Hôm nay,  

Tình Ca Nhật Trường

16/05/200600:00:00(Xem: 3764)

(Tạp ghi, viết nhân ngày giỗ 1 năm của cố Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh)<"xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />

 

Cách đây một năm đúng vào ngày này, tôi đang ngồi làm việc thì máy LapTop tuýt một cái, báo hiệu cho biết là nhận được email mới. Vào lúc không có gì quan trọng nên tôi liền mở ra xem và bàng hoàng khi người quen gởi điện thư cho biết Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Nhật Trường vừa qua đời. Trưa hôm đó, trong giờ nghỉ tôi đã vào Internet và được biết thêm chi tiết do các cơ quan truyền thông Việt <"xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:smarttags" />Namở Mỹ phổ biến liên quan đến người ca nhạc sĩ tài ba Nhật Trường Trần Thiện Thanh.

 

Hôm nay, nhân ngày giỗ đầu tiên của anh, tôi mạo muội ghi lại vài cảm nghĩ của tôi đối với cố ca nhạc sĩ Nhật Trường, từ cái nhìn của một người bình thường, một người dù hâm mộ anh nhưng rất tiếc chưa một lần chính thức được tai nghe mắt thấy anh trình diễn khi còn sống, có chăng chỉ nhìn thấy ca nhạc sĩ Nhật Trường (NT) trình diễn trên Ti Vi vào thập niên 60. Kể từ tháng 5.1975 hầu như không nghe gì về Anh nhiều. Mãi cho đến giữa thập niên 90 trở đi tôi mới được nghe lại giọng hát của ca sĩ Nhật Trường qua mấy DVD của Trung tâm Asia mà tôi ưa thích nhất tại hải ngoại. Lần cuối, nếu không lầm lần cuối có lẽ là lúc ca sĩ  Nhật Trường chỉnh tề trong bộ đồ hải quân ra trình diễn sau lời giới thiệu của MC Nam Lộc…

 

Tôi nghe biết đến ca sĩ Nhật Trường khi còn học trung học tại Việt Namnhưng ham chơi và lại thích đá bóng hơn nên ít để ý nhiều về văn nghệ. Có chăng cuối tuần hay nghe Ra-đi-ô trực tiếp truyền thanh vụ thi tuyển lựa ca sĩ nên mới nghe biết đến nhiều hơn các nhạc sĩ, dĩ nhiên trong đó có Ns Trần Thiện Thanh (TTT). Rồi chiến tranh tại quê nhà lúc đó ngày càng khốc liệt hơn và từ đó tôi mới nghe và thấy nhiều bản nhạc viết về đời lính, về tình yêu của lính cuả nhiều nhạc sĩ như qúi nhạc sĩ Y Vân, Lam Phương; Hoàng Thi Thơ, Trầm Tử Thiêng, Anh Bằng, Anh Việt Thu, Lê Minh Bằng, Trúc Phương, Phạm đình Chương, Duy Khánh, Tuấn Khanh và Hoài Linh…Có thể nói, trong số những nhạc sĩ kể trên thì những người thường viết nhiều bản nhạc liên quan đến đời lính chiến thời bấy giờ theo thiển ý tôi phải nói là quí nhạc sĩ Lam Phương, Y Vân, cố ca nhạc sĩ Duy Khánh. Tuy nhiên người viết, sáng tác nhiều nhất trên phương diện này phải nói là cố nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh.

 

