Hôm nay,  

‘Mùa Len Trâu’

25/05/200600:00:00(Xem: 3362)

Hình ảnh trong Mùa Len Trâu.

(Falls Church, VA)—Như chiếc nhà lá nổi trôi trên dòng nước lũ, cuốn phim nhựa « Mùa Len Trâu » của Đạo Diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh trong chuyến viễn du của bộ Global Lens Film Series cũng trôi theo dòng thời gian ghé những thành phố từ miền Tây sang miền Đông để rồi đến vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong hai ngày cuối tuần vừa qua (05/20 và 05/21), ra mắt cùng đồng bào trong cộng đồng Việt Nam tại Loehmann’s Twin Cinemas tại Falls Church, Virginia.  Ngoài ra, mục đích của hai buổi chiếu phim này là để gây quỹ cho dự án «Youth in Media» của VATV và APACAF hầu bảo trợ các anh chị em sinh viên, chuyên gia trẻ trong các công tác xã hội, giúp đỡ đồng bào nghèo tại các vùng quê hẻo lánh ở Việt Nam cũng như những đồng hương tại hải ngoại.  Dự án này sẽ được hợp tác với Bút Nhóm Lửa Việt dưới sự cố vấn của Linh Mục Nguyễn Hoài Chương.  Hằng năm, họ có những công tác «medical mission» về Việt Nam.  “Youth in Media” sẽ bắt đầu thâu thập những sinh hoạt của các công tác này qua những mẩu phim tài liệu cho các chương trình truyền hình trong cộng đồng.

Với gần 400 khán giả đến thưởng thức, Mùa Len Trâu đã đem rất nhiều bùi ngùi và gợi cảm cho người xem.  Nhất là những ai chưa hề mục kích cuộc sống cơ hàn của những người dân quê nghèo nơi vùng nước lũ Cà Mau, có thể nói Mùa Len Trâu đã mang cho họ sự gần gũi với những con trâu lành và những mảnh tình dân quê chất phát lồng trong khung cảnh của sự thiếu thốn và cạnh tranh để duy trì sự sống tồn.

Những ấn tượng về những mục đồng và phong tục truyền thống trăn trâu của họ cũng là một bài học quí giá để chúng ta nhìn thấy những đưa đẩy của xã hội và sức hủy diệt mãnh liệt của thiên nhiên đã ảnh hưởng đến nhân cách của những tâm hồn bình dân nhưng không kém cỏi những ước muốn, những dục vọng, những khao khát để đưa đến những bạo lực tranh chấp. 

Trọn bộ Mùa Len Trâu được quay tại vùng đất thấp Cà Mau với căn nhà lá èo uột cột trên những thân cây mảnh khảnh trên dòng nước đục và những mục đồng len trâu ngược nước để tìm vùng đất cỏ nuôi trâu.  Hầu như suốt cả cuốn phim đều bị bao trùm bởi nước; nước nhiều đến nỗi người xem có cảm giác như mình phải mặc áo «phao nổi» chứ không sẽ bị chìm mất.  Thế mà, những người nông dân kia đã cam chịu sống qua bao thế hệ. 

Với một ngân khoản khiêm tốn và hạn chế về kỹ thuật tối tân, Đạo Diễn Nguyễn Võ Nghiêm-Minh vẫn đủ khả năng cấu tạo quá trình trưởng thành qua cuộc hành trình của nhân vật chính trong phim.  Kìm, một thiếu niên vừa tròn 15 tuổi, sinh sống trong thời Pháp thuộc, gia đình nghèo khó, làm tá điền; gia tài vỏn vẹn chỉ có hai con trâu dùng để đi cày mướn.

Vùng Cà Mau là vùng nước lũ.  Một năm chỉ có hai mùa, nắng khô và mưa lũ tràn trề, gây lụt lội khắp vùng.  Đạo diễn Minh cho biết, «chúng tôi tốn 6 tháng trời và phải đợi đúng mùa nước lụt để quay phim, chứ không dùng hệ thống máy móc tối tân để hoá trang.  Cảnh nước ngập mà khán giả thấy chính là nước lũ thật.»  Vào mùa nước lũ, cỏ cây bị ngập, không đủ để nuôi trâu.  Người dân trong vùng phải lùa trâu lên những vùng đất cao để kiếm cỏ cho chúng.  Có khi họ phải mướn mục đồng trăn trâu hộ, nhưng gia đình Kìm quá nghèo, không có khả năng mướn thợ len trâu.  Vì thế, cha của Kìm quyết định cho con tự len trâu lên núi Ba Thê, mở ngõ cho bước trưởng thành của cậu thiếu niên và khơi lại một dĩ vãng không đẹp mà cha cậu đã gây ra. 

