Hôm nay,  

Tìm Mẹ

13/08/200300:00:00(Xem: 7959)
Thân tặng Giám Mục Mai Thanh Lương, Người vừa nhận sứ mạng mới ở Orange County.

Bản quán của tôi là làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhưng tôi ra đời là Cố Đô Huế. Hồi còn bé, mẹ tôi gởi tôi về ở với Cậu, đi học Tiểu Học trường làng Thâm Triều, quận Hải Lăng. Đã lỡ uống nước vùng đồi núi Nam Giao rồi thì giọng Huế rặt ròi không mất khiến cho những người quen tôi cứ ngỡ rằng tôi đích thị là người Huế chánh tông.

Những năm mới ngoài hai mươi, tôi phải buộc lòng xa Huế. Càng đi xa Huế, lòng thương lòng nhớ Huế càng nặng. Huế của tôi trong đó có bóng người cha những năm ngắn ngủi với đời mà tình sâu với con bền vững như đỉnh núi Ngự Bình, có dáng người mẹ hiền một đời tần tảo khổ nhọc muôn bề mà trái tim thương lo cho con mênh mông vời vợi như dòng sông Hương. Huế là tình sâu nghĩa nặng như thế, cho nên một ngày nọ, khi Bác Sĩ Tôn Thất Niệm mời tôi tham gia vào việc thành lập Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, tôi đã nhận lời không một chút ngần ngại, bởi vì đây là dịp cho nguồn yêu thương Huế trong tôi lớn dậy, cho nỗi nhớ về nơi chôn giau cắt rốn từ xa xưa tràn ngập trong lòng. Làm cái gì cho Huế cũng là một cách lên đường đi tìm lại những nỗi niềm thân thiết đã thất lạc từ lâu rồi.

Góp mặt với Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, đa số là người Huế, những người Huế xa Huế đã lâu và sự nghiệp một đời đã lẫy lừng ở những nơi ngoài Huế. Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, ông Bùi Hữu Lân... và đặc biệt là Linh Mục Bửu Dưỡng, là những người năng nổ nhất. Câu chuyện nào giữa chúng tôi với nhau cũng rất thân thiết, rất tình cảm, nhẹ nhàng như những lời tâm sự. Linh Mục Bửu Dưỡng rất muốn tôi đứng ra làm Hội Trưởng nhưng tôi lại theo chủ trương "kính lão đắc trường thọ" nên thôi thúc Ngài lãnh trách nhiệm Hội Trưởng đầu tiên. Điều này còn thêm một ý nghĩa khác vì Ngài là người Hoàng Tộc lại đang là Giáo Sư của Đại Học Văn Khoa. Tuy chỉ làm việc chung với nhau trong một thời gian gần 10 năm, gặp nhau hài hòa giữa những buổi họp, nhưng giao tình giữa chúng tôi và tình đồng hương cũng đủ tin cậy để làm chỗ dựa cho những chuyện riêng tư.

Một lần, Linh Mục kể cho tôi nghe chuyện gia đình của Ngài. Ngài là con út của một bà mẹ cả, trong một gia đình quý tộc quy ngưỡng đạo Phật. Rủi ro mẹ mất sớm. Có một người anh đầu. Tuổi bé thơ mà mất mẹ, nên mỗi lần nhớ tới mẹ, nhớ tới thân phận mồ côi của mình thì buồn xa xót. Ngài hay tìm tới ngôi chùa ngày trước thường được mẹ dẫn đi, lang thang thơ thẩn một mình trong vườn chùa, đi mãi đi hoài như cố kiếm tìm một cái gì thiết tha đã mất. Có bữa Thầy Trú Trì bắt gặp, hỏi thăm chú tìm chi ngoài vườn vậy " Trong trái tim bé thơ với vết thưong mất mát nặng trĩu, chú hồn nhiên trả lời: "Thưa Thầy con đi tìm mẹ" ! Thầy bảo: "Chú có điên không" Mẹ chú chết rồI còn đâu nữa mà đi tìm". Chú không tin người lớn. Chú không tin sự mất mát kia là có thật.

Thuở thiếu niên, Linh Mục Bửu Dưỡng học trường Providence ở Huế. Giờ ra chơi, giờ nghỉ học, chú không chịu về nhà, cứ quanh quẩn nơi vườn hoa trước nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, thơ thẩn trông tìm. Có một Linh Mục tình cờ bắt gặp hỏi: "Con đi tìm gì thế "" Chú trả lờI: "Con đi tìm mẹ con". Cha dẫn chú vào nhà thờ, chỉ vào tượng Đức Mẹ Maria, bảo chú: "Mẹ của con đó". Chú im lặng, không nói năng chi. Người mẹ mà chú đi tìm vẫn biệt tăm mất tích. Nhưng từ đó, cùng với ngày tháng nặng nề vô cảm trôi qua, giờ khắc rảnh rỗi nào chú cũng tìm vào nhà thờ quỳ trước linh tượng Đức Mẹ dịu dàng để tìm sự an ủi.

