Hôm nay,  

Di Chúc Doha

16/08/200600:00:00(Xem: 7711)

Điều kinh khủng nhất là qua năm tới, VN sẽ bị chi phối bởi hệ thống luật lệ quốc tế còn lớn hơn luật lệ của đảng và nhà nước mà đa số dân vẫn chưa biết gì về những luật lệ ấy...

Vòng đàm phán Doha để mở rộng ngoại thương cho các nước nghèo trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã tan vỡ tháng trước, vì lý do chính là chế độ bảo hộ nông nghiệp của các nước giàu. Hậu quả của việc ấy sẽ ra sao với các nước đang phát triển như Việt Nam" Diễn đàn Kinh tế đài Á Châu Tự Do RFA tìm hiểu vấn đề này qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tiếp tục loạt bài từ mấy kỳ vừa qua về việc vòng đàm phán Doha của tổ chức WTO bị tan vỡ, chúng tôi xin đề nghị là kỳ này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về hậu quả. Câu hỏi đầu tiên là liệu có thực rằng vòng đàm phán Doha này vị tan vỡ và hết còn hy vọng cứu vãn gì được hay không"

- Tôi không mấy tin vào phép lạ và sự giác ngộ của lãnh đạo của các nước đã phát triển. Lần trước, các nước có vòng đàm phán Uruguay phát động vào Tháng Chín năm 1986 từ hội nghị tại Punta del Este của xứ Uruguay và kéo dài gần tám năm, cũng với những thời mấp mé khủng hoảng và tan vỡ, nhưng sau đó đã thành công vào Tháng Tư năm 1994, với kết quả là lập ra tổ chức WTO thay thế hệ thống General Agreement on Tariffs and Trade, là hệ thống thỏa ước chung giữa 125 quốc gia về thuế biểu và thương mại. WTO ra đời từ đó.

- Hỏi: Xin hỏi ngay ông, nếu vòng Uruguay mất gần tám năm mới hoàn tất để tạo ra một bước chuyển biến quan trọng trong luồng giao dịch mua bán của các nước, thì tại sao vòng Doha lại không được như vậy sau khi được tổ chức WTO khởi xướng vào năm 2001"

- Tôi nhìn thấy hai lý do gần và xa xoay quanh hai khối kinh tế đã gây đổ vỡ cho vòng Doha là Hoa Kỳ và Âu châu. Gần là khả năng thương thuyết của các chính quyền tại Hoa Kỳ và Âu châu. Xa là khung cảnh chiến tranh và mâu thuẫn toàn cầu.

Trước tiên, tại Hoa Kỳ và Âu châu, khuynh hướng bảo hộ mậu dịch đang thắng thế trong chính trường, với thế lực quá mạnh và đầy bất công của các nhóm áp lực về nông nghiệp. Hoa Kỳ có đạo luật Thương mại năm 2002 mà chính quyền của Tổng thống George W. Bush đã chật vật vận động và tranh đấu mãi mới được, theo đó, Hành pháp có rộng quyền thương thảo về mậu dịch và chuyển qua Quốc hội phê duyệt kết quả theo thủ tục nhanh gọn là chấp nhận trọn vẹn các hiệp định thương mại hay không. Đạo luật gọi là thủ tục ngoại thương nhanh gọn ấy sẽ hết hạn vào cuối tháng Sáu năm tới. Kể từ đấy, Quốc hội Mỹ sẽ cứu xét mọi hiệp định theo từng điều khoản một và có thể đòi tu chính, sửa đổi, khiến mọi việc thỏa thuận đã hoàn tất sẽ phải được thương thuyết lại. Với tư thế chính trị sa sút hiện nay vì hồ sơ Iraq trước một Quốc hội có xu hướng bảo hộ mậu dịch mạnh hơn và có khi còn thay đổi sau cuộc bầu cử tháng 11 này, Tổng thống Bush khó yêu cầu Quốc hội lại cho mình rộng quyền thương thảo về mậu dịch như trong mấy năm qua, căn cứ trên đạo luật về thẩm quyền ngoại thương 2002.

Bên kia Đại Tây Dương, năm tới đây, các nước Âu châu cũng sẽ có bầu cử, nhất là bầu cử tại Pháp là quốc gia đòi duy trì chế độ trợ cấp nông nghiệp mạnh nhất, cho nên các chính khách đều phải lấy lòng cử tri mà không chịu nhượng bộ thêm về ngoại thương. Vì vậy, năm tới đây chưa chắc các nước đã khai thông được vòng Doha. Năm 2008, lại có bầu cử tổng thống tại Mỹ và trong một năm bầu cử thì chẳng ai dám để mất phiếu một thành phần cử tri nào cả.

