Hôm nay,  

Trâu Chậm Và Nước Đục

05/07/200600:00:00(Xem: 5742)

...Khối lượng đầu tư của VN sở dĩ còn thấp là vì tham ô và thất thoát. Tôi gọi đó là ‘ảo giác số một’, của cái định hướng xã hội chủ nghĩa, và truyền thông giới đầu tư nước ngoài thì khen VN giỏi chứ đa số người VN thì vẫn cúi đầu ngậm ngùi, khó chiu.

Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO trong khi ấy nhiều chỉ dấu lại như tiên báo viễn ảnh thiếu sáng sủa cho kinh tế Đông Á vào năm tới. Trước những triển vọng và rủi ro trong tương lai, Việt Nam nên chuẩn bị ra sao" Diễn đàn Kinh tế đài RFA nêu câu hỏi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tiếp tục loạt bài về nguy cơ suy trầm kinh tế trong năm tới, kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ trao đổi về những gì Việt Nam cần chuẩn bị. Nhưng trước hết, xin có một câu hỏi đầu tiên mà nhiều thính giả đang thắc mắc là vòng đàm phán của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO bị bế tắc vào cuối tuần qua, biến cố ấy là gì"

- Thưa biến cố ấy là điều mà Việt Nam cần theo dõi học hỏi trước viễn ảnh sẽ gia nhập tổ chức WTO vào cuối năm nay. Thứ Bảy tuần qua, hội nghị của WTO để khai thông vòng đàm phán Doha thực tế đã tan vỡ và đây là một tin rất kém vui cho các hội viên WTO.

- Hỏi: Xin ông giải thích luôn về vòng đàm phán Doha này và nguyên nhân tan vỡ đó.

- Tháng 11 năm 2001, tại Doha của xứ Qatar ở vùng Vịnh Ba Tư, các hội viên WTO đã mở ra một vòng đàm phán mới nhằm hạ thấp hàng rào giao dịch ngoại thương, như quan thuế biểu hay hạn ngạch nhập khẩu, với mục đích chính yếu là có chế độ mậu dịch công bằng hơn cho các nước nghèo. Sau các kỳ họp tại Cancun của Mexico rồi Genève tại Thụy Sĩ, rồi Paris rồi Hong Kong, gần năm năm đã qua mà mục tiêu đề ra tại Doha vẫn chưa đạt được và vòng đàm phán Doha vì vậy mới được nhiều nước coi là bế tắc, thậm chí sụp đổ.

Mọi cách đại lược, nguyên nhân chính ở đây là hai khối, gồm một bên là các nước công nghiệp hoá và bên kia là các nước đang phát triển, không thống nhất được quan điểm về chính sách trợ cấp nông phẩm của các nước giàu, chủ yếu của Liên hiệp Âu châu trong cái gọi là Chính sách Canh nông chung và của cả Hoa Kỳ. Lý do vắn tắt thì các nước nghèo đòi tối đa mà các nước giàu chỉ nhượng bộ tối thiểu, nhất là các nước đó đều sắp có bầu cử nên bị sức ép rất mạnh của các xu hướng bảo hộ mậu dịch bên trong và không thể lùi được.

- Hỏi: Nếu vậy, hậu quả sẽ ra sao"

- Có người lạc quan, có khi vì lý do ngoại giao chính trị, thì cho rằng vòng đàm phán Doha bị trì hoãn. Người bi quan thì cho là WTO bị khủng hoảng. Tôi thuộc xu hướng bi quan ấy và dự đoán là WTO sẽ bị tê liệt vì là diễn đàn tranh cãi kiện tụng triền miên trong thời gian tới.

Cùng với nhiều định chế quốc tế và các tổ chức ngoài chính phủ mà ta hay gọi tắt là NGO, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc lẫn các quốc gia xuất khẩu nông phẩm mạnh, như Úc Đại Lợi hoặc cả New Zealand, không chấp nhận được chế độ bảo hộ nông nghiệp của các nước giàu, nhất là Liên hiệp Âu châu. Mà Liên hiệp Âu châu đang bị khủng hoảng về bản sắc và tương lai nên sẽ khó nhượng bộ. Tại Hoa Kỳ cũng vậy, xu hướng bảo hộ mậu dịch đang gây sức ép với chính quyền của Tổng thống Bush cho nên tôi e rằng họp thì cứ họp chứ khai thông thì chưa.

