Hôm nay,  

Tình Ca Nhật Trường

16/05/200600:00:00(Xem: 3765)

(Tạp ghi, viết nhân ngày giỗ 1 năm của cố Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh)<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Cách đây một năm đúng vào ngày này, tôi đang ngồi làm việc thì máy LapTop tuýt một cái, báo hiệu cho biết là nhận được email mới. Vào lúc không có gì quan trọng nên tôi liền mở ra xem và bàng hoàng khi người quen gởi điện thư cho biết Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nhật Trường vừa qua đời. Trưa hôm đó, trong giờ nghỉ tôi đã vào Internet và được biết thêm chi tiết do các cơ quan truyền thông Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Namở Mỹ phổ biến liên quan đến người ca nhạc sĩ tài ba Nhật Trường Trần Thiện Thanh.

 

Hôm nay, nhân ngày giỗ đầu tiên của anh, tôi mạo muội ghi lại vài cảm nghĩ của tôi đối với cố ca nhạc sĩ Nhật Trường, từ cái nhìn của một người bình thường, một người dù hâm mộ anh nhưng rất tiếc chưa một lần chính thức được tai nghe mắt thấy anh trình diễn khi còn sống, có chăng chỉ nhìn thấy ca nhạc sĩ Nhật Trường (NT) trình diễn trên Ti Vi vào thập niên 60. Kể từ tháng 5.1975 hầu như không nghe gì về Anh nhiều. Mãi cho đến giữa thập niên 90 trở đi tôi mới được nghe lại giọng hát của ca sĩ Nhật Trường qua mấy DVD của Trung tâm Asia mà tôi ưa thích nhất tại hải ngoại. Lần cuối, nếu không lầm lần cuối có lẽ là lúc ca sĩ  Nhật Trường chỉnh tề trong bộ đồ hải quân ra trình diễn sau lời giới thiệu của MC Nam Lộc…

 

Tôi nghe biết đến ca sĩ Nhật Trường khi còn học trung học tại Việt Namnhưng ham chơi và lại thích đá bóng hơn nên ít để ý nhiều về văn nghệ. Có chăng cuối tuần hay nghe Ra-đi-ô trực tiếp truyền thanh vụ thi tuyển lựa ca sĩ nên mới nghe biết đến nhiều hơn các nhạc sĩ, dĩ nhiên trong đó có Ns Trần Thiện Thanh (TTT). Rồi chiến tranh tại quê nhà lúc đó ngày càng khốc liệt hơn và từ đó tôi mới nghe và thấy nhiều bản nhạc viết về đời lính, về tình yêu của lính cuả nhiều nhạc sĩ như qúi nhạc sĩ Y Vân, Lam Phương; Hoàng Thi Thơ, Trầm Tử Thiêng, Anh Bằng, Anh Việt Thu, Lê Minh Bằng, Trúc Phương, Phạm đình Chương, Duy Khánh, Tuấn Khanh và Hoài Linh…Có thể nói, trong số những nhạc sĩ kể trên thì những người thường viết nhiều bản nhạc liên quan đến đời lính chiến thời bấy giờ theo thiển ý tôi phải nói là quí nhạc sĩ Lam Phương, Y Vân, cố ca nhạc sĩ Duy Khánh. Tuy nhiên người viết, sáng tác nhiều nhất trên phương diện này phải nói là cố nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh.

 