- Hỏi: Đó là lý do gần, còn lý do xa"

- Dường như người ta quên rằng thế giới đang ở trong thời kỳ chiến tranh, một loại chiến tranh đặc biệt và lan rộng qua mọi biên cương quốc gia vì xu hướng Hồi giáo quá khích, thuộc cả hai hệ phái Sunni và Shia. Chiến tranh sẽ chỉ tăng chứ không giảm nên ưu tiên của lãnh đạo các nước sẽ dồn vào việc đó, kể cả phản ứng và những đòn phép của nhiều xứ chống lại Hoa Kỳ lẫn đối phó với hậu quả suy sụp về kinh tế toàn cầu. Trong hoàn cảnh đó, việc cắt giảm trợ cấp nông nghiệp tại các nước giàu để cứu giúp các nước nghèo càng ít được chú ý và chấp hành. Các nước sẽ giao dịch mua bán với nhau theo khuôn khổ của từng thỏa ước thương mại song phương hơn là những quy định chung sẽ khó đạt trong cơ chế quốc tế của WTO.

- Hỏi: Bây giờ, chúng ta sẽ bước qua phần hậu quả. Nếu vòng đàm phán Doha thực sự tan vỡ thì những chuyện gì sẽ xảy ra"

- Các nước tiếp tục phát triển ngoại thương với nhau nhưng sẽ tranh đấu rất mạnh để tranh thủ quyền lợi của mình qua các hiệp định thương mại song phương hay cấp vùng, nghĩa là trong phạm vi của từng khối kinh tế. Vì vậy, hậu quả của Doha không nhất thiết là sự suy sụp trong khối lượng hàng hoá các nước sẽ mua bán với nhau. Tuy nhiên, di chúc của Doha là khu vực canh nông và nông nghiệp của các nước nghèo sẽ bị thiệt hại nhất vì chế độ bảo hộ nông nghiệp của các nước giàu. Chẳng những khó bán nông phẩm cho các nước giàu lại còn bị các nước giàu cạnh tranh rất mạnh trong khu vực nghèo đói nhất của nền kinh tế và của xã hội.

Hậu quả chung cuộc là các khu vực biến chế công nghiệp và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng nhờ trao đổi tự do nhưng khu vực nông nghiệp lạc hậu của các nước nghèo lại bị thiệt thòi và bị bỏ rơi trong đà toàn cầu hoá của kinh tế thế giới. Và động loạn xã hội càng dễ xảy ra. Nhiều người sẽ càng chống toàn cầu hóa, càng thù ghét các nước công nghiệp Tây phương, nhiều khu ổ chuột sẽ bành trướng ở các vùng ven đô, ở ngoại ô thành thị và đấy sẽ lại là môi trường phát sinh khủng bố nếu được tiếp tế võ khí và tiếp nhận những tư tưởng cực đoan quá khích.

- Hỏi: Xin đề nghị là ông phân tách chuyện này trong chi tiết vì đây là một điều khá mới lạ cho nhiều người.

-Đầu đuôi là sự lệch lạc trong cơ chế ngoại thương giữa các nước khiến chế độ trợ cấp nông sản cho một thiểu số ở các nước giàu nhất gây thiệt hại nhiều nhất cho một đa số nghèo nhất của các nước nghèo. Giới kinh tế nói tới phần đóng góp ngày càng ít hơn của nông nghiệp trong luồng trao đổi toàn cầu, từ gần 40% cách đây nửa thế kỷ nay chỉ còn ở khoảng 7%. Tính theo tổng sản lượng của thế giới thì nông nghiệp chỉ chiếm có 4% mà thôi, nhưng là khu vực nuôi sống đa số dân chúng tại các nước nghèo. Chế độ bảo hộ nông nghiệp của các nước giàu khiến họ xuấu khẩu nông sản nhiều và nhanh hơn các nước nghèo và gần hai chục nước giàu nhất thế giới trong khối OECD một năm lại trợ cấp đến 240 tỷ Mỹ kim cho nông gia của họ.

Tại các nước nghèo, thành phần sống nhờ nông nghiệp ở tại nông thôn vẫn chiếm đa số, tại Việt Nam là hơn 75% dân số. Họ hưởng lợi nhờ kinh tế tự do và nhờ toàn cầu hóa không bằng thành phần thị dân hoạt động trong hai khu vực công nghiệp và dịch vụ, vốn là hai khu vực có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Hậu quả là hiện tượng đô thị hoá tự phát, người dân tại nông thôn phải chạy vào thành phố kiếm ăn và sống trong những khu ổ chuột tồi tàn, trong những điều kiện cùng khốn mà họ thấy là bất công. Vòng Doha dự tính phá vỡ cái vòng luẩn quẩn khắc nghiệt ấy mà không thành cho nên nông thôn các nước nghèo sẽ bị hậu quả nặng nề nhất.