Cốt truyện của cuốn phim được dựa trên 2 mẩu truyện ngắn, «Mùa Len Trâu» và «Một Cuộc Biển Dâu» trong tập truyện «Hương Rừng Cà Mau» của nhà văn Sơn Nam, năm nay đã ngoài 70.  Thêm vào đó, Đạo diễn Minh cho biết, anh cũng đã phá luật trong khi làm phim.  Thường thì thú vật, trẻ em, tầu thuyền, và thời điểm không được sử dụng vì vấn đề an toàn.  « Chúng tôi làm việc dưới nước, trong giông bão, sóng to, gió lớn với dòng điện cực mạnh, thế nhưng chúng tôi đã dùng 300 con trâu, 2 em nhỏ để đóng phim trong tình trạng hơi hiểm nghèo này.  Chúng tôi thường gặp trở ngại vì máy móc hay bị trục trặc vì thời tiết.» 

Truyện phim được dẫn dắt bằng những dòng hồi ức của nhân vật chính, Kìm, với lời tường thuật truyền cảm của chính Đạo diễn Minh: «Cả đời tôi sống ở đây.  Cà Mau hai mùa mưa nắng.  Mùa mưa nước phủ trùm lên tất cả.  Cỏ và nhà.  Người và trâu.  Tới mùa khô, tôi chỉ nhớ được mùi đất, mùi của những rũ mục để lại từ nước…»  Trong xã hội thực dân thời ấy, với môi trường thiên nhiên hoang sơ, con người chỉ còn biết sống bám vào một cuộc đời ba chìm bảy nổi, phó mặc số phận cho trời đất.   Dưới ách thống trị của ngoại xâm, thêm vào sức hủy hoại của thiên nhiên, tâm tính của người đàn ông thời ấy bị dồn ép, bị lệ thuộc, và không có cơ hội thoát ly, tự chủ.  Họ chỉ nhìn thấy sức mạnh là quyền lực và đã dùng nó để chinh phục những gì yếu đuối hơn. Trong sự thiếu nghĩ suy đó, họ đã tự biến mình thành những kẻ giang hồ, hảo hớn, sống du thủ du thực như những cặn bã của cuộc đời sau cơn bão lụt.

Mở đầu cuốn phim là cảnh nước lũ tràn trề.  Nước phủ trùm cả không gian vùng quê nghèo.  Vì không đủ tiền, cha mẹ của Kìm đành phải cho cậu nhập bọn len trâu để nuôi sống hai con trâu già, nguồn nhiên lợi của họ đến mùa gặt lúa.  Lần đầu tiên xa nhà, với những mẫu chuyện hào hứng đã nghe lén khi cha trò chuyện với mẹ, Kìm náo nức, mong đợi cơ hội được ngắm hàng trăm con trâu len dòng nước đến vùng đồng cỏ, đến vùng núi Ba Thê, xem trâu đo độ với thú rừng, xem núi và đất hòa hợp thành giang sơn hùng vĩ.  Điều đầu tiên Kìm chứng kiến là sự hung bạo của nhóm len trâu cùng với sức mãnh liệt của thiên nhiên.  Sự thơ ngây, trong trắng của Kìm dần dần bị ảnh hưởng bởi cuộc sống của đám du thử, du thực dưới tay điều khiển của Lập và thế giới hoang dã của thiên nhiên.   Ngoài việc đối đầu với sự nhẫn tâm, vô tình của thiên nhiên, Kìm cũng phải mục kích cuộc sống bụi đời của những kẻ len trâu, rượu chè be bét, hút sách nghiện ngập, những cuộc thanh toán, trả đũa nhau và nhẫn tâm hơn hết, dục vọng dã nhân biến họ thành những con thú dữ hãm hiếp phái yếu.  Sau mùa len trâu đầu tiên, Kìm trở về với gia đình với một bản sắc mới, phản ảnh những bản chất hung bạo của một kẻ côn đồ, khiến cha mẹ lo buồn, nhưng cuộc sống khó khăn, họ chỉ đành ngậm đắng nuốt cay chấp nhận một sự thật phũ phàng. 

