri ân hiếu dưỡng, mùa cho con nghĩ về mẹ. Nếu mẹ còn sống, cầu cho mẹ mạnh khỏe an vui, hái đóa hồng tươi từ trái tim nhiệt nồng yêu thương dâng mẹ. Nếu mẹ đã qua đời, cúng dường Trai Tăng hồi hướng công đức cho mẹ được an nhiên siêu thoát nơi miền Cực Lạc, có những thân tái sanh tốt đẹp. Thương mẹ, lúc nào con cũng nuôi lòng đi tìm cho gặp mẹ, mẹ còn sống, mẹ qua đời, mẹ vô tình đã thất lạc con (con thất lạc mẹ) trong nỗi đời phiền lụy. Đi tìm và gặp mẹ, có mẹ rồi đời con sẽ hết bơ vơ.

Ngày mẹ tôi lìa đời, tôi buồn lắm. Trong niềm bơ vơ vì mất mẹ, những câu thơ của ai đó cũng làm cho tôi thêm tủi thân:

Thấm thoát bao ngày tiếng dế vang
Bao ngày mẹ vắng giữa trần gian

Hay:

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời !

Trốn vào những tình thơ tan nát đó, hồn càng thêm thương tích. Và cuối cùng, tôi nhận ra một sự thật: trong cuộc đời, không có gì buồn hơn là mất mẹ; không có gì vui sướng hơn là còn mẹ, và ấm áp thay những trái tim lúc nào cũng nhiệt nồng quay về mẹ, đi tìm mẹ một đời.

