Hôm nay,  

Trâu Chậm Và Nước Đục

05/07/200600:00:00(Xem: 3760)

...Khối lượng đầu tư của VN sở dĩ còn thấp là vì tham ô và thất thoát. Tôi gọi đó là ‘ảo giác số một’, của cái định hướng xã hội chủ nghĩa, và truyền thông giới đầu tư nước ngoài thì khen VN giỏi chứ đa số người VN thì vẫn cúi đầu ngậm ngùi, khó chiu.

Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO trong khi ấy nhiều chỉ dấu lại như tiên báo viễn ảnh thiếu sáng sủa cho kinh tế Đông Á vào năm tới. Trước những triển vọng và rủi ro trong tương lai, Việt Nam nên chuẩn bị ra sao" Diễn đàn Kinh tế đài RFA nêu câu hỏi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tiếp tục loạt bài về nguy cơ suy trầm kinh tế trong năm tới, kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ trao đổi về những gì Việt Nam cần chuẩn bị. Nhưng trước hết, xin có một câu hỏi đầu tiên mà nhiều thính giả đang thắc mắc là vòng đàm phán của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO bị bế tắc vào cuối tuần qua, biến cố ấy là gì"

- Thưa biến cố ấy là điều mà Việt Nam cần theo dõi học hỏi trước viễn ảnh sẽ gia nhập tổ chức WTO vào cuối năm nay. Thứ Bảy tuần qua, hội nghị của WTO để khai thông vòng đàm phán Doha thực tế đã tan vỡ và đây là một tin rất kém vui cho các hội viên WTO.

- Hỏi: Xin ông giải thích luôn về vòng đàm phán Doha này và nguyên nhân tan vỡ đó.

- Tháng 11 năm 2001, tại Doha của xứ Qatar ở vùng Vịnh Ba Tư, các hội viên WTO đã mở ra một vòng đàm phán mới nhằm hạ thấp hàng rào giao dịch ngoại thương, như quan thuế biểu hay hạn ngạch nhập khẩu, với mục đích chính yếu là có chế độ mậu dịch công bằng hơn cho các nước nghèo. Sau các kỳ họp tại Cancun của Mexico rồi Genève tại Thụy Sĩ, rồi Paris rồi Hong Kong, gần năm năm đã qua mà mục tiêu đề ra tại Doha vẫn chưa đạt được và vòng đàm phán Doha vì vậy mới được nhiều nước coi là bế tắc, thậm chí sụp đổ.

Mọi cách đại lược, nguyên nhân chính ở đây là hai khối, gồm một bên là các nước công nghiệp hoá và bên kia là các nước đang phát triển, không thống nhất được quan điểm về chính sách trợ cấp nông phẩm của các nước giàu, chủ yếu của Liên hiệp Âu châu trong cái gọi là Chính sách Canh nông chung và của cả Hoa Kỳ. Lý do vắn tắt thì các nước nghèo đòi tối đa mà các nước giàu chỉ nhượng bộ tối thiểu, nhất là các nước đó đều sắp có bầu cử nên bị sức ép rất mạnh của các xu hướng bảo hộ mậu dịch bên trong và không thể lùi được.

- Hỏi: Nếu vậy, hậu quả sẽ ra sao"

- Có người lạc quan, có khi vì lý do ngoại giao chính trị, thì cho rằng vòng đàm phán Doha bị trì hoãn. Người bi quan thì cho là WTO bị khủng hoảng. Tôi thuộc xu hướng bi quan ấy và dự đoán là WTO sẽ bị tê liệt vì là diễn đàn tranh cãi kiện tụng triền miên trong thời gian tới.

Cùng với nhiều định chế quốc tế và các tổ chức ngoài chính phủ mà ta hay gọi tắt là NGO, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc lẫn các quốc gia xuất khẩu nông phẩm mạnh, như Úc Đại Lợi hoặc cả New Zealand, không chấp nhận được chế độ bảo hộ nông nghiệp của các nước giàu, nhất là Liên hiệp Âu châu. Mà Liên hiệp Âu châu đang bị khủng hoảng về bản sắc và tương lai nên sẽ khó nhượng bộ. Tại Hoa Kỳ cũng vậy, xu hướng bảo hộ mậu dịch đang gây sức ép với chính quyền của Tổng thống Bush cho nên tôi e rằng họp thì cứ họp chứ khai thông thì chưa.

