Hôm nay,  

Giai Thoại

10/06/200300:00:00(Xem: 5598)
"Tất cả là thật, bởi vì tôi bịa. Tất cả là giả, bởi vì tôi viết." "Tout est vrai, puisque je l'invente. Tout est faux, puisque je l'écris." (Raphael Marcoeur)
Đó là câu đề từ, mở ra cuốn "Giai Thoại" (Légendes) của nhà văn Martin Winckler. Cuốn sách của ông đúng là một giai thoại của thời đại viết lên trời xanh, tức không gian ảo internet. Một thứ fơi-ơ-tông, như ông định nghĩa. Những gì bạn đang đọc trên giấy chính là những gì đã được viết lên trời xanh trước đó.
***
Thứ Hai, 29 Tháng Tư, 2002 : Ngày mai là 30 Tháng Tư.
***
Thứ Ba 30 Tháng Tư: "Kalandia Là Trái Tim Của Thế Giới, nhưng Thế Giới Không Có Kalandia" ("Kalandia Is the Heart of the World but the World is Without Kalandia").
Đây là câu viết trên tường trại tị nạn của người Palestine, Kalandia, trong "Thư từ Ramallah", tác giả Peter Lagerquist, trên tờ TLS, số đề ngày 19 tháng Tư, 2002.
***
Ngày 1.5.2002.
Chế Lan Viên:
Bánh Vẽ
Chưa cầm lên nếm anh đã biết là bánh vẽ
thế nhưng anh vẫn ngồi bàn cùng bè bạn
cầm lên nhấm nháp
chả là nếu anh từ chối
chúng sẽ bảo anh phá rối đêm vui!
(Di cảo 1987)
[Trích theo Tưởng Năng Tiến]

Milosz:
Tẩy Trần
Vào cuối đời, một nhà thơ suy nghĩ: Mình đã đắm đuối vào bao nhiêu chuyện quỉ ma, bao nhiêu điều ngu si đần độn của cái gọi là thời đại của mình. Bây giờ cần phải ngụp thật sâu vào trong một bể nước, kỳ cọ, chà sát sao cho văng tất cả chất dơ ấy đi. Nhưng chính là do bao lâu nay ôm lấy cái dơ dáy đó, mình mới là mình. Mình mới là nhà thơ của thế kỷ thứ hai mươi; biết đâu đấy, có khi Thượng Đế muốn như vậy, bởi vì chỉ có như vậy mình mới không biến thành vô dụng, trước Người.
[Trích trong "Chó bên đường" ("Road-side Dog") ]
****
Ngày 5/5/2002:
Tôi đã thấy một con công đuôi rực lửa

Tôi đã thấy một con công đuôi rực lửa
Tôi đã thấy một sao chổi chói lòa trút mưa đá
Tôi đã thấy một đám mây được bọc bằng cành cây ô rô
Tôi đã thấy một cây sồi bò dưới đất
Tôi đã thấy một con kiến nuốt một con cá voi
Tôi đã thấy biển đầy tràn bia
Tôi đã thấy một cốc pha lê cao đủ năm thước
Tôi đã thấy một cái giếng đầy nước mắt đàn ông khóc
Tôi đã thấy một ngọn lửa toàn mắt đỏ
Tôi đã thấy một căn nhà lớn hơn mặt trăng và cao hơn
Tôi đã thấy mặt trời vào lúc mười hai giờ đêm
Tôi đã thấy một người đàn ông đã thấy cảnh kỳ diệu này.
Vô danh

Bài "đồng dao" trên làm nhớ tói một bài đồng dao của con nít người Việt:

Bao giờ cho đến tháng Ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm sôi nuốt bé lên mười...

Nhưng hãy thử "gán ghép" những cảnh kỳ diệu trên đây cho những ngày vừa qua. Con công đuôi rực lửa: những trái hoả tiễn bay trên nền trời Sài Gòn" Căn nhà lớn hơn mặt trăng: Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười" Mặt trời đêm: Những ánh mắt hoả châu là hoa đăng ngày cưới"
Và người đàn ông đã thấy cảnh kỳ diệu này: nhà văn như một kẻ sống sót"

Bài thơ trên, trích từ "Chuyện và Thơ dành cho những Trẻ Em Cực Kỳ Thông Minh của Mọi Lứa Tuổi" (Stories and Poems for Extremely Intelligent Children of All Ages", nhà xb Scribner, 2001), do Harold Bloom tuyển chọn. Ông này là một thế giá của cõi văn Tây, và là tác giả những cuốn như Cõi Văn Tây (The Western Canon), Đọc: Thế nào, Tại sao (How to Read and Why), Bản Đồ Đọc Lộn (A Map of Misreading)...
Cuốn sách xếp theo mùa, Xuân Hạ Thu Đông, mùa nào đọc thứ ấy. Trong Lời Dẫn, ông viết: Nếu độc giả đã kinh qua những tác giả như Shakespeare, Chekhov, Henry James, và Jane Austen, như vậy là đã được sửa soạn chu đáo để đọc những tác giả như Lewis Caroll [tác giả Alice lạc vào Xứ Huyền Ảo], Edward Lear, Robert Louis Stevenson [Đảo Kho Tàng], và Rudyard Kipling [Kim].


