Hôm nay,  

Bao Giờ Netanyahu Nhập Cuộc?

12/08/200600:00:00(Xem: 3311)

Ngay giữa cuộc chiến, có khi dân Do Thái sẽ chọn Thủ tướng khác.

Một tháng sau khi Israel mở cuộc phản công chống lại lực lượng Hezbollah, không phải chỉ có thế giới mới không hiểu là chuyện gì đang xảy ra tại Lebanon. Người Do Thái cũng vậy.

Và sau khi mạnh mẽ ủng hộ chính quyền của Thủ tướng Ehud Olmert, họ bắt đầu đặt vấn đề.

Trong lịch sử của quốc gia Israel, từ 1948 đến nay, quân lực Do Thái đã phải đối đầu với nhiều cuộc chiến nhưng đều thắng lớn, và thắng trong chớp nhoáng. Cuộc chiến năm 1967 kết thúc trong sáu ngày. Năm 1973, bị Egypt và Syria bất ngờ tấn công, quân Do Thái đã đánh bại kẻ thù trong 20 ngày. Lần này, kẻ thù không phải là một hay nhiều quốc gia Á Rập với các đơn vị chính quy mà là một lực lượng "quân chính", vừa khủng bố, vừa đánh du kích, lại vừa phát huy đạo pháp theo xu hướng cực đoan nhất, qua rất nhiều chương trình xã hội, giáo dục và chính trị.

Lực lượng Hezbollah là một đối thủ bất ngờ - một thất bại về tình báo của Israel - và một đối thủ có khả năng ứng biến cao, lại được trang bị đầy đủ và đã hiểu rõ kỹ thuật tác chiến của Israel.

Thủ tướng Ehud Olmert được dân chúng ủng hộ với đa số áp đảo để nhổ cho được cái gai Hezbollah tại Lebanon và lại được Hoa Kỳ hỗ trợ để có thời giờ hoàn thành việc đó. Ông biết là chính quyền của mình phải sớm đạt thắng lợi quyết định - diệt trừ được cơ sở Hezbollah tại miền Nam Lebanon - trước khi thế giới nhập cuộc với một giải pháp ngoại giao chính trị hầu trung lập hoá hoặc ít ra kiểm soát được một phần lãnh thổ của Lebanon để Hezbollah mất hậu cứ tấn công gây rối cho Israel.

Một tháng sau khi giao tranh đã bùng nổ, ông không đạt được mục tiêu đó trong khi thời điểm của giải pháp ngoại giao đã cận kề.

Ban đầu, cho tới đầu tháng Tám, quân lực Do Thái tận dụng khả năng oanh kích và không tập để phá vỡ các hậu cứ của Hezbollah. Việc ấy không thành. Hezbollah tiếp tục bắn hoả tiễn vào lãnh thổ Israel với nhịp độ ngày một cao và tầm bắn ngày một xa. Đặc công Hezbollah áp dụng một chiến thuật tinh vi bất ngờ để bắn nhanh và rút lẹ khiến các đòn trả đũa của pháo binh và không quân đều đánh hụt mục tiêu. Và thế giới tận tình tường thuật các tổn thất của thường dân Lebanon, với hàm ý đả kích Israel.

Từ mùng một tháng Tám, Israel bắt đầu đổ quân vượt biên giới, và khi đánh khi rút mà cũng vẫn không đạt mục tiêu, trong khi bị tổn thất nặng. Hezbollah có hỏa tiễn chống chiến xa thuộc loại hiện đại nhất của Nga, lại được Iran cải chế, khiến  các chiến xa Merkava, loại cao cấp nhất của Israel, cũng đỡ không nổi. Hôm mùng chín, lãnh tụ Hezbollah cho biết 60 chiếc đã bị loại khỏi vòng chiến: bên Israel chỉ công nhận có 30 chiếc, một con số không nhỏ.