Tôi nghĩ, có lẽ một phần vì chính anh là người lính tâm lý chiến, mặc khác theo ý riêng của tôi, vì là người trong cuộc nên niềm cảm hứng và tâm trạng lúc nào cũng tiềm tàng trong tâm hồn nên anh mới sáng tác nên nhiều bản nhạc liên quan đến người lính VNCH nhiều như vậy. Cách đây ít lâu, có lần tình cờ đọc bài của một nhà văn nọ viết mỉa mai NT là một lính kiểng, cá nhân tôi (một người chỉ trải qua khoá quân sự học đường!) vì không đồng ý quan điểm của nhà văn nọ nên dầu chẳng có khiếu viết lách nhưng cũng đã viết một bài liên quan đến nhạc và ngầm trích dẫn bản nhạc của Ns TTT liên quan đến người lính tâm lý chiến dù Trần Thiện Thanh dưới một lăng kính khác, khách quan hơn của người không quen không biết anh Nhật Trường. Và hôm nay, trong khuôn khổ bài này, người viết xin ghi lại một vài bản nhạc tình của người lính VNCH do cố Ns Trần Thiện Thanh sáng tác cũng như đôi khi do chính anh trình bày và như đã nói từ đầu, từ một cái nhìn của một cảm tình viên, của một người hâm mộ nhạc của Anh (nhưng thiếu khả năng về nhạc) để chúng ta có dịp cùng tưởng nhớ đến người nghệ sĩ tài hoa này.

 

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã khéo léo gợi lại kỷ niệm thời học trò mà trong mỗi chúng ta ít nhiều đã có lần trải qua, nhất là phái nữ . Xin mời quí vị nghe những lời hát nhẹ nhàng nhưng đong đầy ý nghĩa của tuổi thơ với bản nhạc Hoa học Trò:  

 

Bây giờ còn nhớ hay không"

 

Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa

 

Ngây thơ em rủ anh ra

 

Nhặt được hoa phượng về nhà chơi chung.

 

 

Bây giờ còn nhớ hay không"

 

Anh đem cánh phượng tô hồng má em

 

Để cho em dẹp như tiên

 

Nhưng em không chịu

 

Sợ phải lên trên trời

 

Sợ phải lên, sợ phải lên trên trời

 

Tuổi học trò là lứa tuổi đầy mộng mơ. Lắm khi có những cặp trai gái nhà ở gần nhau, cùng lớn lên và vui đùa với nhau từ khi còn nhỏ xiú cho đến lúc dậy và tình yêu chợt đến lúc nào không hay. Đôi lứa yêu nhau, lắm khi vụng dại từ lúc còn trẻ, đi chung đường, học chung lớp. Nhiều mối tình thầm kín, nhất là đối với người Việt mình ngày xưa khi còn ở quê nhà qua tâm trạng cuả Nhật Trường:

 

Ngày xửa ngày xưa đôi ta chung nón đôi ta chung đường

 

Lên sáu lên năm đôi ta cùng sách đôi ta cùng trường

 

Đường qua nhà em nghiêng nghiêng sân nắng,

 

nghiêng nghiêng mây hồng

 

Chiều nao đuổi bướm, bướm bay vô vườn

 

mà nước mắt rưng rưng ...

 

Người nhạc sĩ đa tài TTT cũng đã mượn ý Xuân để diễn tả tình yêu và Anh đã làm nên  bản nhạc tình thật dễ thương. Anh chàng ôn lại kỷ niệm xưa, tỏ tình và kín đáo dặn dò:

 

Chuyện xửa chuyện xưa. Chuyện từ Xuân trước, Xuân nay chưa nhòa.

 

Anh nói  em nghe, thương em từ lúc hoa chưa mặn mà.

 

Cầu cho mùa Xuân, nồng nàn lên má em tôi đợi chờ.

 

(Đám cưới đầu Xuân của NS Trần Thiện Thanh)

 

Tình yêu đôi khi là trái đắng. Vì yêu nên lắm khi hờn giận, trách nhau là chuyện không tránh được. Chúng ta hãy nghe Nhật Trường tìm lời an ủi người đẹp, tuyệt vời lồng vào đó lời thú tội của anh chàng chỉ muốn chung thủy với người yêu, làm sao mà nàng không rung động được khi nghe:

 

Ô hay, mắt ngọc lại buồn hay sao""

 

Khi anh đã nguyện một đời yêu em

 

Dù cho nét son môi phai mờ

 

Dù cho mắt xanh kia hững hờ

 

Và dù năm tháng phôi pha.

