Hôm nay,  

Một Tấm Lòng Vàng

21/07/200600:00:00(Xem: 2275)

Ngày 15 tháng 6 năm 2006 trong một cuộc họp báo tại thành phố Redmond, bang Washington sau giờ thị trường chứng khoán ở New York đã đóng cửa, ông Bill Gates giám đốc công ty Microsoft cho biết ông sẽ rời bỏ chức vụ giám đốc trong vòng hai năm để dùng thì giờ điều hành cơ sở từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation (gọi tắt là cơ sở Melinda). Melinda Gates là vợ ông. Ông ký tặng cơ sở Melinda 31 tỉ mỹ kim (trong số tài sản ước lượng 81 tỉ của ông) để giúp cải tiến việc giáo dục và săn sóc sức khỏe cho những người kém may mắn, nhất là tại Phi châu.

Ngày 26/6/2006 theo chân Bill Gates nhà tỉ phú Warren Buffett giám đốc công ti Berkshire Hathaway chuyên về đầu tư, trụ sở đặt tại bang Nebraska, tuyên bố tặng 37 tỉ mỹ kim trong số tài sản 43 tỉ mỹ kim của ông cho cơ sở Melinda của ông Bill Gates. Sáu tỉ mỹ kim còn lại ông Buffett tặng cho các tổ chức từ thiện do ba người con và bà vợ trước của ông thành lập. Ông Buffett tặng cơ sở của vợ chồng ông Bill Gates 43 tỉ mỹ kim với điều kiện: ông là một thành viên của Hội đồng điều hành cơ sở Melinda, ông Bill Gates thôi dần việc với công ti Microsoft để cùng ông trực tiếp điều hành cơ sở Melinda (như ông Gates đã tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 15/6) và số tiền 43 tỉ chỉ được chuyển nhượng cho cơ sở Melinda chừng nào một trong hai ông (Buffett hoặc Gates) còn trực tiếp điều khiển cơ sở. Năm đầu tiên ông Buffett chuyển 1.5 tỉ mỹ kim.

Việc các nhà kinh doanh và kỹ nghệ gia thành công bỏ tiền làm việc từ thiện không phải là hiếm trên thế giới. Trong thế kỷ thứ 19 nhà kỹ nghệ dầu hỏa Mỹ John Rockefeller (1839-1937) và Andrew Carnegie (1935-1919) nhà kỹ nghệ thép đã bỏ ra theo thứ tự 7.6 tỉ và 4.1 tỉ mỹ kim (theo thời giá năm 2006) để giúp phát triển giáo dục, y tế, canh nông và thành lập các thư viện. Số tiền của ông Rockefeller đã giúp các bác sĩ tìm ra thuốc chủng ngừa bệnh sốt rét vàng da (yellow fever) và tạo ra cuộc “cách mạng xanh” (green revolution) trong nông nghiệp giúp hơn một tỉ người thoát khỏi nạn đói.

Theo thống kê, các nhà tỉ phú Hoa Kỳ dẫn đầu trong việc bỏ tiền lập các cơ sở từ thiện. Tính đến năm 2006 sau Hoa Kỳ (Bill, Melinda Gates & Buffett, 60 tỉ) là Thụy Điển (công ti bán đồ trang trí nhà cửa IKEA, 38 tỉ), Anh quốc (công ti Welcome Trust, 22 tỉ) và Ý (cơ sở Cariplo & Monte del Paschi di Siena, 15 tỉ).

Nhưng việc bỏ tiền của ông Bill Gates có nhiều ý nghĩa nhất. Bill Gates năm nay 50 tuổi, còn quá trẻ, số tiền ông bỏ ra rất lớn và bỏ ra trong một thời điểm các nhà tài phiệt tại Hoa Kỳ đang mang tai tiếng như công ti năng lượng Enron của Kenneth Lay lường gạt khách hàng, khai phá sản cuối năm 2001 và vừa bị một tòa án liên bang tại Houston xử có tội mấy tháng trước. Ông Gates đứng ra tự điều hành cơ sở từ thiện của mình để tránh lãng phí và đầu tư tiền bạc vào một vùng bất hạnh và bị thế giới quên lãng nhất trên thế giới. Hành động của ông kéo theo nghĩa cử của ông Warren Buffett và người ta hy vọng nó sẽ tạo ra một phong trào bỏ tiền làm điều thiện trên thế giới.

Thông thường hành động từ thiện lớn như John Rockefeller và Andrew Carnegie do lòng nhân, hoặc do quan niệm rằng hệ thống tư bản giúp họ làm giàu đã để lại sau lưng một số người kém may mắn hơn, hoặc phát xuất từ một nhân sinh quan như ông Buffett rằng để lại một gia kếch xù lại cho con cái không tạo thành một “vương triều” có hậu mà chỉ có hại cho dòng họ (dòng họ Kennedy ở Massachusetts là một thí dụ).