Tôi nghĩ, có lẽ một phần vì chính anh là người lính tâm lý chiến, mặc khác theo ý riêng của tôi, vì là người trong cuộc nên niềm cảm hứng và tâm trạng lúc nào cũng tiềm tàng trong tâm hồn nên anh mới sáng tác nên nhiều bản nhạc liên quan đến người lính VNCH nhiều như vậy. Cách đây ít lâu, có lần tình cờ đọc bài của một nhà văn nọ viết mỉa mai NT là một lính kiểng, cá nhân tôi (một người chỉ trải qua khoá quân sự học đường!) vì không đồng ý quan điểm của nhà văn nọ nên dầu chẳng có khiếu viết lách nhưng cũng đã viết một bài liên quan đến nhạc và ngầm trích dẫn bản nhạc của Ns TTT liên quan đến người lính tâm lý chiến dù Trần Thiện Thanh dưới một lăng kính khác, khách quan hơn của người không quen không biết anh Nhật Trường. Và hôm nay, trong khuôn khổ bài này, người viết xin ghi lại một vài bản nhạc tình của người lính VNCH do cố Ns Trần Thiện Thanh sáng tác cũng như đôi khi do chính anh trình bày và như đã nói từ đầu, từ một cái nhìn của một cảm tình viên, của một người hâm mộ nhạc của Anh (nhưng thiếu khả năng về nhạc) để chúng ta có dịp cùng tưởng nhớ đến người nghệ sĩ tài hoa này.

 

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã khéo léo gợi lại kỷ niệm thời học trò mà trong mỗi chúng ta ít nhiều đã có lần trải qua, nhất là phái nữ . Xin mời quí vị nghe những lời hát nhẹ nhàng nhưng đong đầy ý nghĩa của tuổi thơ với bản nhạc Hoa học Trò:  

 

Bây giờ còn nhớ hay không"

 

Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa

 

Ngây thơ em rủ anh ra

 

Nhặt được hoa phượng về nhà chơi chung.

 

 

Bây giờ còn nhớ hay không"

 

Anh đem cánh phượng tô hồng má em

 

Để cho em dẹp như tiên

 

Nhưng em không chịu

 

Sợ phải lên trên trời

 

Sợ phải lên, sợ phải lên trên trời

 

Tuổi học trò là lứa tuổi đầy mộng mơ. Lắm khi có những cặp trai gái nhà ở gần nhau, cùng lớn lên và vui đùa với nhau từ khi còn nhỏ xiú cho đến lúc dậy và tình yêu chợt đến lúc nào không hay. Đôi lứa yêu nhau, lắm khi vụng dại từ lúc còn trẻ, đi chung đường, học chung lớp. Nhiều mối tình thầm kín, nhất là đối với người Việt mình ngày xưa khi còn ở quê nhà qua tâm trạng cuả Nhật Trường:

 

Ngày xửa ngày xưa đôi ta chung nón đôi ta chung đường

 

Lên sáu lên năm đôi ta cùng sách đôi ta cùng trường

 

Đường qua nhà em nghiêng nghiêng sân nắng,

 

nghiêng nghiêng mây hồng

 

Chiều nao đuổi bướm, bướm bay vô vườn

 

mà nước mắt rưng rưng ...

 

Người nhạc sĩ đa tài TTT cũng đã mượn ý Xuân để diễn tả tình yêu và Anh đã làm nên  bản nhạc tình thật dễ thương. Anh chàng ôn lại kỷ niệm xưa, tỏ tình và kín đáo dặn dò:

 

Chuyện xửa chuyện xưa. Chuyện từ Xuân trước, Xuân nay chưa nhòa.

 

Anh nói  em nghe, thương em từ lúc hoa chưa mặn mà.

 

Cầu cho mùa Xuân, nồng nàn lên má em tôi đợi chờ.

 

(Đám cưới đầu Xuân của NS Trần Thiện Thanh)

 

Tình yêu đôi khi là trái đắng. Vì yêu nên lắm khi hờn giận, trách nhau là chuyện không tránh được. Chúng ta hãy nghe Nhật Trường tìm lời an ủi người đẹp, tuyệt vời lồng vào đó lời thú tội của anh chàng chỉ muốn chung thủy với người yêu, làm sao mà nàng không rung động được khi nghe:

 

Ô hay, mắt ngọc lại buồn hay sao""

 

Khi anh đã nguyện một đời yêu em

 

Dù cho nét son môi phai mờ

 

Dù cho mắt xanh kia hững hờ

 

Và dù năm tháng phôi pha.

