Thơ: Ừ Thôi Về Thôi

09/05/200500:00:00(Xem: 7520)
Chạy tới chạy lui, chạy xin gõ cửa,
năn nỉ anh sứ, níu áo chị sứ,
cho tôi về với, tôi về tung hô,
tôi nói thiệt mà, cho về cho về,

ừ thôi tôi về, bạn bè đợi chờ
bao năm bao năm, giấy tờ khó thế,
tôi cũng Việt Kiều, tôi cũng thương nước,
ừ thôi về thôi, có thầy tôi mong,

có bạn tôi ngồi, có em tôi chờ,
có cháu tôi đợi, chờ đợi bao năm,
bao năm bao năm. Ừ thôi về thôi,
cho tôi về với, theo đúng chính sách,

tôi ôm tiền về, rải khắp quê nhà,
cho dân bớt đói, cho người bớt đau,
cho mưa bớt lạnh, cho lòng biết thương,
cho lời năn nỉ, dễ bớt đi mà,

dân khổ nhiều rồi, Việt Kiều hòa giải,
xin quan bớt tham, nói theo chính sách,
đổi mới đổi mới, tôi đổi mới thiệt,
năn nỉ xin về, tôi ôm tiền về,

tiền về tiền về. Ừ thôi về thôi,
tôi về giữa chợ, Bến Thành Bà Chiểu,
Đồng Xuân Thanh Trì, tôi ngồi giữa phố,
Tự Do Công Lý, Phố Cổ Hà Nội,

Phố Cổ Hội An, tôi ôm tiền về,
tôi về tôi thuê, phướng lọng đám cưới,
tôi trả tiền thuê, dàn kèn đám ma,
tôi làm đám rước, đi khắp cả nước,

mời gọi toàn dân, đổi mới đổi mới,
đổi mới thiệt mà, thuê khắp dân nghèo,
tiền tôi rải ra, giúp em đánh giày,
cứu em bán dâm, loa kèn kêu gọi,

từ bi từ bi, tôi rải hoa trời,
tặng khắp mười phương, trong tù ngoài ngục,
lòng từ vô lượng, vô lượng vô lượng.
Tôi mời đồng bào, cả nước ra ngồi,

giữa phố đầu phố, không cần tụng kinh,
không cần gõ mõ, không cần tung hô,
không cần kèn trống, không cần phướng lọng,
thôi ngồi xuống thôi, lắng nghe lắng nghe,

đừng nói đừng nói, này thân tôi ngồi,
này mắt tôi nhìn, này tai tôi nghe,
này lòng tôi mở, này là không thật,
này là biến hiện, này không thật tôi,

này không thật chị, này không thật em,
này là thân ngồi, nhưng không là tôi,
nhưng không của tôi. Tiền tôi ôm về,
tôi rải làm mưa, này tôi im lặng,

không nói một lời, tôi không dám phiền,
không dám làm phiền, này tôi áo rách,
này tôi dép sứt, này tôi ấp úng, n
ày tôi theo Phật, lặng lẽ lặng lẽ,

tới không ai biết, đi không ai hay,
học hạnh hải đảo, vào ngồi xưởng gốm,
xin trọ qua đêm, thuyết tới gần sáng,
xin đừng trổi nhạc, xin đừng tung hô,

để cùng lắng nghe, dòng đêm đang chảy,
dòng đời đang trôi, vô thường vô thường,
chỉ một dòng sông, không hề có tôi,
không có của tôi, tôi học lặng lẽ,

im vắng im vắng, chỉ có cái thấy,
chỉ có cái nghe, không có tôi thấy,
không có tôi nghe, chỉ có lắng nghe,
không có tôi nghe, chỉ có lắng nghe,

không có ai nghe… Không nói không tôi,
không tôi không nói, không tôi hề nói,
không nói tôi hề, tôi hề không nói,
không lời không lời, đất trời vắng lặng,

vắng lặng đất trời, tôi cùng đồng bào,
ngồi đứng ngổn ngang, giữa phố đầu phố,
không lọng đám cưới, không kèn đám ma,
mời gọi lắng nghe, cả nước ra phố,

ngồi nghe đứng nghe, nghe tim mẹ thở,
nghe vọng em khóc, nghe khổ cúm gà,
nghe cửa tù mở, nghe tóc trắng dậy,
nghe nước mắt lăn, nghe đất trời lặng,

niềm thương vô lượng, vô lượng vô lượng…

PHAN TẤN HẢI
02/23/2005
(http://thotanhinhthuc.com/ )