Nhưng hành động của Bill Gates có thể có nguyên nhân sâu xa hơn. Thời sinh tiền bà Mary Gates mẹ ông, một nhà giáo, thường khuyên con nếu sau này ra đời thành công và giàu có thì nên nhớ đó là tiền của xã hội mình có được nhờ may mắn và khôn ngoan hơn nên đừng quên “trả lại” cho xã hội. Nhưng ít ai nghĩ ông Bill Gates bỏ ra 31 tỉ mỹ kim và có thể trong tương lai cả 50 tỉ còn lại là đơn thuần do lời khuyên của mẹ.

Bill Gates là một người khác thường. Phong thái bình dị là nét đặc thù của ông. Năm 1973 mới mười tám tuổi ông vào đại học Harvard, một trường nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, nhưng ông không chấp nhận con đường thành công kiểu cách qua mảnh bằng tiến sĩ suốt đời áo mão cân đai. Năm 1975 ông bỏ ngang cùng với Paul Allen, một người bạn trẻ về bang New Mexico quê mùa mở một công ti bán nhu liệu điện toán hồi đó còn đục lỗ trên bìa cứng. Từ đó trong suốt 30 năm với trí thông minh tuyệt vời, với cách làm việc khoa học ông và bạn gây dựng nên công ti Microsoft làm nên cuộc cách mạng điện toán thay đổi hẳn bộ mặt thế giới chúng ta đang sống. Thế giới, chứ không riêng gì nước Mỹ sẽ không như hôm nay nếu không có Bill Gates.

Nhưng thế giới ông sống cũng biến chuyển một cách lạ thường. Con người càng ngự trị thiên nhiên, vật chất càng dồi dào thì “phẩm chất” của sự sống càng suy giảm. Điều này ít người để ý nhưng có lẽ đã là niềm ưu tư trăn trở của tâm hồn hướng thiện của Bill Gates từ những ngày thơ ấu bên cạnh bà mẹ nhân từ và trong sân trường đại học.

 Nhớ lại cách đây 20 hay 30 chục năm những bản tin truyền hình đến với mỗi gia đình mỗi buổi chiều khá cân đối, bên cạnh tin dữ có tin vui mang lại tươi mát cho không khí gia đình. Nhưng trong những năm gần đây tin tức trên truyền hình đa số là tin không vui, mở đài là thấy cảnh cướp của giết người, họa hằn lắm mới có một vài tin vui làm ấm lòng người nghe. Tin vui ít đến nổi đài truyền hình NBC, một trong ba hệ thống truyền hình lớn của Hoa Kỳ có sáng kiến thêm mục “make a difference” để có cơ hội mỗi ngày mang một tin lành đến khán thính gỉả.

Nhưng điều đáng sợ là chúng ta không ghi nhận được rằng thế giới chúng ta đang sống càng ngày càng bệnh hoạn. Năm 1963 hình ảnh tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Đức tại một góc đường ở thành phố Sàigòn đã gây nên sự xúc động trên toàn thế giới. Nhưng từ năm 2003 đến nay những cuộc nổ bom tự sát hằng ngày tại Iraq không làm ai xúc động. Tôi không biết Hòa Thượng Quảng Đức có tin rằng sau khi chết ngài sẽ được đầu thai về cõi niết bàn hay những người du kích Hồi giáo có thật tin sau khi nổ bom tự sát để giết người khác họ sẽ được hằng chục thiếu nữ xinh đẹp đón tiếp lên cõi trời, nhưng có một điều hiển nhiên là ai cũng muốn sống và khi họ chọn cái chết là để  bày tỏ một sự bất mãn tuyệt đối không thể diễn tả bằng lời, dù cho sự bất mãn đó được biện minh hay không.

