Hôm nay,  

Đọc Trong Lo Sợ...

11/07/200300:00:00(Xem: 7051)
Tôi có cảm giác Nguyễn Huy Thiệp đã đứng lại rồi... (Nguyên Ngọc)

Trên báo Văn số mới nhất [Tháng Sáu & Bẩy], mục Sổ Tay, Nguyễn Xuân Hoàng viết về những ngày đầu nơm nớp làm quen văn học giải phóng và văn học miền bắc:
“Chúng tôi đọc trong nỗi lo sợ, thơ Tố Hữu, truyện Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng....”

“Chúng tôi đọc trong nỗi lo sợ...”, “Chúng tôi” đã quá, “lo sợ”, lại càng quá!

Bởi vì ít ra là cá nhân tôi, thành thực mà nói, tò mò đọc thì đúng hơn, chứ không sợ.

Không phải là tôi “can đảm” hơn ông bạn của tôi, mà vì, tôi hiểu rõ, cùng với chiến thắng của những người CS, là một sự thực rõ như ban ngày, là: “Chúng tôi” sẽ chẳng bao giờ có cơ hội cầm cây viết trở lại nữa. Đâu có phải đợi đến lúc những người miền bắc vào tới tận cửa ngõ Sài Gòn, một số người viết miền nam mới nhận ra một trong những vũ khí quan trọng làm nên chiến thắng miền nam là văn chương [phải có thép] và đội ngũ những người vừa cầm súng vừa cầm viết.
Bởi vì, không dễ gì mà làm một người CS, và càng không dễ, làm một nhà văn CS.

Thanh Tâm Tuyền, trong khi nhìn những đoàn quân chính quy miền bắc tiến vào Sài Gòn, đã “vui mừng” thốt lên, “Thế là mình khỏi viết văn rồi”! Khi ông nói câu đó, có thằng em, là tôi, đứng kế bên!
Khi nói câu đó, có thể ông đã quá chán văn chương, nhưng ông biết chắc chắn một điều, chán hay không chán, ông cũng chẳng còn cơ hội cầm cây viết trở lại.

Thực sự không phải ông nói câu đó ngay những ngày đầu, mà vài ngày sau đó. Nhưng tôi tin rằng, ông chỉ diễn lại cái cảm tưởng những ngày vừa mới đổi đời...

Để tôi kể một vài thí dụ, để minh chứng câu viết ở trên:
Không dễ gì, làm một tay Cộng Sản.
Và lại càng không dễ, làm một nhà văn Cộng Sản.

Lần trở lại Hà Nội, tôi gặp lại một ông cậu. Chi tiết về cuộc gặp gỡ, tôi đã kể sơ sơ, trong bài viết “Trở lại nơi một thời vang bóng”. Ngoài ông ra, tôi còn ba ông cậu cùng tuổi, con của bà ngoại, thường gọi là bà Ba, vì ông ngoại tôi có tới ba bà. Không phải cùng một lúc, nhưng số ông “sát thê”, mất bà trước, ông mới kiếm bà sau.
Ông cậu Toàn là con bà Hai. Bà cụ tôi, con bà Cả. Khi tôi còn nhỏ, ông thương tôi lắm, và tôi cứ nghĩ ông với mẹ tôi là chị em ruột. Ba ông em của ông, cùng lớp tuổi với tôi, thành thũ cả bốn cùng học một lớp. Cùng đi thi tiểu học một năm, thằng cháu đậu, ba ông cậu trượt vỏ chuối cả ba. Tôi còn nhớ, bà Ba, khi xem bảng xong, mắng mấy ông con, “Nó ăn mắm ăn muối, ăn rau ăn cỏ, mà thi đỗ, còn ba đứa mày ăn cá ăn thịt, vậy mà trượt cả ba.” Mắng xong, bà còn thưởng cho thằng cháu một cốc nước giải khát! Không hiểu làm sao, tôi nhớ tới tận bây giờ. Có lẽ vì bà chưa bao giờ khen tôi, mà lần này lại khen, trước mặt bao nhiêu người xa lạ!