Các đơn vị biệt kích và những lữ đoàn thiện chiến nhất của Israel cũng đã đặt chân vào lãnh thổ Israel, có khi tiến sâu vào thung lũng Bekaa, hang ổ của Hezbollah, mà vẫn chưa đạt kết quả quyết định. Hôm 11, chính quyền Olmert chính thức loan báo: Hội đồng An ninh Quốc gia cho phép đổ quân. Nhưng đổ vào đâu, để đạt mục tiêu gì về quân sự và mục đích gì về chính trị" Vượt sông Litani ở hướng Tây hay tiến vào thung lũng Bekaa ở hướng Đông-Bắc"

Trong suốt một tháng giao tranh, người ta chỉ thấy quân lực Israel do dự giữa hai giải pháp là không tập hay đổ quân vào trận địa chiến, và mâu thuẫn nội bộ giữa hai giải pháp này đã bị tiết lộ ra ngoài. Căn cứ trên kinh nghiệm, hay ấn tượng sẵn có, về khả năng tác chiến của các đơn vị Israel, người ta chờ đợi một đòn bất ngờ có thể xoay chuyển cục diện. Đòn bất ngờ ấy chưa có. Và bất ngờ nhất có lẽ là sự xoay chiều của dư luận Do Thái.

Họ vẫn quyết đánh đến cùng, nhưng hết kiên nhẫn và mất tin tưởng vào chính quyền Olmert.

Chính quyền Olmert thuộc đảng Kadima có khuynh hướng ôn hoà và chủ trương trao trả một phần đất đai cho dân Palestine để mua lấy sự an toàn. Trong chiến lược này, họ gặp sự phản đối của đảng Likud, có chủ trương cứng rắn hơn, nhưng họ vẫn được hậu thuẫn của đa số dư luận quan tâm và có ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ.

Ông Olmert là nhân vật tương đối mờ nhạt và chỉ lên lãnh đạo đảng sau khi nguyên Thủ tướng Ariel Sharon lâm trọng bệnh và bị hôn mê cho đến nay chưa tỉnh. Ariel Sharon nổi tiếng ở chủ trương cứng rắn trong thời chiến nhưng sau đó đã xoay chuyển lập trường khi nhường đất cho dân Palestine để mua hoà bình. Vì chủ trương hòa giải ấy, ông phải ra khỏi đảng Likud, lập đảng Kadima và quy tụ nhiều thành phần ôn hoà bên đảng Lao động.

Một nguyên Thủ tướng của Israel là Binyamin Netanyahu đã bước ra khỏi nội các của Sharon để lãnh đạo đảng Likud. Đảng này thất cử hồi tháng Ba và Olmert làm Thủ tướng, Netanyahu là trưởng khối đối lập, được coi là con diều hâu am hiểu cặn kẽ hồ sơ chống khủng bố.

Suốt năm tuần qua, Netanyahu đã trả lời nhiều cuộc phỏng vấn của truyền thông Do Thái và quốc tế, mà chỉ để bày tỏ quyết tâm chiến đấu và không hề lên tiếng đả kích chính quyền Olmert về phương thức lãnh đạo cuộc chiến. Qua tuần này, nhiều nhân vật Likud đã đặt câu hỏi và yêu cầu tổ chức bầu cử lại, để chọn người lãnh đạo quốc gia và chỉ huy cuộc chiến. Dù vậy, Netanyahu vẫn chưa lên tiếng.

Binyamin Netanyahu hiểu rõ lòng dân: họ muốn hoà bình nên đảng Kadima mới thắng cử và Likud bị đẩy vào vị trí đối lập; nhưng họ cũng muốn đánh bại Hezbollah để có hoà bình, nên ông không muốn có những phát biểu bất lợi cho chính quyền đang lâm chiến. Làm như vậy có thể bị hiểu lầm là đâm sau lưng chiến sĩ, hoặc thiếu tinh thần ái quốc.

Netanyahu cũng hiểu rõ từng ưu nhược điểm của kế hoạch hành quân vì thường xuyên được chính quyền Olmert thông báo: Israel là một xứ dân chủ trưởng thành và các lãnh tụ tả hay hữu, Lao động, Kadima hay Likud, đều một lòng vì sự sống còn của quốc gia Israel, hơn là sự thịnh suy của đảng.

Nhưng Netanyahu là chính khách và cũng có lý do giữ im lặng thuộc loại tính toán chính trị.

Nếu chính quyền Olmert thành công trong chiến dịch Lebanon này, đảng Likud vẫn có thế mạnh vì 1) tôn trọng luật chơi dân chủ vì sự tồn vong của quốc gia, và 2) chứng minh là không thể nhượng bộ khối Á Rập. Trong cuộc bầu cử kế tiếp, những thành phần quan tâm đến an ninh quốc gia sẽ nhìn lại lập trường và thành tích bảo vệ an ninh của đảng. Ông vẫn có hy vọng lên làm Thủ tướng của một nước Irael cứng rắn hơn với khối Hồi giáo vây quanh.