Trong chiến tranh Việt nam khi vụ tàn sát Mỹ Lai (xẩy ra năm 1968) tại một ngôi làng nhỏ tại tỉnh Quảng Ngãi được phanh phui (năm 1969) dư luận nước Mỹ xúc động đến độ người ta cho cuộc chiến tranh Việt Nam đánh mất lương tri của những người lính trẻ vốn hiền lành nhân hậu, nhưng gần đây những cuộc giết thường dân vô tội như tại Hadithah bên bờ sông Euphrates tháng 11 năm 2005 bởi một số quân nhân Hoa Kỳ cũng như vụ mấy người lính Mỹ hiếp dâm một thiếu nữ người Iraq rồi giết nguyên cả một gia đình gồm đương sự, bố mẹ và cô em gái để phi tang như diễn ra trong tháng 3/2006 tại một ngôi làng nhỏ nằm ở phía nam thành phố Baghdad chỉ là một cái tin thoáng qua rồi rơi vào quên lãng. Nhiều người còn nhớ chuyện chuồng cọp giam tù chính trị tại Côn Sơn mà các dân biểu phản chiến Mỹ thích đến Việt Nam khoảng đầu thập niên 1970 để phanh phui xem như một vết dơ của chế độ ông Nguyễn Văn Thiệu, nhưng tại nhà tù Abu Ghraib mà mức độ vi phạm nhân quyền của người tù trong những tháng cuối năm 2003 gấp trăm lần những gì đã diễn ra ở nhà tù Côn Sơn cũng nhanh chóng rơi vào quên lãng. Tấm hình ông Eddie Adams chụp chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn chết một du kích quân giữa thành phố Sài Gòn ngày 1/2/1968 đã đóng góp phần nào vào sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam và làm cho đời sống tị nạn của ông Loan ở Hoa Kỳ điêu đứng trong khi những vụ du kích Hồi giáo dùng dao cắt cổ thường dân và quân nhân Mỹ rồi cho phổ biến hình trên truyền hình cũng không thấy thế giới lên án gắt gao như họ từng lên án ông Loan.

Đó là chuyện ngoài chiến trường. Tại các thành phố vốn êm đềm tĩnh lặng của Hoa Kỳ cũng có nhiều chuyện để quan tâm. Ngày 20/4/1999 khi hai học sinh trường Trung học Columbine ở Colorado mang súng vào trường bắn chết 12 học sinh và một giáo viên cả nước Mỹ xôn xao. Truyền thông và quốc hội đặt vấn đề “phải làm một cái gì” để cho một việc tương tự không thể diễn ra trong tương lai. Nhưng những vụ bắn giết tương tự vẫn diễn ra và từ năm 1999 đến năm 2005 tin tức ghi nhận những vụ học sinh nổ súng tại các trường Trung học đã xẩy ra trên 17 tiểu bang Hoa Kỳ. Nhưng tin tức không làm cho dư luận xúc động nữa. Chỉ là tin thoáng qua và cuộc sống vẫn thế trôi qua.

Ở tầm vóc thế giới, sau thế chiến thứ hai, khi vụ Đức Quốc xã giết 6 triệu người Do Thái được phanh phui, thế giới cho rằng đó là điều không thể quan niệm được và các lãnh tụ trên thế giới thề thốt rằng những việc như vậy sẽ không thể tái diễn. Nhưng năm 1975 Pol Pot giết một triệu đồng bào của ông, và chính quyền Pol Pot vẫn giữ được ghế tại Liên hiệp quốc trong một thời gian. Năm 1994 người Hutu giết một triệu người Tutsi tại Rwanda, Phi châu chỉ vì thế giới chần chờ. Trong ba tháng, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1999, người Serbia giết 10.000 người gốc Albania trong tỉnh Kosovo, và từ tháng 2 năm 2003 cho đến tháng 3 năm 2005 người A rập do chính quyền Hồi giáo Sudan tổ chức và trang bị vũ khí đã giết 180.000 người da den sống trong vùng Darfur tại miền Tây Sudan. Thế giới đã miễn cưỡng can thiệp vì sợ đụng chạm quyền lợi với Sudan, và cuộc tàn sát vẫn còn tiếp diễn trước sự bất lực của quốc tế.

Nhắc đến những sự việc trên tôi không có ý kết án một chính phủ hay một cá nhân nào. Người bị giết hay người tạo ra tội ác đều là “nạn nhân” của hoàn cảnh, rơi vào một nơi không đúng chỗ, vào một thời điểm không đúng lúc, và ở trong một trạng thái tâm lý họ không có điều kiện làm chủ. Tôi chỉ muốn ghi nhận một điều: thế giới chúng ta đang sống đang mất dần phẩm chất và những lãnh tụ chính trị, các nhà đạo đức và các nhà lãnh đạo tinh thần hình như cũng bất lực.

Bill Gates phải là người từng trăn trở trước thế giới ông đang sống và cảm nhận được sự bất lực của mình, mặc dù ông có khả năng xây dựng một đế quốc tài chánh của riêng ông. Những chủng tử tốt nơi ông giúp ông tiếp cận được với ảo ảnh của cuộc đời và quả  tim nhân hậu của ông làm ông dễ thổn thức trước nỗi khổ của tha nhân hơn là đa số chúng ta. Những bậc tiên tri như Chúa Jesus Christ hay Phật Thích Ca từng nói đến ngày tận thế và thời mạt pháp, thì có thể ông Bill Gates cảm nhận được rằng nếu tâm con người không thay đổi thì tận thế là đây và mạt pháp cũng là đây.