- Hỏi: Nếu những dự đoán ấy là đúng thì tương lai WTO sẽ ra sao và giao dịch ngoại thương giữa các nước sẽ phát triển theo hướng nào"

- Tôi mong là mình đoán sai, nhưng e rằng WTO sẽ bị ách tắc vì là nơi kiện cáo triền miên và vì vậy, các nước khôn ngoan nhất đều đã nghĩ tới khuôn khổ hợp tác khác, là những thỏa ước thương mại song phương, hay cấp vùng, giữa một số quốc gia có liên hệ về địa dư với nhau. Xin nói ngay rằng đây là một kịch bản bất lợi cho các nước đang phát triển, nhưng đang thành hình trong thực tế nếu ta nhớ tới hàng loạt hiệp định thương mại song phương mà Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc đã ký kết với từng quốc gia, hoặc nếu ta nhớ tới các thỏa ước tự do mậu dịch cấp vùng đang được khai triển từ mấy năm qua.

- Hỏi: Vì sao ông lại cho rằng đấy là điều bất lợi cho các nước đang phát triển"

- Trong một cơ chế đa phương như WTO thì giàu nghèo yếu mạnh gì mỗi quốc gia cũng chỉ có một phiếu và nếu có khiếu nại kiện tụng thì cơ chế quốc tế này sẽ làm trọng tài xét xử. Ngược lại, trong các thỏa ước song phương hay cấp vùng, các nước giàu nhất vẫn giữ thế mạnh và thỏa mãn đòi hỏi cục bộ của từng quốc gia mà vẫn chiếm ưu thế trên tổng thể. Các nước nghèo mà không liên đới với nhau thì từng nước sẽ bị hay được thuyết phục đi vào những chọn lựa riêng lẻ, có lợi riêng cho mình trong trước mắt nhưng vẫn tùy thuộc quá nhiều vào thiện chí của đối tác đã công nghiệp hoá và có thế mạnh. Ngược lại, lãnh đạo một xứ hùng mạnh thì khó hy sinh quyền lợi của từng thành phần cử tri của họ trong một khuôn khổ quốc tế và thay vì phát triển ngoại thương qua WTO thì họ phát triển qua hướng khác, với từng nước hay từng nhóm quốc gia, trên từng địa hạt có chọn lựa.

- Hỏi: Trở lại chuyện Việt Nam, với viễn ảnh sẽ gia nhập WTO mà tổ chức này lại lâm khủng hoảng như ông nói thì tương lai sẽ ra sao"

- Có một sự thật cần nói ra dù làm nhiều người phật ý hoặc kém vui, đó là cảnh trâu chậm uống nước đục. Việt Nam họp chợ quá trễ nên ích lợi thì có đấy nhưng không nhiều như mình hy vọng và trước mắt sẽ gặp nhiều chuyện bẽ bàng nếu cứ lạc quan duy ý chí. Ngay trong khuôn khổ WTO, Việt Nam sẽ gặp vấn đề với các nước hội viên có cùng trình độ phát triển và cạnh tranh trên những thị trường tương tự, trước khi lo sợ là sẽ bị doanh nghiệp Mỹ hay Âu châu đổ bộ và tấn công ngay trên sân của mình, trong thị trường của mình.

Ngược lại, và đây là chuyện chính, Việt Nam cần chú ý nhiều hơn tới thỏa ước song phương với các đối tác quan trọng nhất, và đồng thời cũng cần ý thức được là mình không chiếm thế mạnh trong các hiệp định thương mại song phương đó. Mình cần người ta hơn là người ta cần mình. Một thí dụ nên theo dõi là các hiệp định thương mại song phương mà Hoa Kỳ đã ký kết với các nước Đông Á, gần đây nhất là với Nam Hàn. Mà với Hoa Kỳ thì còn tương đối công bằng dù họ đòi hỏi những điều cần thiết cho người dân Việt Nan là tự do hay nhân quyền, chứ với Trung Quốc thì khác. Việt Nam đã có thói quen ký kết hiệp định bất bình đẳng với Bắc Kinh và lãnh đạo ngày nay còn tích cực và kín đáo hơn trong những ký kết ấy vì Trung Quốc chẳng khi nào nêu vấn đề về dân chủ hay nhân quyền. Họ cần điều khác hơn.

- Hỏi: Chúng ta bước qua phần chính của chương trình, là trong viễn ảnh 2007, khi Việt Nam vừa gia nhập WTO mà kinh tế Đông Á có thể bị suy trầm như ông đã phân tách trong hai kỳ liên tiếp, Việt Nam cần chuẩn bị những gì"

Tôi thiển nghĩ rằng việc đầu tiên chính là một nỗ lực "giải ảo". Tự mình phải giải phóng mình ra khỏi những ảo giác mà đa số do lãnh đạo thổi lên cho quần chúng rồi lại cho rằng đấy là thành tích của chính mình. Ảo giác đầu tiên là tăng trưởng. Đó là tăng trưởng mà không phát triển. Mặt trái của nó là đầu tư quá nhiều mà tăng trưởng quá ít với kết quả không phân phối đồng đều, chìm bên dưới là nạn tham nhũng và thất thoát tài sản quốc gia.