Ngược lại, nếu Thủ tướng Olmert tuột tay và tình hình Lebanon suy đồi thêm, khi quân lực Israel bị tổn thất nặng mà Hezbollah vẫn giữ thế mạnh, dân chúng Do Thái sẽ đòi hỏi một chính quyền mạnh, và chọn một Thủ tướng dám cho quân đội rộng quyền tác chiến. Tuần này, nhiều đảng viên Likud đã nói đến việc đó, nhưng Netanyahu vẫn kín đáo chưa lên tiếng.

Trong giả thuyết thứ ba, khi tình hình còn bất phân thắng bại thì quốc tế nhập cuộc với một giải pháp ngưng bắn và với đòi hỏi là mọi lực lượng ngoại quốc phải rút khỏi Lebanon, Thủ tướng Olmert sẽ bị dân chúng Do Thái đả kích là không hoàn thành nhiệm vụ và bán đứng an ninh tổ quốc. Lúc ấy, Netanyahu có lên tiếng cũng vừa. Chính quyền liên hiệp của Kadima và đảng Lao động đã chủ trì cho một thất bại lớn về ngoại giao và quân sự.

Trong mọi trường hợp, ngôi sao của Netanyahu sẽ chỉ có lên chứ không xuống.

Vấn đề là khi nào"

Trả lời cho câu hỏi ấy, người ta phải nhìn về London và việc chính quyền Anh vừa kịp thời phá vỡ một kế hoạch khủng bố có thể cũng tai hại như vụ 9-11 tại Mỹ năm 2001.

Quân khủng bố dù là sinh trưởng tại Anh (khủng bố nội địa) cũng có sự sáng tạo bất ngờ khi pha chế chất nổ ở thể lỏng và sẽ cho kích hỏa bằng những vật dụng có vẻ vô hại dưới con mắt của an ninh phi trường. Nhưng bất ngờ hơn thế là khả năng điều tra và xâm nhập của nhà chức trách, khiến vụ khủng bố được kịp thời phát giác. Dù như vậy, thế giới và nhất là các nước Tây phương đều biết rằng tai họa vẫn có thể xảy ra vì quân khủng bố luôn luôn có sáng kiến bất ngờ.

Sáng kiến bất ngờ nhất thực ra không thuộc về phe al-Qaeda hay các nhóm khủng bố ngụy danh hay bắt chước al-Qaeda mà là một lực lượng khủng bố… chính quy đang làm chủ tình hình tại Lebanon, lực lượng Hezbollah. Họ có đặc công, cán bộ, có lãnh tụ ở Quốc hội và võ khí ngoài chiến trường. Họ có kỹ thuật hoá giải con mắt tình báo và pháo đạn không quân của Israel. Và nếu quân khủng bố tại Anh có thể làm tê liệt hệ thống hàng không của nhiều nước thì Hezbollah cũng có thể làm tê liệt hệ thống bảo an của thế giới, trước tiên là của Liên hiệp quốc.

Liên hiệp quốc sẽ không thể đòi hỏi hay áp dụng giải pháp chính trị trong đó có điều khoản là giải giới Hezbollah.

Lực lượng này kỳ cựu hơn al-Qaeda, đã phát minh ra đòn khủng bố tự sát, đã khiến Ronald Reagan còn phải rút quân khỏi Lebanon và nay lại không ẩn núp trên núi như các lãnh tụ al-Qaeda mà hàng ngày bắn hỏa tiễn vào Israel và xuất hiện trên truyền hình mỗi khi cần thiết.

Lực lượng này lại đang tranh thủ được cảm tình của dân Hồi giáo trên thế giới, và có hậu thuẫn vững chắc của Iran. Đằng sau Iran là nhiều quốc gia muốn thu hẹp khả năng hành động của Hoa Kỳ, dù với cái giá là an ninh của Israel.

Vụ khủng bố bằng hàng không tại London hôm mùng 10 có thể khiến Binyamin Netanyahu nhìn ra mối nguy sinh tử của Israel trong những ngày tới tại trụ sở Liên hiệp quốc và những năm tới ngay bên trong lãnh thổ Israel.

Ông có thể sẽ hết im lặng.