Thế đấy, muốn đọc chuyện, thơ con nít là phải đọc những đại danh gia dành cho người! Nói rõ hơn, gừng càng già càng... mê chuyện con nít!

Ông giải thích sự ra đời của cuốn sách, liền ngay sau khi ông khởi sự viết cuốn Đọc Làm sao và Tại sao: Thoạt đầu tôi nghĩ, nó sẽ là một bạn đường của đọc. Và nó sẽ có tên là "Người đọc cô đơn". Nhưng mỗi lúc ông lại nhận ra, ông cần một cuốn sách cho những người đọc trẻ hơn mình.
"Khi mệt mỏi, cách đọc của tôi tìm gặp lại cái thú đọc sách của một đứa con nít. Khi là một đứa con nít, mỗi lần tôi tương tư - fall in love - một bài thơ, là tôi đọc đi đọc lại hoài, tới khi thuộc lòng. Rồi tôi đi ra ngoài, hát bài thơ, hát đi hát lại cho chính tôi".
"Bây giờ tôi vẫn thấy con nít làm như vậy."
****

20.5.2002:
Cioran: Không phải ai cũng có cơ may chết trẻ...

Trong bài Tuyệt Bi, George Steiner viết: ".... Hiện nay, phát ngôn viên tuyệt bi - bi kịch tuyệt đối - là một nhà châm ngôn (Cioran). Chỉ có tản mạn, ở đó hoàn tất là cắt xẻo, là chấm hết - nhờ vậy mà được miễn dịch, dưới ánh sáng".
Chỉ có tản mạn....
Và mớ tản mạn đó là vài ba chục tác phẩm, đa số được viết dưới dạng châm ngôn, "giai thoại".

Khi nói chuyện với Fernando Savatar, Cioran cho biết lý do:
-Nếu tôi không lầm, ông hỏi tôi, tại sao không câm lặng mà cứ lải nhải chung quanh sự câm lặng.
Để bắt đầu [trả lời câu hỏi của ông], tất cả mọi người không có cái may mắn là được chết trẻ. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi, được viết bằng tiếng [mẹ đẻ] lỗ mã ni, vào lúc tôi 21 tuổi, với lời tự hứa, là mình sẽ chẳng tiếp tục viết. Rồi thì, lòi ra thêm cuốn nữa, vẫn một lời tự hứa như trên. Trò hề cứ thế lập đi lập lại trong vòng hơn 40 năm. Tại sao"
Bởi vì viết, cho dù chỉ tí ti, nó giúp tôi qua được niên này tới niên tới, bởi vì, những ám ảnh, những quằn quại... [một khi] được diễn tả (exprimés) [nhờ vậy sẽ] dịu xuống, yếu đi, và một phần được vượt qua. Tôi chắc chắn một điều, nếu không bôi đen mấy tờ giấy trắng, tôi đã ngỏm từ đời nảo đời nào rồi.

Viết là một niềm an ủi tuyệt vời. In sách cũng vậy. Bạn có thể cho là lố bịch, nhưng sự thực là thế đấy.
-Ông viết, "Một cuốn sách phải quậy nát bấy, những vết thương... Một cuốn sách phải là một hiểm nguy. Những cuốn sách của ông, chúng nguy hiểm theo nghĩa nào""
"Thì đúng như vậy. Hãy nghe này:... khi cuốn Précis của tôi ra lò, một tay phê bình của tờ Thế Giới (Le Monde) gởi cho tôi một lá thư, với lời trách móc: 'Ông không nghĩ đến hậu quả, nếu cuốn sách lọt vào tay mấy người trẻ tuổi"'. Thật là phi lý! Sách phục vụ lớp trẻ" Phục vụ như thế nào" Dạy dỗ chúng" Giúp chúng học" Nếu như vậy, chúng chỉ cần tới trường, tới lớp."
"Không, tôi cho rằng cuốn sách đúng là một vết thương. Nó phải thay đổi cuộc đời của người đọc, cách này hoặc cách khác.... Một bà viết về tôi, mới đây (1), trên tờ Le Quotidien de Paris: 'Cioran viết điều mà người ta phải nói thầm, khi nhắc lại'. Tôi không viết, theo nghĩa 'làm ra một cuốn sách', để cho người ta đọc. Không, tôi viết để hất đi một gánh nặng cho tôi. Nhưng rồi sau đó, khi nghĩ về 'nhiệm vụ của những cuốn sách của tôi' (la fonction de mes livres), tôi nói với mình, chúng phải như một vết thương. Một cuốn sách, mà người đọc 'vũ như cẩn' sau khi đọc nó, là một cuốn sách vứt đi."
(Bài phỏng vấn này, được thực hiện cho một tờ báo tiếng Tây Ban Nha, El Pais, số đề ngày 23 tháng Mười 1977, nhan đề có nghĩa là: "Viết chống lại tuyệt vọng". Những trích đoạn trên, là từ bản tiếng Pháp, của Gabriel Iaculli, trong "Cioran, Phỏng Vấn", nhà xb Gallimard, 1995).
NQT