Con trâu còn lại cũng bị bán nốt và cha mẹ rời lên vùng đất cao để sanh sống.  Bất mãn, Kìm trở lại cuộc sống len trâu.  Cùng hai người bạn thành lập nhóm len trâu mướn riêng cùng cạnh tranh với đảng phái của Lập.  Cũng trong thời gian len trâu lần thứ hai này, Kìm đã trưởng thành trong cay đắng, trong thử thách, trong sự khao khát của những gì không đạt được.  Cũng nơi thời điểm này, Kìm đã nếm vị đắng cuộc đời của một thanh niên yêu trộm; nỗi đau đớn của tình yêu đơn phương đã khiến Kìm nhận thức được sự cần thiết giải tỏa cơn dục vọng của người đàn ông.  Đồng thời, sự hất hủi của mối tình đơn phương và sự ra đi của cha đã tạo cho Kìm trưởng thành nhanh chóng.  Nhưng trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông Tư đã kể lại cho con quá khứ của ông và xuất thân của Kìm.  Kìm là sự cấu tạo của một sự hãm hiếp mà ông Tư thời son trẻ đã gây ra.  Với Kìm đó là một sự thật phũ phàng, không kềm lòng.  Tiếng la của Kìm khi cha chết trở nên ai oán, đớn đau cho số kiếp con người vang vọng những dồn ép, u uẩn tự trong tâm hồn.  Nhưng trong cái phũ phàng, oái oăm của cuộc đời khốn cùng, cái hung tợn, hoang thú  của nhân sinh thời ấy, đạo đức của những người dân nghèo giản dị, chân thật vẫn còn được duy trì của hình ảnh của ông bà Hai Tích.  Những người xa lạ, không thân thích với Kìm nhưng với tấm lòng cao thượng, họ đã giúp Kìm tìm được hướng đi đạo lý, trở về với cuộc sống bình dị nhưng không thiếu tình người, từ bỏ đi cuộc sống len trâu hoang đàng.

Mùa Len Trâu mang nhiều đặc điểm khác lạ và một giá trị tinh thần được thể hiện qua nhiều trạng thái.  Chỉ cái tựa phim đã gây chú ý, hào hứng cho người xem.  Mùa Len Trâu là gì" Theo Đạo diễn Minh, chữ «Len» thường được dùng dưới miền Nam, vùng đất lũ Cà Mau, để mô tả quang cảnh những mục đồng hướng dẫn trâu lên vùng đất cao, khô và có cỏ để sống cho đến khi nước rút.  Người và trâu phải len lỏi qua dòng nước lũ để tìm đến nơi an toàn.  Cái phong tục len trâu ngày nay cũng dần dà biến dạng. 

Đạo diễn Minh quả thực đã gói ghém cả tâm linh vào cuốn phim nhựa này.  Cốt truyện với một bố cục vững vàng và một đạo lý sâu xa phản ảnh tính chất nhà Thiền rất nhiều.  Mỗi lần xem phim lại, người xem lại tìm thấy một vài quan điểm mới tích tụ trong nhân vật, trong cảnh trí, trong lời nói, trong tiếng nhạc.  Tuy Kìm là nhân vật chính trong phim, nhưng nước là bối cảnh duy nhất tạo ra những áp lực tàn khốc, hủy hoại mọi sinh vật và sinh lực.  Nước thường được tượng trưng cho sức sống và sự thanh khiết, nhưng nước trong Mùa Len Trâu là biểu tượng của sự tuần hoàn của nhân loại--của sự sống và cái chết.  Không gian ở phía trên mặt nước diễn đạt những sinh hoạt linh động, người người vất vả để tìm miếng cơm, manh áo.  Không gian dưới lòng nước là những linh hồn tuy đã thoát tục trần nhưng chưa thoát nổi cái nghiệp gian truân. 

Hình ảnh của phim là cả một nghệ thuật thâu hình, hoàn toàn không bị kiềm chế bởi máy móc tối tân, ngoại trừ ánh đèn.  Nguyễn Võ Nghiêm Minh mê tranh của hai họa sĩ Georges de la Tour và Caravaggio nên những hình ảnh trong phim được quay nhiều về đêm để sử dụng ánh sáng trên người và vật như dể phản ảnh những nét thực hư của đời.  Âm nhạc và âm thanh cũng rất giới hạn như để người xem có thể chú trọng đến câu truyện mà không cần phải có sự hỗ trợ của âm thanh để tạo thêm hào hứng.  Người xem có cảm tưởng như mình đang sống thực trong khung cảnh ấy.  Những diễn viên cũng giới hạn mức diễn xuất của mình để tạo nên một ấn tượng chất phát, tự nhiên, không tập dợt, hầu như họ là những nhân đang sống thực trong quá khứ đó.