Ông cậu tôi nhớ lại những ngày tháng đấu tố. Ông đi theo kháng chiến từ những ngày đầu, và sau này, khi về Hà Nội, là đệ tử của Nguyễn Khắc Viện, trông coi tờ Le Courrier du Vietnam.
Ông nói: Cậu biết trước là ông ngoại mày sắp bị bắt, mà không làm sao báo tin về nhà được. May là bà Ba đem được tụi thằng Cầu thằng Tiệp về Hà Nội. Vì là thủ đô, nhà nước cũng như địa phương không dám làm dữ, thành thử thoát.

Trong ba ông cậu cùng học, ông thứ nhất, ông Cầu thương tôi lắm, không thua gì Cậu Toàn, tức ông anh cùng bố khác mẹ. Ông thứ hai, ông Tiệp, học không thua tôi mấy, nhưng không hiểu sao, vẫn trượt kỳ thi tiểu học vừa kể. Có lẽ vì ông... thông minh quá!
Ấy là tôi nói đùa. Nhưng sự thực, ông Tiệp rất thông minh, theo cái kiểu giỏi xoay sở. Cậu Toàn tôi kể, “Nó không nói với cậu, bởi vì nói, cậu đã cản. Lần đó, nó làm đơn xin vào Đảng, khai là con bần cố nông, giấu biệt chuyện ông bố bị bắt vì là địa chủ. Tụi nó truy ra, trước mắt đuổi ra khỏi cơ quan. Lúc đó, nó mới chạy tới cậu.Tới gặp tay thủ trưởng, hóa ra cùng đơn vị ngày trước. Ông ta bảo, nếu cậu nói trước, thì còn gỡ được. Bây giờ chỉ còn có mỗi một cách: Đưa ông em ra “tuyến đầu” một thời gian là ba năm, nếu còn sống, thì cho về lại cơ quan!

[Đề tài phác thảo: Không phải tự nhiên, khi vừa mới giải phóng Trần Bạch Đằng đã lên lớp cái thái độ an phận thủ thường, chỉ muốn làm một anh phó thường dân của nhà văn miền nam. Là một nhà văn CS, ông hiểu rấr rõ, mấy thằng nhà văn miền nam khác hẳn ông, về bản chất: Không làm sao nhét, cái gọi là ý thức giai cấp, nhất là thứ ý thức giai cấp vô sản, vào đầu một nhà văn ngụy.

Mô phỏng câu: Không dễ làm một người CS, càng không dễ làm nhà văn CS:


Không dễ, cái việc cải tạo một tên ngụy, lại càng không dễ cái việc cải tạo [đúng ra là tẩy não] một nhà văn ngụy. Đó cũng là lý do Thanh Tâm Tuyền "mừng rỡ" không còn "được" viết văn nữa.
[Và giải thích lý do, án học tập cải tạo là không có thời hạn, là mút mùa lệ thủy....]

Thành thử cái gọi là cơ sở văn hóa mà Nguyên Ngọc nói tới đó, cần phải bàn rộng thêm ra].

[Đề tài phác thảo: Tôi nghĩ, cái mà miền bắc thiếu nhất, chính là cái mà họ tưởng rằng chủ nghĩa CS sẽ đem lại cho họ, trong khi chính cái đó, ở trong họ, nhưng họ lại không thấy.
Đây là điều mà Marx chỉ trích tôn giáo [thuốc phiện của quần chúng], và cũng là điều Dos chỉ trích con người: không phải mày phải vươn cao bằng Thượng Đế nhưng phải kéo thằng chả xuống cho bằng mày!]

[NHT khựng lại, vì cái gọi là ý thức tự vấn của ông ta bị khựng lại, không làm sao hòa giải được, với cái mà NN gọi là cơ sở văn hóa, nhưng tôi gọi là Thiên Tài Của Nơi Chốn, hay Thần Đất: Nói rõ hơn: ông không hòa giải được với miền nam, hoặc miền nam khác hẳn ông. Tôi đã viết điều này trong bài Mỗi tường hợp mỗi khác, nhưng chưa rõ, cần phải viết rộng ra.]