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiếm ai có thể hình dung cơn bão tin giả (fake news) hoành hành khắp nước Mỹ trong tám năm qua, từ cuộc bầu cử 2016, lại thổi đến từ Veles – một thị trấn xa xôi nằm phía tây nam châu Âu, ở North Macedonia, trên dòng sông Vardar êm ả. Không nói cũng không ai biết. Những câu chuyện trong bóng tối này mãi mãi không bước ra ánh sáng, hoặc cũng chỉ rất ít người biết đến, thấu rõ đường đi nước bước của thánh địa tin giả này, cho đến khi cuốn sách “The Book Of Veles” của nhiếp ảnh gia Jonas Bendiksen được xuất bản. Ông là người Na-Uy, thành viên của hội nhiếp ảnh danh giá Magnumphoto.
Có nghiên cứu đã chỉ ra rằng sắc đẹp sẽ mang lại lợi thế trong các mối quan hệ, học tập và công việc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu việc “không được đẹp đẽ” không chỉ là một điều bất lợi mà còn bị coi là phạm pháp? Từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, ở Hoa Kỳ từng có các luật gọi là “luật xấu xí” (ugly laws), cấm những người có vẻ ngoài “khó coi” xuất hiện ở các nơi công cộng.
Dự án 2025 đề ra những thay đổi sâu rộng trong toàn bộ chính phủ liên bang, đặc biệt trong chính sách kinh tế và xã hội, và vai trò của chính phủ và các cơ quan liên bang. Trong những thay đổi đó có cả việc cắt giảm tài trợ cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ), tháo dỡ cơ quan điều tra FBI và Bộ An ninh Nội địa, hủy bỏ các quy định về môi trường và biến đổi khí hậu để giúp gia tăng sản xuất nhiên liệu như dầu hỏa, cùng loại bỏ các Bộ Giáo dục và Thương mại ra khỏi nội các chính phủ. Hãng thông tấn Associated Press có một bài tóm tắt song rành mạch những chương trình của Dự án 2025 đối nội cũng như đối ngoại, tại đường dẫn này. Bao gồm trong Dự án 2025 cũng gồm cả việc lập tức dùng Đạo luật nổi dậy năm 1807 để tổng thống có thể ra lệnh cho quân đội vào dẹp các vụ biểu tình chống đối chính phủ, cùng chỉ đạo Bộ Tư pháp truy lùng các đối thủ của ông Trump. Chính ông Trump cũng đã từng tuyên bố với những người ủng hộ ông là ông là người sẽ giúp họ phục hận. Theo luật hiện hành, quân đội không đượ
Nghèo đói là yếu tố quyết định mạnh mẽ của bệnh Lao. Môi trường sống và làm việc đông đúc và kém thông gió thường liên quan đến nghèo đói, tạo thành các yếu tố gây nguy cơ trực tiếp cho việc lây truyền bệnh lao. Suy dinh dưỡng cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng để bệnh phát triển. Nghèo đói lại cũng liên quan đến tình trạng kém kiến thức về sức khỏe và từ đó thiếu những sự bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày dẫn đến nguy cơ tiếp xúc và truyền bệnh.
Trong hai ngày Thứ Bảy & Chủ Nhật 17 & 18/08/2024, tại Bowers Museum, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt phối hợp cùng Trung Tâm Việt Nam Texas Tech University, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt - Mỹ University of Oregon đã tổ chức hai buổi triển lãm và thảo luận về hai chủ đề: Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc Việt Nam và Cuộc Di Cư Năm 1954. Khoảng 1,000 lượt người đã đến tham dự hai sự kiện về lịch sử từ bảy thập niên trước. Có thể nói rằng lâu lắm rồi tại Thủ Đô Người Việt Tị Nạn mới có một sự kiện lịch sử được tổ chức với qui mô lớn và công phu như thế. Động lực nào đã khiến ba tổ chức chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam cùng nhau tổ chức sự kiện này? Ông Châu Thụy, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt nói lời khai mạc, chào mừng mọi người đến với cuộc triển lãm và hội thảo, để cùng nhau ôn lại, nhìn theo những góc nhìn mới về hai sự kiện lịch sử vẫn còn ảnh hưởng đến người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại đến tận ngày hôm nay.