 

(Chờ Đông của NS Trần Thiện Thanh)

 

Vâng khi đã vướng vào đường tình, khi đã yêu thì người ta hay mơ mộng. Họ nhớ thương và đếm từng ngày giờ trôi qua, nhất là khi đôi uyên ương hẹn hò gặp gở để  rồi mang nỗi thất vọng ê chề khi người yêu lỗi hẹn, không đến. Tâm trạng này đã được TTT diễn tả như sau:

 

Hẹn chiều nay mà sao không thấy em

 

Gió hiu hiu, lòng bỗng nghe lạnh thêm.

 

Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh"

 

Em không lại anh nhủ lòng sao đây"

 

(Chuyện Hẹn Hò)

 

Có những lúc vì hoàn cảnh chinh chiến không cho phép, chàng trai đã để người yêu hoài công đợi chờ. Người con gái Việt Nam, bản tính vốn thùy mỵ nên nhẹ nhàng trách móc:

 

Anh dặn em cuối tuần, chờ nhau nơi cuối phố.

 

Biết anh thích màu trời, em đã bồi hồi chọn màu áo xanh.

 

Chiều thứ bảy người đi, sao bóng anh chẳng thấy.

 

Rồi nhẹ đôi gót hài, chiều nghiêng bóng dài, áo em dần phai.

 

(7 Ngày đợi Mong)

 

Tình yêu làm cho anh chàng xây nhiều mộng ước thầm kín. Mong tìm nơi xây tổ ấm là chuyện thường tình của những người yêu nhau. Hãy nghe ước mơ và tâm trạng của Nhật Trường được giấu kín trong bản nhạc với tựa đề Lâu Đài Tình Ái:

 

Anh sẽ vì em làm thơ tình ái.

 

Anh sẽ gom mây kết hình lâu đài.

 

Đợi chờ một đêm trăng nào tới,

 

đợi chiều vàng hôn lên làn tóc,

 

đợi một lần không gian đổi mới,

 

đón hai đứa chúng ta mà thôi...

 

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh không những viết tình ca học trò của mùa Hè nắng ấm, cũng không chỉ viết để ca ngợi tình yêu khi Xuân về hoa nở. NT còn viết nhạc diễn tả tình yêu vào Đông. Hãy nghe tác giả tự bộc lộ tâm trạng:

 

Trời lập đông chưa em, cho lũ dơi đi tìm giấc ngủ vùi

 

Để mặc anh lang thang, ôm giá băng ngỡ thầm người yêu tới.

 

Đêm chia ly em về, đường khuya em bật khóc ...

 

Anh xa em thật rồi, làm sao quên mùi tóc

 

Em hỡi em, có phải tình băng giá là tình đẹp trên thế gian

 

(Mùa Đông Của Anh)

 

Một đặc điểm khác, Ns Trần Thiện Thanh đã kết hợp được tình yêu quê hương và đã mượng giòng nhạc lời hát để gởi gấm cảm nghĩ của Anh. Cái hay của người nghệ sĩ tài ba này là anh diễn tả nét đẹp quê hương qua lời nhạc nhưng cũng không quên lồng vào khung ảnh đó hình bóng dễ thương của người yêu, của người con gái miền Namchất phác:

 

Đẹp quá quê hương hôm nay đẹp vô ngần

 

Về Sóc Trăng một ngày ca điệu lâm thôn

 

Đàn én chao nghiêng xôn xao mùa lúa nhiều

 

Về bến Ninh Kiều thấy nàng đợi người yêu

 

Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba

 

Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm    

 

Qua bến Bắc Cần Thơ

 

Nhớ kỷ niệm xưa nông xuồng đêm trăng tỏ

 

Em gái Ninh Kiều tóc dài chấm lưng thon

 

(Chiếc Áo Bà Ba)

 

Cố nhạc sĩ TTT  đã thay cho những người lính để nói cho người khác phái biết rằng lính không phải là những người trai chai đá. Lính cũng có con tim và cũng biết rung đông như bao chàng trai khác, hãy nghe Nhật Trường bày tỏ:Ai nói với em nếu anh là lính