Đây cũng là điều mà Đặng Tiến nhìn ra, ở Trịnh Công Sơn, khi ông cho rằng họ Trịnh là sản phẩm của miền nam. Miền Nam chứ không phải của Việt Nam Cộng Hòa, như Đặng Tiến viết. Muốn chứng minh, cứ tưởng tượng Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ miền bắc, là thấy ngay cái sự bất khả của nó! Võ Phiến, bằng trực giác của một nhà văn, có thể đã nhìn ra điều này, khi ông tưởng tượng cái 'hoạt cảnh' "cười bò ra được, cười hô hố..." về những nhà văn miền nam được thả ra miền bắc như những 'biệt kích văn hoá', tương tự như những nhà văn miền bắc, thoắt ở trong nam làm nhà văn giải phóng, với một bút hiệu mới toanh, thoắt lại trở lại miền bắc với tên thật hoặc bút hiệu đã từng được biết tới.... [Xin xem Văn Học Tổng Quan của tác giả].

[Liệu có thể giải thích hiện tượng NHT bằng những nhận định của Walter Benjamin, trong Những Luận Đề:
Bằng một biện chứng tinh tế về ký ức và về điều đã nhìn thấy [le "déjà vu"], Benjamin tìm thấy trong đứa trẻ, là mình ngày nào, không phải một quá khứ xong xuôi, một thời đã mất (un "temps perdu"), nhưng mà là một hứa hẹn mà cuộc đời không giữ được, một tương lai chưa được thực hiện. Đứa trẻ nghĩ rằng, nó thoáng nhìn thấy những sự vật mà nó nhặt nhạnh, ở trong những từ mà nó đã làm biến dạng, trong những hành động mà nó khám phá ra, là một thai đố, một bí ẩn mà người lớn đã bỏ đó vì không tìm ra lời giải, một hy vọng về hạnh phúc mà người lớn hài lòng bằng cách quên đi. Quá khứ với Benjamin là tương lai yểu tử. Và trong Những Luận Đề về triết học của lịch sử, Benjamin đã đưa ra một công thức có thể coi như là nhiệm vụ của cái mà ông gọi là "duy vật lịch sử": Nó [duy vật lịch sử] phải tìm thấy cái quá khứ chẳng hề hết thống khổ, những ước vọng đã bị quên di, những hy vọng về hạnh phúc bị thất vọng của những kẻ thua thiệt, bị đánh bại, của lịch sử..."].
[Cái mà NHT diễn tả, chính là cái tương lai_yểu tử của một miền đất, mà để cho nó sống lại được, nó phải tìm lại được, cứ gọi đại bằng cái tên, "duy vật lịch sử", của những ngư\ời CS Đệ Tứ của một miền nam, thí dụ như của những Hồ Hũu Tường, hoặc cái đau khổ nhục nhã của một miền đất bị thất trận....]

[Par une dialectique subtile de la mémoire et du « déjà-vu » Benjamin retrouve dans I 'enfant qu' il a été, non pas un passé révolu qui serait un « temps perdu », mais une promesse que la vie n 'a pas tenue, un avenir qui n 'a pas été réalisé. L' enfant croyait entrevoir dans les choses qu'il collectionnait, dans les mots qu'il déformait, dans les activités qu'il découvrait, une énigme que I'adulte a laissée sans solution, un espoir de bonheur que l'adulte s'est contente d'oublier. Le passé pour Benjamin est un avenir mort_né. Or, dans les Thèses sur la philosophie de l'histoire, Benjamin formule dans des termes semblables la tache de ce qu'il appelle le "matérialisme historique » : celui-ci doit retrouver le passé qui reste en souffrance, les aspirations oubliées, les espoirs de bonheur décus des vaincus de I'histoire. L'histoire, pour Benjamin, est une seule et unique catastrophe qui ne cesse d'amonceler des ruines : ces ruines, ce sont les éternels vaincus, les humiliés et les offenses de la faim et de la misère, les espérances brisées, les promesses oubliées...].
Jean LACOSTE,
[Dịch và giới thiệu Đường Một Chiều, tác phẩm Walter Benjamin, qua tiếng Pháp, nhà xb Les Lettres Nouvelles / Maurice Nadeau, tủ sách 10/18]
(còn tiếp)
NQT