- Hỏi: Nếu những dự đoán ấy là đúng thì tương lai WTO sẽ ra sao và giao dịch ngoại thương giữa các nước sẽ phát triển theo hướng nào"

- Tôi mong là mình đoán sai, nhưng e rằng WTO sẽ bị ách tắc vì là nơi kiện cáo triền miên và vì vậy, các nước khôn ngoan nhất đều đã nghĩ tới khuôn khổ hợp tác khác, là những thỏa ước thương mại song phương, hay cấp vùng, giữa một số quốc gia có liên hệ về địa dư với nhau. Xin nói ngay rằng đây là một kịch bản bất lợi cho các nước đang phát triển, nhưng đang thành hình trong thực tế nếu ta nhớ tới hàng loạt hiệp định thương mại song phương mà Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc đã ký kết với từng quốc gia, hoặc nếu ta nhớ tới các thỏa ước tự do mậu dịch cấp vùng đang được khai triển từ mấy năm qua.

- Hỏi: Vì sao ông lại cho rằng đấy là điều bất lợi cho các nước đang phát triển"

- Trong một cơ chế đa phương như WTO thì giàu nghèo yếu mạnh gì mỗi quốc gia cũng chỉ có một phiếu và nếu có khiếu nại kiện tụng thì cơ chế quốc tế này sẽ làm trọng tài xét xử. Ngược lại, trong các thỏa ước song phương hay cấp vùng, các nước giàu nhất vẫn giữ thế mạnh và thỏa mãn đòi hỏi cục bộ của từng quốc gia mà vẫn chiếm ưu thế trên tổng thể. Các nước nghèo mà không liên đới với nhau thì từng nước sẽ bị hay được thuyết phục đi vào những chọn lựa riêng lẻ, có lợi riêng cho mình trong trước mắt nhưng vẫn tùy thuộc quá nhiều vào thiện chí của đối tác đã công nghiệp hoá và có thế mạnh. Ngược lại, lãnh đạo một xứ hùng mạnh thì khó hy sinh quyền lợi của từng thành phần cử tri của họ trong một khuôn khổ quốc tế và thay vì phát triển ngoại thương qua WTO thì họ phát triển qua hướng khác, với từng nước hay từng nhóm quốc gia, trên từng địa hạt có chọn lựa.

- Hỏi: Trở lại chuyện Việt Nam, với viễn ảnh sẽ gia nhập WTO mà tổ chức này lại lâm khủng hoảng như ông nói thì tương lai sẽ ra sao"

- Có một sự thật cần nói ra dù làm nhiều người phật ý hoặc kém vui, đó là cảnh trâu chậm uống nước đục. Việt Nam họp chợ quá trễ nên ích lợi thì có đấy nhưng không nhiều như mình hy vọng và trước mắt sẽ gặp nhiều chuyện bẽ bàng nếu cứ lạc quan duy ý chí. Ngay trong khuôn khổ WTO, Việt Nam sẽ gặp vấn đề với các nước hội viên có cùng trình độ phát triển và cạnh tranh trên những thị trường tương tự, trước khi lo sợ là sẽ bị doanh nghiệp Mỹ hay Âu châu đổ bộ và tấn công ngay trên sân của mình, trong thị trường của mình.

Ngược lại, và đây là chuyện chính, Việt Nam cần chú ý nhiều hơn tới thỏa ước song phương với các đối tác quan trọng nhất, và đồng thời cũng cần ý thức được là mình không chiếm thế mạnh trong các hiệp định thương mại song phương đó. Mình cần người ta hơn là người ta cần mình. Một thí dụ nên theo dõi là các hiệp định thương mại song phương mà Hoa Kỳ đã ký kết với các nước Đông Á, gần đây nhất là với Nam Hàn. Mà với Hoa Kỳ thì còn tương đối công bằng dù họ đòi hỏi những điều cần thiết cho người dân Việt Nan là tự do hay nhân quyền, chứ với Trung Quốc thì khác. Việt Nam đã có thói quen ký kết hiệp định bất bình đẳng với Bắc Kinh và lãnh đạo ngày nay còn tích cực và kín đáo hơn trong những ký kết ấy vì Trung Quốc chẳng khi nào nêu vấn đề về dân chủ hay nhân quyền. Họ cần điều khác hơn.