 

(Chờ Đông của NS Trần Thiện Thanh)

 

Vâng khi đã vướng vào đường tình, khi đã yêu thì người ta hay mơ mộng. Họ nhớ thương và đếm từng ngày giờ trôi qua, nhất là khi đôi uyên ương hẹn hò gặp gở để  rồi mang nỗi thất vọng ê chề khi người yêu lỗi hẹn, không đến. Tâm trạng này đã được TTT diễn tả như sau:

 

Hẹn chiều nay mà sao không thấy em

 

Gió hiu hiu, lòng bỗng nghe lạnh thêm.

 

Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh"

 

Em không lại anh nhủ lòng sao đây"

 

(Chuyện Hẹn Hò)

 

Có những lúc vì hoàn cảnh chinh chiến không cho phép, chàng trai đã để người yêu hoài công đợi chờ. Người con gái Việt Nam, bản tính vốn thùy mỵ nên nhẹ nhàng trách móc:

 

Anh dặn em cuối tuần, chờ nhau nơi cuối phố.

 

Biết anh thích màu trời, em đã bồi hồi chọn màu áo xanh.

 

Chiều thứ bảy người đi, sao bóng anh chẳng thấy.

 

Rồi nhẹ đôi gót hài, chiều nghiêng bóng dài, áo em dần phai.

 

(7 Ngày đợi Mong)

 

Tình yêu làm cho anh chàng xây nhiều mộng ước thầm kín. Mong tìm nơi xây tổ ấm là chuyện thường tình của những người yêu nhau. Hãy nghe ước mơ và tâm trạng của Nhật Trường được giấu kín trong bản nhạc với tựa đề Lâu Đài Tình Ái:

 

Anh sẽ vì em làm thơ tình ái.

 

Anh sẽ gom mây kết hình lâu đài.

 

Đợi chờ một đêm trăng nào tới,

 

đợi chiều vàng hôn lên làn tóc,

 

đợi một lần không gian đổi mới,

 

đón hai đứa chúng ta mà thôi...

 

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh không những viết tình ca học trò của mùa Hè nắng ấm, cũng không chỉ viết để ca ngợi tình yêu khi Xuân về hoa nở. NT còn viết nhạc diễn tả tình yêu vào Đông. Hãy nghe tác giả tự bộc lộ tâm trạng:

 

Trời lập đông chưa em, cho lũ dơi đi tìm giấc ngủ vùi

 

Để mặc anh lang thang, ôm giá băng ngỡ thầm người yêu tới.

 

Đêm chia ly em về, đường khuya em bật khóc ...

 

Anh xa em thật rồi, làm sao quên mùi tóc

 

Em hỡi em, có phải tình băng giá là tình đẹp trên thế gian

 

(Mùa Đông Của Anh)

 

Một đặc điểm khác, Ns Trần Thiện Thanh đã kết hợp được tình yêu quê hương và đã mượng giòng nhạc lời hát để gởi gấm cảm nghĩ của Anh. Cái hay của người nghệ sĩ tài ba này là anh diễn tả nét đẹp quê hương qua lời nhạc nhưng cũng không quên lồng vào khung ảnh đó hình bóng dễ thương của người yêu, của người con gái miền Namchất phác:

 

Đẹp quá quê hương hôm nay đẹp vô ngần

 

Về Sóc Trăng một ngày ca điệu lâm thôn

 

Đàn én chao nghiêng xôn xao mùa lúa nhiều

 

Về bến Ninh Kiều thấy nàng đợi người yêu

 

Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba

 

Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm    

 

Qua bến Bắc Cần Thơ

 

Nhớ kỷ niệm xưa nông xuồng đêm trăng tỏ

 

Em gái Ninh Kiều tóc dài chấm lưng thon

 

(Chiếc Áo Bà Ba)

 

Cố nhạc sĩ TTT  đã thay cho những người lính để nói cho người khác phái biết rằng lính không phải là những người trai chai đá. Lính cũng có con tim và cũng biết rung đông như bao chàng trai khác, hãy nghe Nhật Trường bày tỏ:Ai nói với em nếu anh là lính