Có thắng Ehud Olmert trên chính trường tháng này hay năm sau để gặp Hezbollah trong một tương lai không xa thì cũng chỉ là chiến thắng giả. Suy nghĩ như vậy, có khi Netanyahu sẽ lên tiếng. Và chiến sự tại Lebanon sẽ có thay đổi.

Nếu không thể theo dõi từng diễn biến ngoài chiến trường, người ta vẫn có thể suy đoán ra nhiều việc từ chính trường, từ những phát biểu của Binyamin Netanyahu.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm Carlton Terry 12 tuổi, hệ thống trường học tại Quận Prince Edward, bang Virginia, bất ngờ đóng cửa đối với tất cả trẻ em người da đen. Nhớ lại năm đầu tiên ấy, ông kể: “Tất cả những gì tôi biết là tôi không được đến trường, và tôi biết lý do tại sao. Tôi nhận ra rằng hệ thống pháp luật được tạo ra không phải để bảo vệ tôi. Tôi nhớ những ngày ngồi nhà, sững sờ trước màn hình TV, xem chương trình Amos ’n’ Andy. Mỗi ngày, tôi đọc báo để xem liệu có gì thay đổi hay không.”
Ngày 3 tháng 4, 2014 là ngày mất của nhà đấu tranh Ngô Văn Toại. Mời đọc lại bài phóng sự SV Ngô Vương Toại bị Việt Cộng bắn tại trường Văn Khoa SG hôm tổ chức đêm nhạc Trịnh Cộng Sơn - Khánh Ly tháng 12, năm 1967, Sài Gòn.
Theo thời gian, từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, số lượng Tăng, Ni đến định cư ở Mỹ ngày càng đông, theo diện vượt biển và vượt biên tị nạn Cộng Sản (từ 1975 đến 1989), theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (Orderly Departure Program - ODP) và Chiến Dịch Nhân Đạo (The Humanitarian Operation - HO) (từ 1980 đến 1997), hay theo diện hỗ trợ sinh hoạt tôn giáo được các chùa, các tổ chức Phật Giáo ở Mỹ bảo lãnh kể từ đầu những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3. Các vị Tăng, Ni này định cư ở Mỹ dù thuộc diện nào thì đều mang theo mình sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật, duy trì và phát huy truyền thống văn hóa của Dân Tộc và Phật Giáo Việt Nam tại xứ người. Đây là động lực chính hình thành các cộng đồng Phật Giáo Việt Nam ở Mỹ trải dài nửa thế kỷ qua.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành tâm điểm trong lĩnh vực khoa học căn bản (basic science), góp phần định hình những bước tiến mới của nhân loại. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn qua các Giải Nobel Hóa học và Vật lý năm 2024 khi cả năm người đoạt giải đều có điểm chung: có liên quan đến AI.
Trong ba chiến dịch tranh cử tổng thống, Donald Trump liên tục cam kết rằng ông sẽ điều hành chính phủ liên bang như một công ty. Giữ đúng lời hứa, ngay khi tái đắc cử, Trump đã bổ nhiệm tỷ phú công nghệ Elon Musk đứng đầu một cơ quan mới thuộc nhánh hành pháp mang tên Bộ Cải Tổ Chính Phủ (Department of Government Efficiency, DOGE). Sáng kiến của Musk nhanh chóng tạo ra làn sóng cải tổ mạnh mẽ. DOGE đã lột chức, sa thải hoặc cho nghỉ việc hàng chục ngàn nhân viên liên bang, đồng thời tuyên bố đã phát hiện những khoản chi tiêu ngân sách lãng phí hoặc có dấu hiệu gian lận. Nhưng ngay cả khi những tuyên bố của Musk đang được chứng minh sai sự thật, việc tiết kiệm được 65 tỷ MK vẫn chỉ là một con số chiếm chưa đến 1% trong tổng ngân sách 6.75 ngàn tỷ MK mà chính phủ Hoa Kỳ đã chi tiêu trong năm 2024, và là một phần vô cùng nhỏ nhoi nếu so với tổng nợ công 36 ngàn tỷ MK.
Trong bài diễn văn thông điệp liên bang trước Quốc Hội vừa qua, tổng thống Donald Trump tuyên bố nước Mỹ sẽ “will be woke no longer” – khẳng định quan điểm chống lại cái mà ông ta coi là sự thái quá của văn hóa “woke.” Tuyên bố này phản ánh lập trường của phe bảo thủ, những người cho rằng “wokeness” (sự thức tỉnh) là sự lệch lạc khỏi các giá trị truyền thống và nguyên tắc dựa trên năng lực. Tuy nhiên, điều quan trọng là cần hiểu đúng về bối cảnh lịch sử của thuật ngữ “woke” để không có những sai lầm khi gán cho nó ý nghĩa tiêu cực hoặc suy đồi.