- Hỏi: Chúng ta bước qua phần chính của chương trình, là trong viễn ảnh 2007, khi Việt Nam vừa gia nhập WTO mà kinh tế Đông Á có thể bị suy trầm như ông đã phân tách trong hai kỳ liên tiếp, Việt Nam cần chuẩn bị những gì"

Tôi thiển nghĩ rằng việc đầu tiên chính là một nỗ lực "giải ảo". Tự mình phải giải phóng mình ra khỏi những ảo giác mà đa số do lãnh đạo thổi lên cho quần chúng rồi lại cho rằng đấy là thành tích của chính mình. Ảo giác đầu tiên là tăng trưởng. Đó là tăng trưởng mà không phát triển. Mặt trái của nó là đầu tư quá nhiều mà tăng trưởng quá ít với kết quả không phân phối đồng đều, chìm bên dưới là nạn tham nhũng và thất thoát tài sản quốc gia.

- Hỏi: Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8% và có lẽ chỉ thua Trung Quốc thôi, vì sao ông lại gọi kết quả ấy là ảo giác"

- Xin nói tới ý niệm của kinh tế học nhập môn mà giới lãnh đạo kinh tế tại Việt Nam đều nghe ngoại quốc nói tới là "hệ số gia tăng của đầu tư", nói theo thuật ngữ kinh tế là ICOR. Đó là hệ số đầu tư ở đầu vào so với kết quả ở đầu ra mà ta gọi là mức tăng trưởng. Nó tùy thuộc trình độ tổ chức và kỹ thuật vào từng giai đoạn. Thí dụ như trình độ của Việt Nam ngày nay thì mình đầu tư ba phần sẽ thu hoạch được một. Ở các nước có trình độ tiên tiến hơn, hệ số ấy cao hơn nhiều, phải đầu tư năm phần mới ăn được một. Điều ấy giải thích vì sao các nước bắt đầu phát triển thường có tỷ lệ tăng trưởng rất cao, tới 6-7% một năm, trong khi các nước tiên tiến mà đạt được kết quả chừng 3-4% là hài lòng, 5% là hãn hữu.

- Hỏi: Đó là trường hợp chung cho thế giới, còn trường hợp Việt Nam thì sao"

Nôm na cho trường hợp Việt Nam thì mình có 100 đồng, cố chắt bóp dành 45 đồng cho việc làm ăn hay đầu tư. Ở trình độ sơ khai của mình thì hệ số gia tăng phụ trội của đầu tư có thể ở khoảng số ba, đầu tư ba phần thì tăng được một, nếu đầu tư 45% của Tổng sản lượng GDP thì đáng lẽ tốc độ tăng trưởng phải là 15% GDP; nếu đầu tư 30% sản lượng thì đạt tốc độ 10%, chả có phép lạ gì của đổi mới ở đây cả. Các nước Đông Á đi trước đều đã đạt kỷ lục 10% đó từ hơn ba chục năm trước, mà xã hội của họ công bằng hơn vì kết quả phân phối tốt đẹp hơn. Ngược lại, một thí dụ gần đây của Trung Quốc là thành phố Thiên Tân có đà tăng trưởng đến 20% nhưng chênh lệch giàu nghèo bị đào sâu tại Hoa lục đang là vấn nạn cho lãnh đạo xứ này vì nhiều tỉnh vẫn chưa ra khỏi thế kỷ 19 và nông dân bắt đầu biểu tình, nổi loạn.

So với khối lượng đầu tư của Việt Nam nhờ đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài và gần năm tỷ Mỹ kim của dân hải ngoại gửi về hàng năm thì Việt Nam phải có tốc độ tăng trưởng cao hơn 7-8% rất nhiều. Sở dĩ còn thấp như vậy là vì tham ô và thất thoát. Tôi gọi đó là "ảo giác số một", của cái định hướng xã hội chủ nghĩa, và truyền thông giới đầu tư nước ngoài thì khen Việt Nam giỏi chứ đa số người Việt Nam thì vẫn cúi đầu ngậm ngùi, khó chiu.