- Hỏi: Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8% và có lẽ chỉ thua Trung Quốc thôi, vì sao ông lại gọi kết quả ấy là ảo giác"

- Xin nói tới ý niệm của kinh tế học nhập môn mà giới lãnh đạo kinh tế tại Việt Nam đều nghe ngoại quốc nói tới là "hệ số gia tăng của đầu tư", nói theo thuật ngữ kinh tế là ICOR. Đó là hệ số đầu tư ở đầu vào so với kết quả ở đầu ra mà ta gọi là mức tăng trưởng. Nó tùy thuộc trình độ tổ chức và kỹ thuật vào từng giai đoạn. Thí dụ như trình độ của Việt Nam ngày nay thì mình đầu tư ba phần sẽ thu hoạch được một. Ở các nước có trình độ tiên tiến hơn, hệ số ấy cao hơn nhiều, phải đầu tư năm phần mới ăn được một. Điều ấy giải thích vì sao các nước bắt đầu phát triển thường có tỷ lệ tăng trưởng rất cao, tới 6-7% một năm, trong khi các nước tiên tiến mà đạt được kết quả chừng 3-4% là hài lòng, 5% là hãn hữu.

- Hỏi: Đó là trường hợp chung cho thế giới, còn trường hợp Việt Nam thì sao"

Nôm na cho trường hợp Việt Nam thì mình có 100 đồng, cố chắt bóp dành 45 đồng cho việc làm ăn hay đầu tư. Ở trình độ sơ khai của mình thì hệ số gia tăng phụ trội của đầu tư có thể ở khoảng số ba, đầu tư ba phần thì tăng được một, nếu đầu tư 45% của Tổng sản lượng GDP thì đáng lẽ tốc độ tăng trưởng phải là 15% GDP; nếu đầu tư 30% sản lượng thì đạt tốc độ 10%, chả có phép lạ gì của đổi mới ở đây cả. Các nước Đông Á đi trước đều đã đạt kỷ lục 10% đó từ hơn ba chục năm trước, mà xã hội của họ công bằng hơn vì kết quả phân phối tốt đẹp hơn. Ngược lại, một thí dụ gần đây của Trung Quốc là thành phố Thiên Tân có đà tăng trưởng đến 20% nhưng chênh lệch giàu nghèo bị đào sâu tại Hoa lục đang là vấn nạn cho lãnh đạo xứ này vì nhiều tỉnh vẫn chưa ra khỏi thế kỷ 19 và nông dân bắt đầu biểu tình, nổi loạn.

So với khối lượng đầu tư của Việt Nam nhờ đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài và gần năm tỷ Mỹ kim của dân hải ngoại gửi về hàng năm thì Việt Nam phải có tốc độ tăng trưởng cao hơn 7-8% rất nhiều. Sở dĩ còn thấp như vậy là vì tham ô và thất thoát. Tôi gọi đó là "ảo giác số một", của cái định hướng xã hội chủ nghĩa, và truyền thông giới đầu tư nước ngoài thì khen Việt Nam giỏi chứ đa số người Việt Nam thì vẫn cúi đầu ngậm ngùi, khó chiu.

- Hỏi: Trong năm tới, nếu tốc độ tăng trưởng có giảm sút thì Việt Nam phải xử trí ra sao"

- Tôi cho là đà tăng trưởng có chậm lại thì cũng không quan trọng bằng một nỗ lực giải ảo thứ hai là quan tâm đến phẩm hơn lượng. Cụ thể là nhìn vào ngân sách chi tiêu gia đình của đại đa số dân chúng vẫn còn rất nghèo, nhất là ở thôn quê và các vùng xa, vùng sâu. Với viễn ảnh kinh tế suy trầm, lạm phát cao mà cạnh tranh lại kịch liệt hơn của năm tới, nông dân và người nghèo sẽ bị thiệt nhất. Chuyện chính yếu vì vậy không phải là cứu vãn doanh nghiệp nhà nước sẽ bị điêu đứng ở đô thị mà là phát triển nông thôn theo quy cách khác và trước mắt là giúp cho nhà nông không bị những giao động lớn về giá cả trên thị trường quốc tế.