Chỉ với 28 từ, một câu duy nhất trong Tu Chính Án 19 (19th Amendment) đã mở ra kỷ nguyên mới cho phụ nữ Hoa Kỳ. Được thông qua vào năm 1920, tu chính án này đã mang lại quyền bầu cử cho phụ nữ sau hơn một thế kỷ đấu tranh không ngừng. Trong Hiến pháp Hoa Kỳ, Điều I của Tu Chính Án 19 quy định: “Chính phủ liên bang và tiểu bang không được phép từ chối hay ngăn cản quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ vì lý do giới tính.” (Nguyên văn là “The right of citizens of the United States to vote shall not be denied or abridged by the United States or by any State on account of sex.”)
Trong bối cảnh chính quyền Trump đẩy mạnh chiến dịch loại bỏ các chương trình Đa dạng, Bình đẳng và Hòa nhập (DEI), vai trò của phụ nữ trong lịch sử không chỉ là một chủ đề cần được khai thác mà còn là một chiến trường tranh đấu cho công lý và sự công nhận. Bất chấp sự ghi nhận hạn chế và thường xuyên bị lu mờ trong các tài liệu lịch sử, phụ nữ đã và đang đóng góp không thể phủ nhận vào dòng chảy của lịch sử thế giới. Các nhà sử học nữ, dẫu số lượng không nhiều và thường bị đánh giá thấp trong giới học thuật truyền thống, đã không ngừng nỗ lực nghiên cứu và đưa ra ánh sáng những câu chuyện về phụ nữ, từ đó mở rộng khung nhìn lịch sử và khẳng định vai trò của mình trong xã hội. Tháng Lịch sử Phụ nữ diễn ra vào tháng Ba hàng năm, đây không chỉ là dịp để tôn vinh những thành tựu của phụ nữ mà còn là lúc để xem xét và đánh giá những thách thức, cũng như cơ hội mà lịch sử đã và đang mở ra cho nửa thế giới này.
Theo báo điện tử vnexpress.net, từ ngày USAID tái hoạt động tại Việt Nam, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam để giải quyết các hậu quả do chiến tranh gây ra, bao gồm việc rà phá bom mìn, xử lý vật liệu nổ, tìm kiếm binh sĩ mất tích và xử lý chất độc da cam/dioxin. Từ năm 2019, USAID đã hợp tác với Bộ Quốc phòng Việt Nam để xử lý khoảng 500.000 mét khối đất nhiễm dioxin tại căn cứ Không quân Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vào tháng Giêng năm 2024, Hoa Kỳ cam kết bổ sung thêm 130 triệu Mỹ kim, nâng tổng kinh phí cho việc làm sạch dioxin lên 430 triệu. Không rõ bây giờ USAID bị đóng băng, số bổ sung cam kết ấy có còn. Ngoài việc giúp giải quyết các hậu quả chiến tranh, USAID đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WHO) và Hiệp định song phương Việt Nam-Hoa Kỳ.
Elizabeth Eckford, một trong chín học sinh da đen tiên phong bước vào trường Trung học Little Rock Central năm 1957, đã trở thành biểu tượng của lòng dũng cảm trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc tại Hoa Kỳ. Kể từ ngày khai trường lịch sử ấy đến nay, cuộc đấu tranh chống kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể, cho đến gần đây, Donald Trump lên nắm quyền và ra lệnh xóa bỏ toàn bộ chính sách Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập (DEI) trên khắp đất nước thúc đẩy sự gia tăng của các hành vi thù ghét trên toàn quốc, câu chuyện của Eckford càng trở nên cấp thiết. Việt Báo đăng lại câu chuyện lịch sử này như lời nhắc nhở quyền bình đẳng không thể bị xem là điều hiển nhiên, và cuộc đấu tranh cho công lý, bình đẳng vào lúc này thực sự cần thiết.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.