- Hỏi: Trong năm tới, nếu tốc độ tăng trưởng có giảm sút thì Việt Nam phải xử trí ra sao"

- Tôi cho là đà tăng trưởng có chậm lại thì cũng không quan trọng bằng một nỗ lực giải ảo thứ hai là quan tâm đến phẩm hơn lượng. Cụ thể là nhìn vào ngân sách chi tiêu gia đình của đại đa số dân chúng vẫn còn rất nghèo, nhất là ở thôn quê và các vùng xa, vùng sâu. Với viễn ảnh kinh tế suy trầm, lạm phát cao mà cạnh tranh lại kịch liệt hơn của năm tới, nông dân và người nghèo sẽ bị thiệt nhất. Chuyện chính yếu vì vậy không phải là cứu vãn doanh nghiệp nhà nước sẽ bị điêu đứng ở đô thị mà là phát triển nông thôn theo quy cách khác và trước mắt là giúp cho nhà nông không bị những giao động lớn về giá cả trên thị trường quốc tế.

Khi nông phẩm được giá, họ không lời nhiều vì cơ chế thu mua và xuất khẩu của mình chưa đủ tinh vi. Khi nông phẩm sụt giá, họ phá sản mà nhà nước chỉ lo cứu vớt doanh nghiệp thu mua và ngân hàng của nhà nước thì người dân bị thiệt và ta không khai thác được lợi thế của tự do mậu dịch. Chúng ta sẽ còn cơ hội trở lại những vấn đề này trong các kỳ tới.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của Lạn Thương giang, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.
Năm Bính Ngọ 2026 – năm Con Ngựa Lửa – đang phi nước đại tới với bao hứa hẹn đổi thay, may mắn và khám phá mới quanh một loài vật từng cùng nhân loại viết lại bản đồ thế giới. Các nhà cổ sinh học cho biết tổ tiên xa xưa của ngựa là một sinh vật cỡ… con cáo, sống trên đất Bắc Mỹ khoảng 55 triệu năm trước; nhiều triệu năm sau, dòng họ ấy mới tiến hóa thành giống Equus – họ hàng trực tiếp của những chú ngựa ngày nay. Đàn Equus lần theo dải đất Bering băng qua sang Á, Âu, Phi, để rồi gặp tổ tiên chúng ta – lúc ấy vẫn xem ngựa là mồi săn, để lại xương và dấu mũi giáo trong những dấu tích khảo cổ có niên đại hàng trăm ngàn năm.
Theo cuộc thăm dò mới của NBC News Decision Desk Poll do SurveyMonkey thực hiện, sự ủng hộ dành cho chương trình nhập cư của Tổng thống Donald Trump đang giảm mạnh vào đầu năm 2026 sau khi các nhân viên nhập cư liên bang bắn chết hai người Mỹ vào tháng trước. Cuộc thăm dò cho thấy rằng các chiến thuật hung hăng và chỉ tiêu trục xuất của chính quyền đã thay đổi quan điểm của người Mỹ về Trump đối với chính những vấn đề đã giúp ông đắc cử. Vấn đề nhập cư và an ninh biên giới từ lâu đã nổi bật như một điểm mạnh của Trump trong các cuộc thăm dò, cả khi ông tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 2024 và trong năm đầu tiên của chính quyền mới. Giờ đây, tỷ lệ ủng hộ Trump về vấn đề này đã giảm xuống ngang bằng với tỷ lệ ủng hộ công việc tổng thể của ông.
Trong các cuộc xuống đường phản đối biện pháp siết chặt di trú và tăng ngân sách cho cơ quan ICE trên khắp nước Mỹ những tuần qua, hình ảnh dễ thấy là hàng hàng giáo sĩ đeo cổ áo thánh, giơ bảng, đứng giữa hàng rào cảnh sát và đoàn người di dân. Một trong những tiếng nói gây tranh luận mạnh là Giám mục Rob Hirschfeld, Giáo phận Episcopal New Hampshire. Ngày 18.1.2026, ông kêu gọi các giáo sĩ trong giáo phận “chuẩn bị cho một kỷ nguyên tử đạo mới”, thậm chí lo sẵn di chúc và giấy tờ hậu sự. Theo ông, đây không còn là thời của những tuyên bố trên giấy, mà là lúc “dùng chính thân thể mình để đứng giữa các thế lực của thế gian và những người dễ bị tổn thương nhất”.
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.