Như đi giữa sương lâu dầm ướt áo, chú bé bước vào đường tu, làm Linh Mục nhiều năm, nổi tiếng uyên bác và làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sàigòn. Có lần, ngồi bên Linh Mục, tôi đùa: "Nếu trở lại vài chục năm trước, gặp Ngài đi ngoài vườn chùa, tôi sẽ hỏi: "Chú đi tìm gì vậy "" Ngài, cũng với câu trả lời quen thuộc: "Con đi tìm mẹ". Tôi sẽ dẫn chú vào Chùa, chỉ vào ngôi tượng Phật Bà Quan Âm dịu hiền thanh thoát. Lúc ấy chắc là Ngài đã tìm được mẹ rồi. Và bây giờ ngồi bên cạnh tôi đây là hình ảnh trở thành của chú bé ngày xưa, một Hòa Thượng hiền lành. Ngài cũng như tôi, đã nuôi lòng đi tìm người mẹ ruột thịt của mình qua hình ảnh Mẹ bất tuyệt của tín ngưỡng và trần gian.

Trẻ con nào mà không gần mẹ, không cần mẹ, không quay quắt đi tìm Mẹ lúc xa vắng" Mẹ là cái gì thân thiết, gần gủi làm ấm áp mặn mà đời con như hương của loài hoa. Thiếu mẹ, mất mẹ là một nỗi buồn lớn, một thứ bất hạnh rủi ro nhất cho đời người. Trong đạo Phật, mùa Lễ Vu Lan là mùa mẹ cha, mùa của tri ân hiếu dưỡng, mùa cho con nghĩ về mẹ. Nếu mẹ còn sống, cầu cho mẹ mạnh khỏe an vui, hái đóa hồng tươi từ trái tim nhiệt nồng yêu thương dâng mẹ. Nếu mẹ đã qua đời, cúng dường Trai Tăng hồi hướng công đức cho mẹ được an nhiên siêu thoát nơi miền Cực Lạc, có những thân tái sanh tốt đẹp. Thương mẹ, lúc nào con cũng nuôi lòng đi tìm cho gặp mẹ, mẹ còn sống, mẹ qua đời, mẹ vô tình đã thất lạc con (con thất lạc mẹ) trong nỗi đời phiền lụy. Đi tìm và gặp mẹ, có mẹ rồi đời con sẽ hết bơ vơ.

Ngày mẹ tôi lìa đời, tôi buồn lắm. Trong niềm bơ vơ vì mất mẹ, những câu thơ của ai đó cũng làm cho tôi thêm tủi thân:

Thấm thoát bao ngày tiếng dế vang
Bao ngày mẹ vắng giữa trần gian

Hay:

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời !

Trốn vào những tình thơ tan nát đó, hồn càng thêm thương tích. Và cuối cùng, tôi nhận ra một sự thật: trong cuộc đời, không có gì buồn hơn là mất mẹ; không có gì vui sướng hơn là còn mẹ, và ấm áp thay những trái tim lúc nào cũng nhiệt nồng quay về mẹ, đi tìm mẹ một đời.

Los Angeles,
Mùa Vu Lan 2547 - 2003
HUYỀN KHÔNG

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người Việt miền Nam từng trải qua một bài học cay đắng: sau 1975, những lời nói về “thống nhất” và “hàn gắn” không bao giờ đi cùng sự nhìn nhận. Không một lời chính thức nào nhắc đến các trại cải tạo, những cuộc tước đoạt, hay những đời sống bị đảo lộn dưới tay những người nhân danh chiến thắng. Không có sự thật, hòa giải chỉ là chiếc khẩu hiệu rỗng. Câu chuyện nước Mỹ hôm nay, khi chính quyền muốn làm mờ các chứng tích về chế độ nô lệ, cho thấy một điều quen thuộc: không quốc gia nào trưởng thành bằng cách giấu đi phần tối. Sự thật không tự biến mất chỉ vì người ta muốn quên.
Hai mươi năm trước, Thống đốc Jeb Bush ký đạo luật “stand your ground” (đứng vững tại chỗ), được giới ủng hộ xem là một biện pháp chống tội phạm dựa trên “lý lẽ thường tình”. Lời hứa khi ấy: bảo vệ người dân tuân thủ pháp luật khi họ dùng vũ lực để tự vệ. Sau vụ George Zimmerman được tha trong cái chết của Trayvon Martin, đồng bảo trợ dự luật, dân biểu Dennis Baxley, vẫn bảo rằng “trao quyền” cho người dân sẽ giúp chặn bạo lực.
“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.