Los Angeles,
Mùa Vu Lan 2547 - 2003
HUYỀN KHÔNG

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong hơn bảy mươi năm qua, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đã trải qua nhiều bước ngoặt – từ một liên minh chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, đến một trong những nước đối đầu gay gắt và kéo dài nhất của thời đại hậu thuộc địa. Bản tóm lược dưới đây ghi lại những cột mốc chính từ năm 1953 đến 2025, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về diễn biến phức tạp của quan hệ Hoa Kỳ–Iran trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu.
Tháng 5 vừa qua, một chuyến bay từ Johannesburg, Nam Phi đã đáp xuống phi trường Quốc tế Dulles, Hoa Kỳ. Trên phi cơ là khoảng 50 công dân Nam Phi da trắng thuộc cộng đồng Afrikaner. Những người này cho biết sinh kế của họ đang bị đe dọa nghiêm trọng do xã hội ngày càng “kỳ thị người da trắng.” Cách mô tả tình hình Nam Phi như vậy ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ các nhà bình luận cánh hữu có ảnh hưởng ở Mỹ như Tucker Carlson, Charlie Kirk, và Stephen Miller.
Hãy tưởng tượng bạn là một người thợ mỏ khai thác đồng tại Đông Nam Âu Châu vào năm 3,900 trước Công Nguyên. Mỗi ngày, bạn phải gồng mình kéo từng tảng quặng qua những đường hầm chật hẹp và ngột ngạt. Cuộc sống cứ thế trôi qua trong nỗi mỏi mệt rã rời và sự đơn điệu không hồi kết. Nhưng rồi một chiều nọ, điều kỳ lạ xảy ra: một anh bạn đồng nghiệp xuất hiện với một thứ trông thật lạ mắt, và anh ta thản nhiên kéo theo đống quặng gấp ba lần trọng lượng cơ thể mình – chỉ trong một chuyến đi.
Làn sóng tranh luận dữ dội đang diễn ra xoay quanh câu hỏi: liệu những gì đang xảy ra tại Gaza kể từ tháng 10 năm 2023 có phải là hành vi diệt chủng hay không? Vấn đề này đã được đưa ra trước Tòa Án Quốc Tế (International Court of Justice, ICJ), Nam Phi đệ đơn kiện Israel, cáo buộc quốc gia này đã phạm tội diệt chủng. Phiên tòa bắt đầu từ tháng 12 năm 2023, nhưng đến nay ICJ vẫn chưa đưa ra phán quyết cuối cùng.
Ngày 27/5 vừa qua, trên mạng xã hội, nhiều người đã đăng lời chúc mừng sinh nhật gửi tới tù nhân Phạm Đoan Trang. Trước đó vài tuần, một tù nhân nổi tiếng khác là Trịnh Bá Phương đã bị khởi tố thêm tội danh "tuyên truyền chống Nhà nước" khi đang ở tù. Những dòng tin này nhắc nhở rằng tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn còn là những vấn đề nhức nhối tại Việt Nam, 50 năm sau khi cuộc chiến kết thúc.
Sáng thứ Bẩy ngày 24 tháng 5 vừa qua, trong buổi lễ tốt nghiệp tại vận động trường Michie của Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ ở West Point, khi chuẩn tướng Rogelio Garcia, chỉ huy trưởng Học Viện, tuyên bố giải tán khóa 2025, hàng ngàn chiếc mũ képi trắng được các học viên của khóa tung lên trời. Tiếng reo hò tở mở từ các tân thiếu úy đang đứng dưới sân cỏ và thân nhân của họ trên khán đài tạo nên một quang cảnh với âm thanh vừa đẹp mắt, vừa tưng bừng, vừa cảm động.
Đoàn Viết Hoạt sanh năm 1942 tại Nam định. Năm 1954 theo gia đình di cư vào Nam. Năm 1965 tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sàigòn ban Anh Văn. Năm 1966 lập gia đình với chị Trần Thị Thức, một nữ sinh viên trong phong trào sinh viên Saigon lúc bấy giờ. Năm 1967 ĐVHoạt du học Hoa Kỳ về môn Tổ Chức và Quản Trị Đại Học tại Đại học Florida State (FSU), Tallahassee, Florida. Năm 1971, đậu Ph.D. về Giáo Dục. Sau đó, Đoàn Viết Hoạt trở về nước giữ chức vụ Phụ tá Viện trưởng tại Viện Đại học Vạn Hạnh cho đến 30 tháng Tư, 1975.
Một cuộc triển lãm mới tại thành phố Philadelphia soi chiếu hành trình tiến hoá của sức khoẻ dinh dưỡng tại Hoa Kỳ qua một lăng kính độc đáo: căng-tin học đường. Mang tựa đề “Giờ Ăn Trưa: Lịch Sử Khoa Học Trên Khay Thức Ăn Học Đường,” cuộc triển lãm miễn phí tại Viện Lịch sử Khoa học Philadelphia trưng bày các bích chương, tài liệu, dụng cụ khoa học, sách dinh dưỡng và ảnh chụp để thuật lại câu chuyện về các bữa ăn tại trường học ở Mỹ.
Năm Tổng Thống Hoa Kỳ liên tiếp, thuộc cả hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, đã nhất quyết giúp nhân dân Miền Nam bảo vệ “tiền đồn của Thế Giới Tự Do.” Hành động mạnh mẽ nhất là ‘tự động’ mang nửa triệu quân vào để chiến đấu - mặc dù Chính phủ VNCH không yêu cầu. Rồi xây cất đường xá, xa lộ Biên Hòa, hải cảng Đà Nẵng, Cam Ranh, Chu Lai, Sàigòn, và mấy chục phi trường lớn nhỏ, với những kho xưởng như Long Bình, Quy Nhơn, Phú Bài, tốn phí bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu tiền của để xây dựng một “tiền đồn của thế giới tự do”, ngăn chận Trung Cộng ở phía Nam
Nửa thế kỷ trước, nước Mỹ đã không tôn trọng lời cam kết giúp VNCH chiến đấu tới cùng trước làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Thế Giới. Nhiều người, cả Việt lẫn Mỹ, cũng như dư luận thế giới, đã gọi đây là một sự phản bội đáng xấu hổ. Nhưng có học giả Mỹ đã khẳng định: “Sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.