 

Không biết nói yêu mỗi khi gần em

 

Ai nói với em tình mình dang dở

 

vì đời lính nhiều gian khổ

 

yêu chỉ cho lòng mong chờ

 

Ai nói với em lính không sầu nhớ

 

Không có trái tim đắm say mộng mơ …

 

Khi lính đã yêu bướm ghen tình thắm

 

Muôn kiếp vẫn yêu nói chi ngàn năm

 

Khi lính đã yêu rừng tàn núi lở,

 

Tình còn vững bền muôn thuở

 

Bao la như lòng đại dương

 

(Ai Nói Với Em)

 

Anh đã giải thích hộ cho những người bạn vì lí do này hay lí do khác đã mang nghiệp lính như chính mình nếu có lúc dừng chân ngồi viết thư cho gia đình, người yêu với bao nồng nàn chất chứa:

 

Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước dâu em.

 

Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa da tình.

 

Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay

 

Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.

 

(TìnhThư của Lính)

 

Đời lính bôn ba nơi chiến trận, số phận có thể nói như chỉ treo mành. Nhật Trường có lẽ nhận thức được điều này (giống như vị Anh Hùng Dân Tộc Tướng Nguyễn Khoa Nam, sợ làm khổ vợ con hay người yêu vì thế chọn kiếp sống độc thân cho đến khi tuẩn tiết!) nên đôi khi dù muốn nhưng rồi lại thôi, gói trọn một tình yêu hết sức chân tình và cân nhắc:

 

Đơn xin cưới, một tờ đơn xin cưới

 

Anh thảo rồi, anh lại xé em ơi

 

Bởi không muốn thấy người yêu nhỏ bé

 

Một sớm nào, thành góa phụ ngây thơ

 

Nên đơn cưới, một tờ đơn xin cưới,

 

Anh viết rồi, rồi anh lại xé em ơi

 

(Goá Phụ Ngây Thơ)

 

Vì mang trách nhiệm của ngưới lính lo gìn giữ an ninh trật tự cho hậu phương và lo bảo vệ quê hương thời đó nên lắm khi người lính chỉ được nghỉ phép ngắn hạn. Chúng ta đã biết Trúc Phương qua bản nhạc 24 giờ phép. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đi xa hơn một tí, đã diễn tả ngày phép của người lính tình tứ hơn. Hãy nghe TTT thầm thì, mơ ước qua bản nhạc Không Bao Giờ Ngăn Cách:

 

Anh về với em,

 

như chim liền cánh như cây liền cành.

 

Như đò với sông,

 

như nước xuôi giòng vào lòng biển xanh.

 

Em ơi trăng còn sáng nên tình yêu vẫn còn mang,

 

Em ơi sương còn xuống nên tim côi mong sưởi ấm.

 

Ta xa nhau lâu rồi,

 

ta mong nhau lâu rồi, gần nhau đêm nay thôi...

 

Nhớ khi còn đi học, nhà trường thường thực hiện chiến dịch „Em hậu phương, Anh tiền tuyến“ hay ủy lạo người lính VNCH hy sinh cuộc đời để bảo vệ và duy trì an ninh cho đồng bào, để chúng tôi nói chung được an tâm học hành. Lũ con trai chúng tôi thì đâu biết thêu may gì nên đóng góp trên nhiều lãnh vực khác như vẽ tranh, mua quà gởi tặng. Riêng mấy cô, mấy chị phái nữ thì thi đua thêu vá gởi tặng những người anh lính chiến không hề quen biết. Tình cảm đong đầy giữa hậu phương và người lính đang xông pha nơi chiến tuyến đã được TT T gói gấm trong bản nhạc sau đây. Anh đã phản ảnh rõ nét tình cảm của em gái hậu phương và đặc biệt, tâm tình của người yêu âu yếm gởi cho người tình miền xa:

 

Có người con gái,

 

đông về đan áo ấm ra xa trường

 

Ước mơ không nhiều,

 

mong niềm vui bé đến phương trời xa

 

Ai đi trong giá lạnh

 

chẳng nghĩ chuyện người đan áo

 

Một vừng trăng xẻ bóng chia đôi

 

Áo đan chưa rồi,

 

lỡ mưa đông về giá lạnh người đi.

