Hôm nay,  

‘Mùa Len Trâu’

25/05/200600:00:00(Xem: 3864)

Hình ảnh trong Mùa Len Trâu.

(Falls Church, VA)—Như chiếc nhà lá nổi trôi trên dòng nước lũ, cuốn phim nhựa « Mùa Len Trâu » của Đạo Diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh trong chuyến viễn du của bộ Global Lens Film Series cũng trôi theo dòng thời gian ghé những thành phố từ miền Tây sang miền Đông để rồi đến vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong hai ngày cuối tuần vừa qua (05/20 và 05/21), ra mắt cùng đồng bào trong cộng đồng Việt Nam tại Loehmann’s Twin Cinemas tại Falls Church, Virginia.  Ngoài ra, mục đích của hai buổi chiếu phim này là để gây quỹ cho dự án «Youth in Media» của VATV và APACAF hầu bảo trợ các anh chị em sinh viên, chuyên gia trẻ trong các công tác xã hội, giúp đỡ đồng bào nghèo tại các vùng quê hẻo lánh ở Việt Nam cũng như những đồng hương tại hải ngoại.  Dự án này sẽ được hợp tác với Bút Nhóm Lửa Việt dưới sự cố vấn của Linh Mục Nguyễn Hoài Chương.  Hằng năm, họ có những công tác «medical mission» về Việt Nam.  “Youth in Media” sẽ bắt đầu thâu thập những sinh hoạt của các công tác này qua những mẩu phim tài liệu cho các chương trình truyền hình trong cộng đồng.

Với gần 400 khán giả đến thưởng thức, Mùa Len Trâu đã đem rất nhiều bùi ngùi và gợi cảm cho người xem.  Nhất là những ai chưa hề mục kích cuộc sống cơ hàn của những người dân quê nghèo nơi vùng nước lũ Cà Mau, có thể nói Mùa Len Trâu đã mang cho họ sự gần gũi với những con trâu lành và những mảnh tình dân quê chất phát lồng trong khung cảnh của sự thiếu thốn và cạnh tranh để duy trì sự sống tồn.

Những ấn tượng về những mục đồng và phong tục truyền thống trăn trâu của họ cũng là một bài học quí giá để chúng ta nhìn thấy những đưa đẩy của xã hội và sức hủy diệt mãnh liệt của thiên nhiên đã ảnh hưởng đến nhân cách của những tâm hồn bình dân nhưng không kém cỏi những ước muốn, những dục vọng, những khao khát để đưa đến những bạo lực tranh chấp. 

Trọn bộ Mùa Len Trâu được quay tại vùng đất thấp Cà Mau với căn nhà lá èo uột cột trên những thân cây mảnh khảnh trên dòng nước đục và những mục đồng len trâu ngược nước để tìm vùng đất cỏ nuôi trâu.  Hầu như suốt cả cuốn phim đều bị bao trùm bởi nước; nước nhiều đến nỗi người xem có cảm giác như mình phải mặc áo «phao nổi» chứ không sẽ bị chìm mất.  Thế mà, những người nông dân kia đã cam chịu sống qua bao thế hệ. 

Với một ngân khoản khiêm tốn và hạn chế về kỹ thuật tối tân, Đạo Diễn Nguyễn Võ Nghiêm-Minh vẫn đủ khả năng cấu tạo quá trình trưởng thành qua cuộc hành trình của nhân vật chính trong phim.  Kìm, một thiếu niên vừa tròn 15 tuổi, sinh sống trong thời Pháp thuộc, gia đình nghèo khó, làm tá điền; gia tài vỏn vẹn chỉ có hai con trâu dùng để đi cày mướn.

Vùng Cà Mau là vùng nước lũ.  Một năm chỉ có hai mùa, nắng khô và mưa lũ tràn trề, gây lụt lội khắp vùng.  Đạo diễn Minh cho biết, «chúng tôi tốn 6 tháng trời và phải đợi đúng mùa nước lụt để quay phim, chứ không dùng hệ thống máy móc tối tân để hoá trang.  Cảnh nước ngập mà khán giả thấy chính là nước lũ thật.»  Vào mùa nước lũ, cỏ cây bị ngập, không đủ để nuôi trâu.  Người dân trong vùng phải lùa trâu lên những vùng đất cao để kiếm cỏ cho chúng.  Có khi họ phải mướn mục đồng trăn trâu hộ, nhưng gia đình Kìm quá nghèo, không có khả năng mướn thợ len trâu.  Vì thế, cha của Kìm quyết định cho con tự len trâu lên núi Ba Thê, mở ngõ cho bước trưởng thành của cậu thiếu niên và khơi lại một dĩ vãng không đẹp mà cha cậu đã gây ra. 