Đối với thế hệ sanh sống ở tỉnh thành, chưa hề mục kích được nỗi khó nhọc của những kẻ len trâu, cuốn phim này đã cung cấp một bài học tinh thần có giá trị vô cùng.  Ngày xưa còn bé cứ hay nghêu ngao hát «ai bảo trăn trâu là khổ, trăn trâu sướng lắm chứ…». Nhưng cái hình ảnh thơ ngây, bình an của chú ngư đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, tưởng tượng tiếng sáo chiều vi vu trong gió giờ đây, sau khi xem Mùa Len Trâu, chỉ là trong truyện ngụ ngôn thần thoại. 

Trong vòng 102 phút, Mùa Len Trâu đã đưa người xem đến gần với những chú trâu hiền hòa, hiểu thông được nghiệp kiếp của loài cầm thú trong một xứ nghèo, cảm thông được nhân tính của những kẻ len trâu, vì thời thế đè nén, phải cam chịu dồn ép, và nhất là được hoài niệm những hình ảnh quê hương.  Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, quan khách của mọi thế hệ xem xong phim ra về không khỏi xúc động và ươm đọng những cảm giác thú vị vì đã học hỏi đưọc nhiều điều vui lạ mà chính bản thân mình chưa hề được chứng kiến.

Mùa Len Trâu cũng đã được phát hành trên DVD và được phân phát tại các đại lý trên mạng lưới với tên «Buffalo Boy»; phim nói tiếng Việt với phụ đề Anh ngữ.  Ngoài ra, DVD cũng được bán tại trung tâm băng nhạc Washington Music Center tại Eden Center.  Phim có vài đoạn nhỏ hơi hung mãnh cho trẻ em, nhung tổng quát thì cuốn phim này là một tài liệu quý giá nên duy trì trong kho tàng giải trí cho mọi gia đình.     