- Hỏi: Chúng ta bắt đầu nói vào trường hợp Việt Nam, với những hậu quả ra sao"

- Trước tiên, ta phải nói về hiện trạng, sau đó mới là chuyện gia nhập WTO trong cơ chế lệch lạc về mậu dịch nông sản. Việt Nam cũng giống như Trung Quốc, đang được lãnh đạo bởi một đảng tự xưng là xã hội chủ nghĩa mà lại có chính sách ít xã hội nhất, trong ý nghĩa là ít chú ý đến đa số bình dân nghèo túng. Thiểu số cầm quyền là thiểu số nhặm lẹ tiến vào kinh tế thị trường và toàn cầu nhờ đó kiếm lợi nhiều nhất cho bản thân, phần còn lại thì rơi vãi cho người dân. So với thời trước khi đổi mới thì cuộc sống có thay đổi, mức sống có gia tăng. Nhưng, đa số sống tại nông thôn lại không được như vậy nên họ phải dồn vào thành phố kiếm sống và hiện tượng tự phát ấy gây ra rất nhiều vấn đề xã hội mà báo chí nói tới ngày một nhiều hơn. Việt Nam có bị hiện tượng đô thị hoá hỗn loạn như hầu hết các nước nghèo, nhưng còn lãnh thêm cái họa của "định hướng xã hội chủ nghĩa".

- Hỏi: Ông giải thích thế nào về hậu quả của cái gọi là "định hướng xã hội chủ nghĩa" ấy đối với đời sống nông dân"

- Nhà nông của ta không có những thông tin và kiến thức hiện đại về canh nông và thương mại. Họ chỉ có sức lao động và coi việc lấy công làm lãi là quy luật sống. Từ khi chính quyền chấm dứt chế độ hợp tác hoá của thời chủ quan duy ý chí, nông dân có thêm một yếu tố đáng kể là đất đai, nhưng đất đai vẫn thuộc quyền quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa khiến đảng viên cán bộ có quyền cướp đất để công nghiệp hoá và đô thị hoá.

Chúng ta đang thấy tái diễn hiện tượng đại điền chủ của thời phong kiến, nhưng được đổi mới, đại điền chủ ngày nay là đảng viên doanh gia, làm chủ những trang trại lớn và dùng quyền thế của mình để bồi thường quyền sử dụng đất một cách bất công. Đấy là một hiện tượng tham nhũng hợp pháp khiến dân chúng phải biểu tình khiếu kiện từ nhiều năm nay mà đảng và nhà nước không hề giải quyết.

- Hỏi: Ông dùng một phạm trù khá kỳ lạ là "tham nhũng hợp pháp", cái đó là gì"

- Việt Nam có một chế độ thực tế là đảng viên tham nhũng cho đảng vì đảng không hoạt động công khai với ngân sách hay quỹ đảng được thông báo minh bạch như đảng phái chính trị ở các xứ khác. Chỉ khi nào đảng viên tham nhũng cho đảng rồi nhân đó tham nhũng cho riêng mình với một tỷ lệ "không phải đạo" vì quá lớn, thì nội vụ mới được đảng cho phép báo chí tiết lộ và các cơ quan hữu trách điều tra. Chuyện đảng viên ở địa phương cướp đất của dân để đầu cơ về địa ốc hoặc thành lập công ty liên doanh với nước ngoài là phù hợp với chính sách ở trên, nên nông dân có biểu tình hay tự thiêu thì ở trên vẫn làm ngơ.

- Hỏi: Ông hay có lối nói đầy nghịch lý, nhưng có thể chứng minh được những luận cứ đó hay không"

- Chúng ta sẽ phân tích chuyện này một cách cụ thể trong một kỳ khác khi bàn về chính sách nông nghiệp của Việt Nam, tôi chỉ xin nói ngay rằng Trung Quốc có thấy vấn đề ấy và đang cố sửa sai, còn Việt Nam thì chưa.

- Hỏi: Nhưng, liệu việc Việt Nam gia nhập WTO có thay đổi được tình hình ấy hay không"

- Có thay đổi khi mà thiểu số có chức có quyền ngày nay sẽ bị cạnh tranh và người ta phải vén khéo hơn trong cách sung dụng tài nguyên và công sản. Riêng đối với nông dân thì tình hình sẽ thay đổi rất chậm vì quyền lợi của họ vẫn không được bảo vệ, mà họ lại gặp sự cạnh tranh rất mạnh của nước ngoài, của nông phẩm hay hàng chế biến gốc nông nghiệp của nước ngoài.

Điều kinh khủng nhất là qua năm tới, Việt Nam sẽ bị chi phối bởi một hệ thống luật lệ quốc tế còn lớn hơn luật lệ của đảng và nhà nước mà đa số người dân vẫn chưa biết gì về những luật lệ ấy, và càng chưa biết về cách ứng phó hay khai thác sao cho có lợi. Rốt cuộc thì một thiểu số ở thành thị sẽ biết sớm nhất, kiếm lợi nhiều nhất và đa số trong thiểu số may mắn này lại là đảng viên cán bộ nhà nước. Chúng ta sẽ còn có dịp quay trở về đề tài này…

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.