 

Không biết nói yêu mỗi khi gần em

 

Ai nói với em tình mình dang dở

 

vì đời lính nhiều gian khổ

 

yêu chỉ cho lòng mong chờ

 

Ai nói với em lính không sầu nhớ

 

Không có trái tim đắm say mộng mơ …

 

Khi lính đã yêu bướm ghen tình thắm

 

Muôn kiếp vẫn yêu nói chi ngàn năm

 

Khi lính đã yêu rừng tàn núi lở,

 

Tình còn vững bền muôn thuở

 

Bao la như lòng đại dương

 

(Ai Nói Với Em)

 

Anh đã giải thích hộ cho những người bạn vì lí do này hay lí do khác đã mang nghiệp lính như chính mình nếu có lúc dừng chân ngồi viết thư cho gia đình, người yêu với bao nồng nàn chất chứa:

 

Thư của lính không xanh màu trời như mơ ước dâu em.

 

Thư của lính không thơm nồng hương, không nét hoa da tình.

 

Thư của lính ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay

 

Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy.

 

(TìnhThư của Lính)

 

Đời lính bôn ba nơi chiến trận, số phận có thể nói như chỉ treo mành. Nhật Trường có lẽ nhận thức được điều này (giống như vị Anh Hùng Dân Tộc Tướng Nguyễn Khoa Nam, sợ làm khổ vợ con hay người yêu vì thế chọn kiếp sống độc thân cho đến khi tuẩn tiết!) nên đôi khi dù muốn nhưng rồi lại thôi, gói trọn một tình yêu hết sức chân tình và cân nhắc:

 

Đơn xin cưới, một tờ đơn xin cưới

 

Anh thảo rồi, anh lại xé em ơi

 

Bởi không muốn thấy người yêu nhỏ bé

 

Một sớm nào, thành góa phụ ngây thơ

 

Nên đơn cưới, một tờ đơn xin cưới,

 

Anh viết rồi, rồi anh lại xé em ơi

 

(Goá Phụ Ngây Thơ)

 

Vì mang trách nhiệm của ngưới lính lo gìn giữ an ninh trật tự cho hậu phương và lo bảo vệ quê hương thời đó nên lắm khi người lính chỉ được nghỉ phép ngắn hạn. Chúng ta đã biết Trúc Phương qua bản nhạc 24 giờ phép. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đi xa hơn một tí, đã diễn tả ngày phép của người lính tình tứ hơn. Hãy nghe TTT thầm thì, mơ ước qua bản nhạc Không Bao Giờ Ngăn Cách:

 

Anh về với em,

 

như chim liền cánh như cây liền cành.

 

Như đò với sông,

 

như nước xuôi giòng vào lòng biển xanh.

 

Em ơi trăng còn sáng nên tình yêu vẫn còn mang,

 

Em ơi sương còn xuống nên tim côi mong sưởi ấm.

 

Ta xa nhau lâu rồi,

 

ta mong nhau lâu rồi, gần nhau đêm nay thôi...

 

Nhớ khi còn đi học, nhà trường thường thực hiện chiến dịch „Em hậu phương, Anh tiền tuyến“ hay ủy lạo người lính VNCH hy sinh cuộc đời để bảo vệ và duy trì an ninh cho đồng bào, để chúng tôi nói chung được an tâm học hành. Lũ con trai chúng tôi thì đâu biết thêu may gì nên đóng góp trên nhiều lãnh vực khác như vẽ tranh, mua quà gởi tặng. Riêng mấy cô, mấy chị phái nữ thì thi đua thêu vá gởi tặng những người anh lính chiến không hề quen biết. Tình cảm đong đầy giữa hậu phương và người lính đang xông pha nơi chiến tuyến đã được TT T gói gấm trong bản nhạc sau đây. Anh đã phản ảnh rõ nét tình cảm của em gái hậu phương và đặc biệt, tâm tình của người yêu âu yếm gởi cho người tình miền xa:

 

Có người con gái,

 

đông về đan áo ấm ra xa trường

 

Ước mơ không nhiều,

 

mong niềm vui bé đến phương trời xa

 

Ai đi trong giá lạnh

 

chẳng nghĩ chuyện người đan áo

 

Một vừng trăng xẻ bóng chia đôi

 

Áo đan chưa rồi,

 

lỡ mưa đông về giá lạnh người đi.