Cốt truyện của cuốn phim được dựa trên 2 mẩu truyện ngắn, «Mùa Len Trâu» và «Một Cuộc Biển Dâu» trong tập truyện «Hương Rừng Cà Mau» của nhà văn Sơn Nam, năm nay đã ngoài 70.  Thêm vào đó, Đạo diễn Minh cho biết, anh cũng đã phá luật trong khi làm phim.  Thường thì thú vật, trẻ em, tầu thuyền, và thời điểm không được sử dụng vì vấn đề an toàn.  « Chúng tôi làm việc dưới nước, trong giông bão, sóng to, gió lớn với dòng điện cực mạnh, thế nhưng chúng tôi đã dùng 300 con trâu, 2 em nhỏ để đóng phim trong tình trạng hơi hiểm nghèo này.  Chúng tôi thường gặp trở ngại vì máy móc hay bị trục trặc vì thời tiết.» 

Truyện phim được dẫn dắt bằng những dòng hồi ức của nhân vật chính, Kìm, với lời tường thuật truyền cảm của chính Đạo diễn Minh: «Cả đời tôi sống ở đây.  Cà Mau hai mùa mưa nắng.  Mùa mưa nước phủ trùm lên tất cả.  Cỏ và nhà.  Người và trâu.  Tới mùa khô, tôi chỉ nhớ được mùi đất, mùi của những rũ mục để lại từ nước…»  Trong xã hội thực dân thời ấy, với môi trường thiên nhiên hoang sơ, con người chỉ còn biết sống bám vào một cuộc đời ba chìm bảy nổi, phó mặc số phận cho trời đất.   Dưới ách thống trị của ngoại xâm, thêm vào sức hủy hoại của thiên nhiên, tâm tính của người đàn ông thời ấy bị dồn ép, bị lệ thuộc, và không có cơ hội thoát ly, tự chủ.  Họ chỉ nhìn thấy sức mạnh là quyền lực và đã dùng nó để chinh phục những gì yếu đuối hơn. Trong sự thiếu nghĩ suy đó, họ đã tự biến mình thành những kẻ giang hồ, hảo hớn, sống du thủ du thực như những cặn bã của cuộc đời sau cơn bão lụt.

Mở đầu cuốn phim là cảnh nước lũ tràn trề.  Nước phủ trùm cả không gian vùng quê nghèo.  Vì không đủ tiền, cha mẹ của Kìm đành phải cho cậu nhập bọn len trâu để nuôi sống hai con trâu già, nguồn nhiên lợi của họ đến mùa gặt lúa.  Lần đầu tiên xa nhà, với những mẫu chuyện hào hứng đã nghe lén khi cha trò chuyện với mẹ, Kìm náo nức, mong đợi cơ hội được ngắm hàng trăm con trâu len dòng nước đến vùng đồng cỏ, đến vùng núi Ba Thê, xem trâu đo độ với thú rừng, xem núi và đất hòa hợp thành giang sơn hùng vĩ.  Điều đầu tiên Kìm chứng kiến là sự hung bạo của nhóm len trâu cùng với sức mãnh liệt của thiên nhiên.  Sự thơ ngây, trong trắng của Kìm dần dần bị ảnh hưởng bởi cuộc sống của đám du thử, du thực dưới tay điều khiển của Lập và thế giới hoang dã của thiên nhiên.   Ngoài việc đối đầu với sự nhẫn tâm, vô tình của thiên nhiên, Kìm cũng phải mục kích cuộc sống bụi đời của những kẻ len trâu, rượu chè be bét, hút sách nghiện ngập, những cuộc thanh toán, trả đũa nhau và nhẫn tâm hơn hết, dục vọng dã nhân biến họ thành những con thú dữ hãm hiếp phái yếu.  Sau mùa len trâu đầu tiên, Kìm trở về với gia đình với một bản sắc mới, phản ảnh những bản chất hung bạo của một kẻ côn đồ, khiến cha mẹ lo buồn, nhưng cuộc sống khó khăn, họ chỉ đành ngậm đắng nuốt cay chấp nhận một sự thật phũ phàng. 