 

Mỗi mùa đông đến,

 

đem từng cơn gió rét run vai gầy

 

Những ai âm thầm gom đầy

 

nhung nhớ viết lên thành thơ

 

Trong tâm tư áo dệt bằng

 

những giòng lệ yêu dấu

 

Tặng người yêu lạnh giá đêm thâu

 

Đã thương nhau rồi,

 

mấy ai không ngồi đan mộng từng đông.

 

(Chuyện Tình Người Đan Áo)                                          

 

Ước mong quê hương không còn chiến tranh cũng là tâm trạng của NT. Nhưng sự mong ước của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh không ủy mỵ và ru ngủ như đã được thể hiện qua một số nhạc sĩ phản chiến thân cộng thời bấy giờ. NT đã tế nhị hơn khi diễn tả tâm trạng mình, tâm trạng của một người lính VNCH. Anh đã nhẹ nhàng thố lộ cùng người yêu:

 

 Hẹn em khi khắp nơi yên vui

 

Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình

 

Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai

 

Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi

 

Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang

 

(Đồn Vắng Chiều Xuân)

 

Và ước mơ khi quê hương thanh bình có lẽ cũng là mơ ước chung của những người lính thời đó như anh để cho các đôi tình nhân gặp lại nhau và có dịp sống lại khoảng đời đã mất. Hãy nghe NT tâm sự qua bản nhạc “Lời tình viết vội:

 

“… Em anh yên lòng an phận người thương chờ mong …

 

Mai đây thanh bình trở lại đời vui thắm thêm

 

Anh xin vì em đáp lời nhung nhớ...

 

Nâng niu hồn em bằng trăng đắm say ...

 

Cỏ hoa chất đầy thuyền về bến mộng...

 

Trên vùng yêu đương kết nụ tầm xuân...

 

Bản nhạc ‘Anh không chết đâu Anh” viết tưởng nhớ cố Đ/U Nguyễn văn Đương được chọn làm chủ đề của cuốn băng DVD Asia 50.

 

Tôi đã nghe quảng cáo khá lâu rồi nhưng (cho đến nay) chưa có cơ hội mua để thưởng thức và làm kỷ niệm. Chỉ biết cuốn DVD trên vinh danh cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh là người ca nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bản nhạc viết về cuộc chiến, về những anh hùng đã hy sinh cho lý tưởng tự do.

 

Những bản tình ca, nhiều bản nhạc do TTT sáng tác hàm chứa màu sắc chiến chinh đã đi sâu vào lòng những người lính VNCH như Người ở Lại Charlie, Phá Tam giang, Rừng lá thấp, Người yêu của Lính, Tâm sự người lính trẻ, Đồn vắng chiều Xuân, Tưởng người chết đi, Giờ này anh ở đâu, Chuyện một người đi, Hoa Trinh Nữ, Tạ từ trong đêm, Hãy trả lời anh, Tình có như không, Chân trời tím, Biển Mặn, Bóng Nắng, Biển mù sương, Xuân này con không về (cùng với Nhật Ngân), Đầu năm đi Lễ v.v…

 

Ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh tuy xa lìa chúng ta nhưng Anh đã để lại những bài ca rất giá trị, đặc biệt viết về người lính VNCH, vốn từng là bạn bè hay cấp chỉ huy của anh, về tình yêu của người lính. Tôi chỉ trích dẫn một số nhạc tình của Nhật Trường và vài bản nhạc lính trong khuôn khổ bài này, rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ gói ghém những bài Tình Ca do người lính dù tâm lý chiến Trần Thiện Thanh sáng tác.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.