 

Mỗi mùa đông đến,

 

đem từng cơn gió rét run vai gầy

 

Những ai âm thầm gom đầy

 

nhung nhớ viết lên thành thơ

 

Trong tâm tư áo dệt bằng

 

những giòng lệ yêu dấu

 

Tặng người yêu lạnh giá đêm thâu

 

Đã thương nhau rồi,

 

mấy ai không ngồi đan mộng từng đông.

 

(Chuyện Tình Người Đan Áo)                                          

 

Ước mong quê hương không còn chiến tranh cũng là tâm trạng của NT. Nhưng sự mong ước của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh không ủy mỵ và ru ngủ như đã được thể hiện qua một số nhạc sĩ phản chiến thân cộng thời bấy giờ. NT đã tế nhị hơn khi diễn tả tâm trạng mình, tâm trạng của một người lính VNCH. Anh đã nhẹ nhàng thố lộ cùng người yêu:

 

 Hẹn em khi khắp nơi yên vui

 

Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình

 

Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai

 

Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi

 

Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang

 

(Đồn Vắng Chiều Xuân)

 

Và ước mơ khi quê hương thanh bình có lẽ cũng là mơ ước chung của những người lính thời đó như anh để cho các đôi tình nhân gặp lại nhau và có dịp sống lại khoảng đời đã mất. Hãy nghe NT tâm sự qua bản nhạc “Lời tình viết vội:

 

“… Em anh yên lòng an phận người thương chờ mong …

 

Mai đây thanh bình trở lại đời vui thắm thêm

 

Anh xin vì em đáp lời nhung nhớ...

 

Nâng niu hồn em bằng trăng đắm say ...

 

Cỏ hoa chất đầy thuyền về bến mộng...

 

Trên vùng yêu đương kết nụ tầm xuân...

 

Bản nhạc ‘Anh không chết đâu Anh” viết tưởng nhớ cố Đ/U Nguyễn văn Đương được chọn làm chủ đề của cuốn băng DVD Asia 50.

 

Tôi đã nghe quảng cáo khá lâu rồi nhưng (cho đến nay) chưa có cơ hội mua để thưởng thức và làm kỷ niệm. Chỉ biết cuốn DVD trên vinh danh cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh là người ca nhạc sĩ đã sáng tác nhiều bản nhạc viết về cuộc chiến, về những anh hùng đã hy sinh cho lý tưởng tự do.

 

Những bản tình ca, nhiều bản nhạc do TTT sáng tác hàm chứa màu sắc chiến chinh đã đi sâu vào lòng những người lính VNCH như Người ở Lại Charlie, Phá Tam giang, Rừng lá thấp, Người yêu của Lính, Tâm sự người lính trẻ, Đồn vắng chiều Xuân, Tưởng người chết đi, Giờ này anh ở đâu, Chuyện một người đi, Hoa Trinh Nữ, Tạ từ trong đêm, Hãy trả lời anh, Tình có như không, Chân trời tím, Biển Mặn, Bóng Nắng, Biển mù sương, Xuân này con không về (cùng với Nhật Ngân), Đầu năm đi Lễ v.v…

 

Ca nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh tuy xa lìa chúng ta nhưng Anh đã để lại những bài ca rất giá trị, đặc biệt viết về người lính VNCH, vốn từng là bạn bè hay cấp chỉ huy của anh, về tình yêu của người lính. Tôi chỉ trích dẫn một số nhạc tình của Nhật Trường và vài bản nhạc lính trong khuôn khổ bài này, rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ gói ghém những bài Tình Ca do người lính dù tâm lý chiến Trần Thiện Thanh sáng tác.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.