Hiểu cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam đòi hỏi phải đặt nó trong một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn, thay vì xem xét nó một cách tách biệt. Được khởi xướng bởi Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1953, cải cách ruộng đất bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện biến động sau Thế chiến II. Sự kết thúc của cuộc chiến, nạn đói năm 1945, và cuộc đấu tranh sau đó để giành độc lập khỏi ách thực dân Pháp đã tạo ra một không khí cách mạng ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh Pháp-Việt (1946-1954) đã làm tăng sự cấp bách cho những thay đổi xã hội và kinh tế triệt để khi Việt Minh tìm cách củng cố quyền lực và giải quyết các bất bình giữa người giàu và người nghèo do khai thác thực dân gây ra.
Cuối tuần vừa qua tôi đi dự hội thảo về Việt Nam tại Bảo tàng Bowers ở thành phố Santa Ana, thủ phủ của Quận Cam. Hai ngày hội thảo với hai chủ đề có liên quan với nhau là Cải cách Ruộng đất 1953-56 và Di cư 1954. Xong ngày đầu của hội thảo, đi ăn tối với một bạn sống ở Quận Cam từ năm 1978, khi biết chủ đề là về cải cách ruộng đất, bạn hỏi ngay: “Có hình Hồ Chí Minh cầm khăn khóc không?”. Bạn tôi ít quan tâm đến sinh hoạt cộng đồng nhưng cũng biết sử Việt vì là con trong gia đình bắc di cư 54, lớn lên tại miền Nam và sống ở đó cho đến khi vượt biển. Hình Hồ Chí Minh khóc và sự kiện bà Nguyễn Thị Năm đóng góp nhiều vàng cho Việt Minh rồi cũng bị đấu tố trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam từ 1953 đến 1956 có lẽ là những hiểu biết cơ bản của nhiều người Việt, dù không chứng kiến hay trực tiếp là nạn nhân trong sự việc. Những hình ảnh đó hôm nay cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Bowers và có trong bài nói chuyện của diễn giả tại hội thảo.
Chương trình Triển Lãm Và Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt & Cuộc Di Cư 1954 vừa chấm dứt. Việt Báo đăng lại toàn bài của giáo sự Trần Huy Bích chiều Chủ Nhật ngày 18 tháng 8 tại Bowers Museum kể lại câu chuyện di cư của Ông và bối cảnh Bắc Việt những ngày tháng 8, 1954.
John Andrew Jackson vừa chào đời đã mang phận nô lệ, và được định sẵn là sẽ dành trọn kiếp sống tủi nhục trên những cánh đồng bông vải ở Nam Carolina. Nhưng, không cúi đầu trước số phận, Jackson đã thoát khỏi cảnh nô dịch, trở thành một diễn giả và văn nhân có ảnh hưởng lớn đến phong trào bãi nô. Ông cũng là nguồn cảm hứng cho tác phẩm kinh điển Uncle Tom's Cabin (Túp Lều của Chú Tom) của Harriet Beecher Stowe, xuất bản năm 1852. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về chế độ nô lệ này được nhiều sử gia đánh giá là đã góp phần thúc đẩy cuộc Nội chiến của Hoa Kỳ.
(Little Saigon-VB) - Để đánh dấu 70 năm cuộc di cư Bắc Nam hậu Hội nghị Geneva; và cùng nhìn lại sự kiện Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam dưới thời VNDCCH với tác động, hệ lụy trên cả nước đối với quốc gia, dân tộc Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Trung Tâm Việt Nam ĐH Texas Tech, Trung Tâm Nghiên Cứu Việt-Mỹ ĐH Oregon phối hợp tổ chức Triển Lãm Thảo Luận Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt và Cuộc Di Cư 1954: Hai Biến Cố Thay Đổi Lịch Sử Việt Nam Hiện Đại vào hai ngày: Thứ Bảy, ngày 17 tháng 8: Cải cách ruộng đất và đấu tranh giai cấp ở miền Bắc Việt Nam, 1953-1957; Chủ nhật, ngày 18 tháng 8: Cuộc di cư của gần 1 triệu người từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954 tại Bowers Museum 2002 N. Main St, Santa Ana, CA 92706.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.