Khi nông phẩm được giá, họ không lời nhiều vì cơ chế thu mua và xuất khẩu của mình chưa đủ tinh vi. Khi nông phẩm sụt giá, họ phá sản mà nhà nước chỉ lo cứu vớt doanh nghiệp thu mua và ngân hàng của nhà nước thì người dân bị thiệt và ta không khai thác được lợi thế của tự do mậu dịch. Chúng ta sẽ còn cơ hội trở lại những vấn đề này trong các kỳ tới.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.
Năm 1979, Steve cho xuất bản Indochina Newsletter là tài liệu liên quan đến các vi phạm nhân quyền tại Việt Nam sau ngày 30/4/1975, sau đổi tên thành Indochina Journal, rồi Vietnam Journal. Tôi và vài người Việt nữa đã cùng làm việc với Steve trong việc phối kiểm tin tức liên quan đến tù nhân lương tâm và dịch nhiều tài liệu của các phong trào đòi tự do dân chủ tại Việt Nam sang tiếng Anh, như Cao trào Nhân bản của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Diễn đàn Tự do của Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, các bài giảng về sám hối vào Mùa chay 1990 của linh mục Chân Tín, cũng như những tuyên cáo về tình trạng thiếu tự do tôn giáo của các Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát; của Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Linh mục Nguyễn Văn Lý.
Mục tiêu ban đầu khi Tổng thống John F. Kennedy thành lập USAID trong cuộc chiến tranh lạnh với Nga vào năm 1961, nội các của ông không chỉ nhắm đến các viện trợ dân sự và nhân đạo mà còn mang mục đích sâu xa hơn: Đó là sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác sẽ bảo vệ cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ. Mục đích này vẫn không thay đổi sau hơn sáu thập niên hoạt động của USAID, qua nhiều đời tổng thống Mỹ. Bởi lợi ích của nước Mỹ nằm khắp thế giới, những sự giúp đỡ, viện trợ trước mắt mang lại lợi ích chiến lược lâu dài cho nước Mỹ. Các nghiên cứu về USAID cho thấy quyền lực mềm của nước Mỹ do USAID đã mang lại thiện cảm về nước Mỹ, giúp hàng hóa, sản phẩm Mỹ được ưa chuộng tại các thị trường nội địa và gián tiếp giúp cho các tập đoàn Mỹ nhận được các hợp đồng kinh tế to lớn so với các đối thủ. Ngược lại, khi thiện cảm này bị mất đi, hay thậm chí bị ghét bỏ, làn sóng tẩy chay hàng Mỹ là lẽ đương nhiên. Những chương trình giáo dục, huấn nghệ cho trẻ em các nước chiến tranh
Doanh nhân Donald Trump đã khởi xướng trào lưu dân tuý và hai lần thắng cử tổng thống. Ngay khi xuất hiện lần đầu tiên trên chính trường để vận động tranh cử năm 2016, Trump không có tham vọng thu tóm quyền lãnh đạo Đảng Cộng hoà trong ý tưởng thù địch, mặc dù thể hiện nhiều quan điểm chống đối gay gắt. Ngược lại, ngày nay, "chủ thuyết Trump" chế ngự toàn diện mọi sinh hoạt của đất nước. Thực ra, khi nhìn lại hoạt động của Đảng trong thời hiện đại, đây là kết quả của một tiến trình dài nhằm tái định hình chiến lược bảo thủ mà Đảng đã đề ra vào những năm 1960.
Một trong những sắc lệnh hành pháp đầu tiên của Tổng thống Donald Trump là một đòn tấn công trực diện vào nguyên tắc hiến pháp lâu đời về quyền có quốc tịch theo nơi sinh (birthright citizenship). Quyền này được quy định trong Tu Chính Án Thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ, ghi rõ rằng bất kỳ ai sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ đều đương nhiên trở thành công dân Hoa Kỳ, không phân biệt nguồn gốc hay tình trạng nhập cư của cha mẹ.
Trong hơn một thế kỷ qua, vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland đã khiến hòn đảo này trở thành một trong những mục tiêu tham vọng của Hoa Kỳ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh (Cold War). Nhưng các nhà lãnh đạo Greenland vẫn luôn kiên quyết từ chối những lời đề nghị này. Từ kế hoạch mua lại đất đến các cuộc đàm phán thiết lập căn cứ quân sự, Greenland đã trở thành một trong những hòn đảo được săn đón nhất trên thế giới.
Hơn năm thập niên đã trôi qua, tuần này hàng loạt các bài báo dòng chính Hoa Kỳ đã đưa ra nghi vấn Nick Út có thể không phải người chụp tấm ảnh biểu tượng cuộc chiến Việt Nam trên các tờ báo lớn Hoa Kỳ: Washington Post, Los Angeles Times, National Catholic Reporter, CBS News, BBC, Vanity Fair... Câu hỏi được chạy dòng tít lớn trên các báo là liệu Nick Út chụp tấm hình, hay một người khác tên là Nghệ Nguyen đã chụp tấm hình này?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.