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ, Thủ tướng Canada Mark Carney đã đọc một bài diễn văn hiếm hoi khiến cả hội trường – gồm các nhà lãnh đạo chính trị và giới kinh tài quốc tế – đồng loạt đứng dậy vỗ tay tán thưởng. Trong bài ph Câu trả lời của ông khởi đi từ hình ảnh một người bán rau. Mỗi sáng, ông chủ tiệm treo lên cửa kính tấm bảng “Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại”. Ông ta không tin câu đó – chẳng ai tin – nhưng vẫn treo lên để tránh phiền, để tỏ dấu quy thuận, để sống yên ổn. Và bởi vì mọi người bán hàng trên mọi con đường đều làm như thế, nên chế độ vẫn tồn tại – không chỉ nhờ bạo lực, mà còn nhờ sự tham gia của những người bình thường vào những nghi thức mà trong thâm tâm họ biết là giả. Havel gọi đó là “sống trong dối trá”. Sức mạnh của hệ thống không đến từ sự thật, mà từ sự sẵn lòng của mọi người đóng vai như thể nó là thật; và chỗ yếu của nó cũng từ đó mà ra: khi chỉ một người thôi không diễn nữa – khi người bán rau gỡ tấm bảng xuống – bức m
Đây là một cảnh báo nghiêm túc và rất đáng suy ngẫm về tính chính xác khoa học và trung lập địa lý trong các sản phẩm bản đồ - dữ liệu của Mekong River Commission. Việc Sông Hậu (Bassac) - một nhánh phân lưu mang gần 50% lưu lượng, đóng vai trò then chốt về phù sa, đa dạng sinh học và chống xâm nhập mặn - bị làm mờ hoặc “biến mất” trên nhiều bản đồ gần đây không còn là lỗi kỹ thuật thuần túy, mà đã chạm đến chuẩn mực khoa học và trách nhiệm thể chế.
Chưa bao giờ tôi nghĩ mình lại xúc động với thể loại phim tài liệu, cho đến khi xem bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman (Mỹ), đã làm cho tôi thay đổi suy nghĩ của mình. Tôi thật sự đã rất xúc động, thậm chí, cho đến khi được mời phát biểu về bộ phim ngay sau đó, tôi vẫn còn nghẹn giọng. Vì chỉ mới vài chục giây đầu của phim, những ký ức của tôi về xã hội Việt Nam tưởng chừng đã ngủ yên từ hơn 2 năm qua, sau khi tôi đào thoát khỏi Việt Nam, thì chúng đã sống dậy hầu như trọn vẹn trong tâm trí của tôi. Chúng rõ mồn một. Chúng mới nguyên. Khiến cho tôi cảm giác như mọi chuyện vẫn như mới ngày hôm qua mà thôi.
Theo tường thuật cập nhật của US politics live sáng 14 tháng 1 năm 2026, Hoa Kỳ đã bắt đầu cho di tản một phần nhân sự khỏi một căn cứ không quân lớn tại Trung Đông, làm dấy lên nhận định rằng Washington có thể sắp tiến hành một cuộc không kích nhắm vào Iran trong vòng 24 giờ tới. Căn cứ này đặt tại Qatar, từng bị Iran tấn công hồi năm ngoái sau khi quân đội Hoa Kỳ oanh kích các cơ sở liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Việc di tản nhân sự tại các căn cứ tiền phương thường chỉ diễn ra khi khả năng xung đột đã bước sang giai đoạn cận kề.