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi ngày kỷ niệm 250 năm Tuyên Dương Độc Lập đang đến gần, Hoa Kỳ đứng trước một câu hỏi quan trọng: Liệu một trong những giá trị cốt lõi nhất của bản Tuyên Dương – rằng chính phủ phải hoạt động minh bạch, có trách nhiệm trước nhân dân và tuân thủ pháp luật – có còn được giữ vững? Trước khi bản Tuyên Dương Độc Lập ra đời, các nhà lập quốc đã lên án việc chính quyền Vua George III chà đạp nhân quyền của các thuộc địa. Không chỉ vậy, họ còn đưa nguyên tắc bảo vệ vào Hiến pháp sau này, thông qua khái niệm gọi là “quyền được xét xử công bằng” (due process).
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, Donald Trump đã khiến nhiều người sửng sốt vì tốc độ thay đổi chóng mặt trong hàng ngũ các viên chức nội các và cố vấn thân cận. Nhưng khi bước vào nhiệm kỳ hai, hiện tượng ấy gần như biến mất; chỉ còn một vài người rút lui. Nhưng theo các chuyên gia, điều đó không đồng nghĩa với sự hòa hợp. Thay vào đó, sự “ổn định” ấy đến từ việc Trump chỉ chọn những người không dám làm trái ý mình. Những người sẵn sàng nghe và vâng lời ông, bất kể đúng sai.
Ở Hoa Kỳ, khi nghe đến cụm từ “giáo dục tổng quát,” người ta thường hình dung về những khóa học nhập môn trong các lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và toán học. Tùy vào mỗi trường, chương trình này có thể mang những cái tên khác nhau như “chương trình căn bản” (core curriculum) hay “các môn học bắt buộc” (distribution requirements). Ngoài ra, chương trình này đôi khi còn có một tên gọi khác là “giáo dục khai phóng” (liberal education). Hội các trường Cao đẳng và Đại học Hoa Kỳ (American Association of Colleges and Universities, AACU) mô tả đây là chương trình giúp bồi dưỡng “tinh thần trách nhiệm xã hội, cùng với các kỹ năng trí tuệ và thực tiễn vững vàng có thể vận dụng linh hoạt.”
Trong nhiều năm kể từ khi Jeffrey Epstein được phát hiện chết trong phòng giam tại Metropolitan Correctional Center (MCC), New York, giới chức liên bang luôn khẳng định rằng cái chết này là một vụ tự sát. Tuy nhiên, một cuộc điều tra độc lập do CBS News thực hiện đã phơi bày hàng loạt mâu thuẫn giữa các tuyên bố của chính phủ và những gì thực sự hiện ra trong đoạn phim giám sát vừa được công bố.
Cuối mùa Hè năm 1955, Till-Mobley tiễn con trai của bà, Emmett Till 14 tuổi lên một chuyến tàu từ Chicago đến thăm chú và các anh em họ của Emmett ở quê hương Mississippi của bà. Giống như những phụ nữ và đàn ông da đen nói với con cái họ về việc chú ý các điểm dừng giao thông và các cuộc chạm trán khác với cảnh sát, Till-Mobley đã căn dặn Emmett rất kỹ. Bà cho cậu biết cậu đang đi đến một nơi mà an toàn phụ thuộc vào khả năng kiềm chế sự bốc đồng, tính cách không khuất phục của cậu với người da trắng. Linh cảm của người mẹ mang đến trong lòng bà nỗi bất an không giải thích được. Bà đưa cho Emmett chiếc nhẫn bạc của ông Louis Till, cha của cậu. Chiếc nhẫn khắc chữ L.T.
“Đi về Miền Nam, miền hương thơm bông lúa tràn ngập đầy đồng; Đi về Miền Nam, miền xinh tươi đất rộng cùng chung nguồn sống” Và cứ như thế, với tiếng hát trong tâm tưởng, từng đoàn người gồng gánh ra đi. Họ đi về hướng Nam giống như cha ông của mình từ bao nhiêu thế kỷ trước. Bây giờ lại còn một động lực mới và mãnh liệt khác, đó là đi tìm tự do: ‘chúng tôi muốn sống!’, như tên gọi một cuốn phim nổi tiếng của đồng bào di cư sau này. Cuối tháng 6, dù hiệp định đình chiến chưa ký kết nhưng quân đội Pháp và Quốc gia đã rút lui khỏi nhiều địa điểm ở đồng bằng Bắc Việt nên nhiều người bắt đầu di tản về các đô thị, đặc biệt là Hải phòng.
Cõi này ngày càng bất an! Tình trạng hâm nóng toàn cầu đã dẫn tới nhiều thảm họa như bão lụt, hạn hán, mực nước biển dâng cao, dịch bệnh, mất mùa, đói khát lầm than. Chiến tranh thù hận ngày càng hung bạo đã làm cho hàng triệu người thương vong, nhà cửa ruộng vườn bị phá hoại. Các chế độ độc tài, quân phiệt, và nạn kỳ thị sắc tộc đã thẳng tay đàn áp dân lành. Tất cả những điều trên đã dẫn đến thảm trạng bỏ nước đi của hàng triệu người trên thế giới! Theo Population Division of the United Nations Department of Economic and Social Affairs (UNDESA), năm 2024 có tới 304 triệu di dân trên toàn cầu, là một con số tăng gần gấp đôi kể từ năm 1990, khi lúc đó có 154 triệu di dân trên thế giới. Đó là 3.7% tổng dân số địa cầu. Theo Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, tính tới cuối năm 2024, có 43.7 triệu người tị nạn, gồm 6 triệu người tị nạn từ Palestine và 8 triệu người xin được nhận vào quy chế tị nạn trên toàn cầu.
Trong số người Việt, thế hệ thứ nhất có 29% học xong cử nhân hay cao hơn. Thế hệ sinh ra lớn lên tại Hoa Kỳ con số này là 59%. Như thế có thể lý giải là phụ huynh không có cơ hội học cao nhưng khuyến khích con theo đuổi đường học vấn cho tương lai.
Khi các chuyên gia quan ngại về mối quan hệ của giới trẻ với thông tin trực tuyến, họ thường cho rằng giới trẻ tuổi không hiểu biết về phương tiện truyền thông như những người lớn tuổi hơn. Nhưng công trình nghiên cứu dân tộc học do Jigsaw – cơ sở công nghệ của Google - thực hiện lại tiết lộ một thực tế phức tạp và tinh tế hơn: Thế hệ Z, thường được hiểu là những người sinh sau năm 1997 và trước năm 2012, đã phát triển các chiến lược khác biệt rõ rệt để đánh giá thông tin trực tuyến, những chiến lược sẽ khiến bất kỳ ai trên 30 tuổi trở nên bối rối. Họ không tiếp thu thông tin như những người lớn tuổi hơn bằng cách đầu tiên đọc tiêu đề và sau đó là nội dung.
Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.