Con trâu còn lại cũng bị bán nốt và cha mẹ rời lên vùng đất cao để sanh sống.  Bất mãn, Kìm trở lại cuộc sống len trâu.  Cùng hai người bạn thành lập nhóm len trâu mướn riêng cùng cạnh tranh với đảng phái của Lập.  Cũng trong thời gian len trâu lần thứ hai này, Kìm đã trưởng thành trong cay đắng, trong thử thách, trong sự khao khát của những gì không đạt được.  Cũng nơi thời điểm này, Kìm đã nếm vị đắng cuộc đời của một thanh niên yêu trộm; nỗi đau đớn của tình yêu đơn phương đã khiến Kìm nhận thức được sự cần thiết giải tỏa cơn dục vọng của người đàn ông.  Đồng thời, sự hất hủi của mối tình đơn phương và sự ra đi của cha đã tạo cho Kìm trưởng thành nhanh chóng.  Nhưng trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông Tư đã kể lại cho con quá khứ của ông và xuất thân của Kìm.  Kìm là sự cấu tạo của một sự hãm hiếp mà ông Tư thời son trẻ đã gây ra.  Với Kìm đó là một sự thật phũ phàng, không kềm lòng.  Tiếng la của Kìm khi cha chết trở nên ai oán, đớn đau cho số kiếp con người vang vọng những dồn ép, u uẩn tự trong tâm hồn.  Nhưng trong cái phũ phàng, oái oăm của cuộc đời khốn cùng, cái hung tợn, hoang thú  của nhân sinh thời ấy, đạo đức của những người dân nghèo giản dị, chân thật vẫn còn được duy trì của hình ảnh của ông bà Hai Tích.  Những người xa lạ, không thân thích với Kìm nhưng với tấm lòng cao thượng, họ đã giúp Kìm tìm được hướng đi đạo lý, trở về với cuộc sống bình dị nhưng không thiếu tình người, từ bỏ đi cuộc sống len trâu hoang đàng.

Mùa Len Trâu mang nhiều đặc điểm khác lạ và một giá trị tinh thần được thể hiện qua nhiều trạng thái.  Chỉ cái tựa phim đã gây chú ý, hào hứng cho người xem.  Mùa Len Trâu là gì" Theo Đạo diễn Minh, chữ «Len» thường được dùng dưới miền Nam, vùng đất lũ Cà Mau, để mô tả quang cảnh những mục đồng hướng dẫn trâu lên vùng đất cao, khô và có cỏ để sống cho đến khi nước rút.  Người và trâu phải len lỏi qua dòng nước lũ để tìm đến nơi an toàn.  Cái phong tục len trâu ngày nay cũng dần dà biến dạng. 

Đạo diễn Minh quả thực đã gói ghém cả tâm linh vào cuốn phim nhựa này.  Cốt truyện với một bố cục vững vàng và một đạo lý sâu xa phản ảnh tính chất nhà Thiền rất nhiều.  Mỗi lần xem phim lại, người xem lại tìm thấy một vài quan điểm mới tích tụ trong nhân vật, trong cảnh trí, trong lời nói, trong tiếng nhạc.  Tuy Kìm là nhân vật chính trong phim, nhưng nước là bối cảnh duy nhất tạo ra những áp lực tàn khốc, hủy hoại mọi sinh vật và sinh lực.  Nước thường được tượng trưng cho sức sống và sự thanh khiết, nhưng nước trong Mùa Len Trâu là biểu tượng của sự tuần hoàn của nhân loại--của sự sống và cái chết.  Không gian ở phía trên mặt nước diễn đạt những sinh hoạt linh động, người người vất vả để tìm miếng cơm, manh áo.  Không gian dưới lòng nước là những linh hồn tuy đã thoát tục trần nhưng chưa thoát nổi cái nghiệp gian truân. 

Hình ảnh của phim là cả một nghệ thuật thâu hình, hoàn toàn không bị kiềm chế bởi máy móc tối tân, ngoại trừ ánh đèn.  Nguyễn Võ Nghiêm Minh mê tranh của hai họa sĩ Georges de la Tour và Caravaggio nên những hình ảnh trong phim được quay nhiều về đêm để sử dụng ánh sáng trên người và vật như dể phản ảnh những nét thực hư của đời.  Âm nhạc và âm thanh cũng rất giới hạn như để người xem có thể chú trọng đến câu truyện mà không cần phải có sự hỗ trợ của âm thanh để tạo thêm hào hứng.  Người xem có cảm tưởng như mình đang sống thực trong khung cảnh ấy.  Những diễn viên cũng giới hạn mức diễn xuất của mình để tạo nên một ấn tượng chất phát, tự nhiên, không tập dợt, hầu như họ là những nhân đang sống thực trong quá khứ đó.

Đối với thế hệ sanh sống ở tỉnh thành, chưa hề mục kích được nỗi khó nhọc của những kẻ len trâu, cuốn phim này đã cung cấp một bài học tinh thần có giá trị vô cùng.  Ngày xưa còn bé cứ hay nghêu ngao hát «ai bảo trăn trâu là khổ, trăn trâu sướng lắm chứ…». Nhưng cái hình ảnh thơ ngây, bình an của chú ngư đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, tưởng tượng tiếng sáo chiều vi vu trong gió giờ đây, sau khi xem Mùa Len Trâu, chỉ là trong truyện ngụ ngôn thần thoại. 