Khi nhiều nơi trên thế giới sửa soạn đón năm mới vào đầu tháng Giêng, thì ở không ít quốc gia và nền văn hóa khác, năm mới lại đến vào những thời điểm hoàn toàn khác. Dù là lịch Gregory, lịch âm, lịch dương–âm hay các hệ lịch cổ gắn với tôn giáo và thiên nhiên, việc đánh dấu một năm mới vẫn là tập tục lâu đời. Ăn uống, lễ nghi, sum họp gia đình và suy ngẫm về năm cũ là những điểm chung; khác biệt nằm ở nhịp thời gian và ý nghĩa tinh thần mà mỗi nền văn hóa gửi gắm vào khoảnh khắc ấy.
Năm 2025 là một năm sôi động của khoa học, khi những bước tiến lớn đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực, từ y học, thiên văn, khảo cổ đến công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo. Những phát hiện và sự kiện này không chỉ mở rộng hiểu biết của con người về thế giới, mà còn đặt ra nhiều câu hỏi mới, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong tương lai.
Ở Hoa Kỳ, khoa học xưa nay hiếm khi giành hàng tít lớn trên báo, cho dù ngân sách nghiên cứu suốt nhiều thập niên vẫn vững vàng qua mọi triều tổng thống như một thứ “quốc ước bất thành văn” về tri thức thuần túy. Năm 2025, khúc quân hành êm ả đó bỗng khựng lại: chính quyền Donald Trump, trở lại Nhà Trắng với nghị trình cải tổ khoa học và kỹ nghệ theo hướng ý thức hệ, đã kéo chính sách khoa học từ trang trong ra thẳng trang nhất.
Thuế quan — thứ từng vắng bóng trên mặt báo suốt nhiều thập niên — nay trở lại trung tâm chính sách kinh tế Hoa Kỳ, trong lúc Tối Cao Pháp Viện đang xét tính hợp hiến của các mức thuế toàn cầu do Tổng thống Donald Trump ban hành. Bài viết dưới đây, theo phân tích của Kent Jones, giáo sư kinh tế danh dự Đại học Babson, đăng trên The Conversation ngày 11 tháng 12 năm 2025, nhằm giải thích cặn kẽ thuế quan là gì, ai thực sự gánh chịu, và vì sao vấn đề này đang tác động trực tiếp đến túi tiền và tương lai kinh tế nước Mỹ. Thuế quan, nói gọn, là thuế đánh lên hàng hóa nhập cảng. Khi một công ty Hoa Kỳ nhập hàng từ nước ngoài, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ sẽ gửi hóa đơn thuế; doanh nghiệp phải nộp đủ thì hàng mới được thông quan. Trên giấy tờ, người trả thuế là nhà nhập cảng. Nhưng trên thực tế, phần lớn chi phí ấy được chuyển thẳng sang người tiêu dùng qua giá bán cao hơn — từ thực phẩm, xe cộ cho đến quà tặng cuối năm.
Vào những ngày cuối tháng Tám của năm 2025, tôi cùng hai đồng nghiệp đã quyết định từ bỏ chức vụ tại Cơ Quan Kiểm Soát và Phòng Bệnh (CDC). Chúng tôi ra đi vì không thể tiếp tục im lặng khi chứng kiến tính liêm chính khoa học ngày một xói mòn, còn cơ sở hạ tầng y tế công cộng của quốc gia cứ dần rệu rã dưới sự lãnh đạo của Robert F. Kennedy Jr., Bộ trưởng Bộ Y tế và Nhân sinh (HHS). Khi đó, chúng tôi đã khẩn thiết kêu gọi Quốc Hội, các tổ chức chuyên ngành và các bên liên quan trong lĩnh vực y tế công cộng hãy can thiệp trước khi xảy ra những thiệt hại không thể cứu vãn. Tôi rời đi với niềm tin mọi thứ rồi sẽ được chấn chỉnh.
Khi nhìn bản đồ thế giới và duyệt xét lịch sử hình thành, chúng ta nhận thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa Canada và Úc Đại Lợi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.