Sở thuế Hoa Kỳ cho biết rằng từ tháng 7 năm 2004 đến hết tháng 6 năm 2005 công ti Microsoft của Bill Gates lời 39.79 tỉ mỹ kim. Ai có thể từ bỏ lòng tham để trải tấm lòng vàng đi cứu nhân độ thế ngoài thiên thần và các vị bồ tát"

Phải chăng Bill Gates là hiện thân bằng da bằng thịt của một thiên thần hay một vị bồ tát giáng trần để cảnh giác thế giới đang chơi vơi trên bờ vực thẳm.

Trần Bình Nam

July 21, 2006

[email protected]

www.tranbinhnam.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
GHEORGHE GRIGURCU: Cho phép tôi bắt đầu bằng một trích dẫn Charles Dickens, nhà văn Anh: "Một người chẳng thể là một nhân vật của công chúng, chỉ trừ khi, anh ta làm cho mình trở thành tiếng nói của họ." Tôi muốn hỏi ông, tới mức độ nào,
Thực tế chứng minh rằng mỗi một hành động tuy nhỏ nhưng có giá trị gấp hàng ngàn, hàng vạn lần lời nói. Công cuộc chấn hưng đất nước với mục tiêu dân chủ, tự do,...đang đứng trước một thách thức phải có bước nhảy vọt mới về lượng và chất, một vài thực tiễn sinh động trong công cuộc đấu tranh của tôi để đem chia sẻ cùng
“Một mảnh phương tâm không chỗ gởi Giàn hoa chầm chậm ánh trăng soi” Hai câu thơ của Bát Chỉ Đầu Đà theo tôi từ lúc vừa ngồi xuống tọa cụ. Không sao, một lát thơ sẽ bay đi mà, như những vọng tưởng thường tới rồi đi. Tôi xếp chân, ngồi bán già, lưng thẳng, lúc lắc cổ, hai vai cho thư giãn, trải lại vạt áo tràng ngay ngắn. Rồi.
Ông Đỗ Ngọc Yến qua đời chiều Thứ Năm 17/8/2006. Ông là một nhà báo. Tôi lớn hơn ông tám tuổi, không có hân hạnh quen thân ông. Nhưng qua những gì ông đã làm và thỉnh thoảng theo
Khách ghé quán trọ, nghỉ một đêm hay lưu tạm dăm ba bữa, rồi khách cũng đi. Người chủ quán không di chuyển, vẫn ở đó, nhận diện rõ ràng từng người khách đến và đi. Người chủ quán rất bình an, thanh thản như thế, trước khi khách đến cũng như sau khi khách đi. Người khách này ra đi, có thể, người khách khác lại ghé, rồi cũng lại
"Làm sao để không bị binh nữa" (How to never get sick again) là chương 6, chương quan trọng nhất trong quyển Natural Cures của Kevin Trudeau. Chúng tôi xin lược dịch những ý quan trọng để chúng ta tham khảo: "Bạn có thể gọi chương này là : "Làm sao để trị mọi loại bịnh" (How to cure every disease), "Làm sao để sống
"Bạn có nghĩ rằng ta là người vĩ đại và quan trọng" Dĩ nhiên, hầu hết chúng ta đều nghĩ thế, ít nhất ra là vào một thời điểm nào đó. Nhưng mà rất khó để ôm giữ cái cảm giác về quan trọng đó nếu bạn chịu khó suy xét đến cái thế giới không gian huyền diệu mà con người lần đầu tiên vừa thăm dò đến. Ta hãy nhìn nó như thế này:
Bắt đầu từ 4 giờ chiều ngày 9 tháng 8 năm 2006, xăng dầu ở Việt Nam lại thêm một lần tăng giá. Xăng 92: 12 000đ/lit, diesel 0,5% S: 8.600đ/lit. Hiện tượng này làm rộ lên nhiều bài viết đăng trên các báo của Đảng với những tiêu đề thảng thốt: "Bộ ngành lặng thinh, doanh nghiệp nín thở","
Ngày 27 tháng Bảy, thủ lãnh số hai của al-Qaeda là Ayman al-Zawahiri cho phổ biến một băng hình trong đó có ba tấm ảnh làm nền cho phần luận giải và tuyên truyền. Tấm hình cao ốc World Trade Center nằm ở giữa, hai bên là chân dung hai tay đặc công đã "hy sinh", Mohammed Atef bị giết tại Afghanistan năm 2001


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.