Trong vòng 102 phút, Mùa Len Trâu đã đưa người xem đến gần với những chú trâu hiền hòa, hiểu thông được nghiệp kiếp của loài cầm thú trong một xứ nghèo, cảm thông được nhân tính của những kẻ len trâu, vì thời thế đè nén, phải cam chịu dồn ép, và nhất là được hoài niệm những hình ảnh quê hương.  Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, quan khách của mọi thế hệ xem xong phim ra về không khỏi xúc động và ươm đọng những cảm giác thú vị vì đã học hỏi đưọc nhiều điều vui lạ mà chính bản thân mình chưa hề được chứng kiến.

Mùa Len Trâu cũng đã được phát hành trên DVD và được phân phát tại các đại lý trên mạng lưới với tên «Buffalo Boy»; phim nói tiếng Việt với phụ đề Anh ngữ.  Ngoài ra, DVD cũng được bán tại trung tâm băng nhạc Washington Music Center tại Eden Center.  Phim có vài đoạn nhỏ hơi hung mãnh cho trẻ em, nhung tổng quát thì cuốn phim này là một tài liệu quý giá nên duy trì trong kho tàng giải trí cho mọi gia đình.     

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Câu chuyện Samuel Green nhắc lại một bài học cũ mà vẫn mới - pháp luật có thể sai, nhưng dư luận đạo đức của xã hội – lương tri chung của nhà giáo, nhà báo, trí thức, giáo dân, độc giả – nếu đủ bền, vẫn có thể bẻ cong những bản án bất công. Khi một mục sư da đen bị tống ngục chỉ vì giữ Uncle Tom’s Cabin, chính các tiếng nói ấy, chứ không phải thiện chí của giới cầm quyền, đã dần mở cửa nhà tù cho ông. Giữa thời nay, khi ngôn ngữ và ý kiến dễ bị dán nhãn, bị siết trong tên gọi “chống woke” hay “đúng đắn chính trị”, bài học đó rất đáng nhớ: nếu xã hội không giữ cho mình một dư luận đạo đức độc lập – bảo vệ quyền đọc, quyền nói, quyền bất đồng – thì khoảng cách từ “quản lý ngôn luận” đến “vào tù vì một cuốn sách” không bao giờ xa như ta tưởng.
Belzoni, một thị trấn chừng hai ngàn dân ở Mississippi, lâu nay được quảng cáo là “Kinh đô Catfish của thế giới”. Nhưng với người da đen, cái tên ấy còn gợi lại một chuyện khác: một trong những vụ treo cổ thời dân quyền đầu tiên trên đất Mỹ ở thế kỷ này. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, hai người thuộc tổ chức White Citizens’ Council ở địa phương nhắm thẳng vào ca-bin xe của Mục sư George Lee mà bắn; mấy viên đạn xé nát nửa phần dưới gương mặt ông. Lee là một trong những người đồng lập hội NAACP tại Belzoni, là người da đen đầu tiên ghi tên đi bầu được ở hạt Humphreys kể từ thời Tái thiết. Không những thế, ông còn vận động cho hơn trăm người da đen cùng thị trấn ghi tên vào danh sách cử tri, một con số đáng kể nếu nhớ tới kích thước nhỏ bé của Belzoni và bầu không khí bạo lực luôn treo lơ lửng trên đầu người da đen dám dùng lá phiếu của mình giữa thời Jim Crow
Khi Tổng thống Donald Trump bày tỏ mong muốn “mua” Greenland vào năm 2019, thế giới ban đầu tưởng rằng đó chỉ là một câu nói đùa. Nhưng khi Nhà Trắng xác nhận đây là đề nghị nghiêm túc, sự kiện lập tức trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế. Đến nhiệm kỳ sau, theo tường thuật của USA Today, ông Trump thậm chí đã tuyên bố trước Quốc hội rằng ông sẽ giành Greenland “bằng cách này hay cách khác” (“one way or the other”). Tuyên bố ấy không chỉ gây sốc vì tính bất ngờ, mà còn vì nó chạm vào một trong những vùng nhạy cảm nhất của địa–chính trị thế kỷ 21: Bắc Cực – nơi băng tan đang mở ra các tuyến hàng hải mới, tài nguyên mới và cạnh tranh chiến lược mới giữa Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, câu chuyện Greenland không chỉ là một giai thoại chính trị. Nó là biểu tượng của sự va chạm giữa tham vọng cường quốc, quyền tự quyết của cộng đồng bản địa, và sự mong manh của các liên minh quốc tế.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.