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bên trong gương mùa đông đang chờ đợi… Trong biên vực ảo ảnh của chờ đợi thì anh có thể, dựa vào lưng gương lạnh giá/ hát nghêu ngao một cách vô tư… cho đến khi tiếng rung cuối cùng của tấm gương trong suốt ấy mở ra thiên địa mới… Có vẻ như trong bụng chờ đợi của mùa đông đang sửa soạn để khai sinh. Mời người lắng vào thơ của các tác giả Han Kang- Nguyễn Man Nhiên, Nguyễn Lương Vỵ, Trương Đình Phượng, Nguyễn Đạt, Bei Dao (Bắc Đảo)-Cù An Hưng, Đỗ Hồng Ngọc, Trần Ngọc Diệp, Trịnh Thanh Thủy, Nguyễn Thị Khánh Minh, Vũ Hoàng Thư, Vân Thuyết, Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Y Thư, Khế Iêm, Nguyễn Xuân Thiệp, để nghe nỗi trở dạ rộn ràng cùng u buồn của mùa Đông.
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.
Nguyên Yên, một trong những nhà thơ đương đại nổi tiếng ở hải ngoại. Cô chưa in một tập thơ nào, chỉ xuất hiện trên một số trang web như Việt Báo, Văn Việt, Hợp Lưu, Blog Trần thị Nguyệt Mai, Phố Văn… Ngoài những bài viết về thời sự, bình luận ký tên thật Nina Hòa Bình Lê với cái nhìn sắc bén và nhân ái, người đọc còn được biết đến Thơ của cô, với bút danh Nguyên Yên. Một tiếng thơ gây ngạc nhiên bởi ý tưởng, hình ảnh độc đáo, giản dị, mạnh mẽ, trữ tình. Tôi thực sự bị dòng thơ này lôi cuốn.
Theo đại thi hào R.Tagore "Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong". Theo tác giả cổ đại Ovid (khoảng năm 43 trước Công Nguyên) thì: “Có ít nhiều sự thoải mái trong cơn khóc”. Thi sĩ Colley khẳng định: “Lời nói để khóc và nước mắt để nói” Thi sĩ người Pháp Alfred de Musset có câu thơ: “Cái duy nhất còn lại cho tôi ở trên đời/ Chính là những lúc đã đôi lần nhỏ lệ”. Thi sĩ người Anh Robert Herrick: “Giọt lệ chính là ngôn ngữ cao quý của đôi mắt” .Nhà thơ trẻ Nepal, Santosh Kalwar tâm sự: Tôi đã mỉm cười ngày hôm qua. Tôi đang mỉm cười ngày hôm nay và khi ngày mai đến, tôi sẽ mỉm cười. Vì đơn giản, cuộc sống quá ngắn để ta khóc về mọi thứ – Và ai đó đã cho rằng: Không có gì đẹp hơn một nụ cười đã trải qua những giọt nước mắt.
Trong tập Bốn Mùa Trời và Đất, Márai Sándor cảm giác về mùa hè, …Tôi đứng trên ban công, giữa một vùng xanh, nghe tiếng rì rào thức dậy của cây cỏ. Mùa hè đây rồi, tôi nghĩ; và nó giống như một cảm xúc tràn ngập trong tôi, không khoan nhượng, và đầy những kỷ niệm giản dị… (Giáp Văn Chung dịch) Trong tản văn Hoa Nở Vì Ai, Vũ Hoàng Thư viết, …Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm… Và mùa hè trong truyện của Đặng Thơ Thơ, … Đó là lúc chín nhất của mùa hè. Những trái táo bắt đầu căng mật. Từ trong lá cây thoảng ra những ngọn gió màu xanh thẫm...Ở Cảnh Nhàn của Bạch Vân Cư Sĩ có thú sống, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…, có lẽ thời của người, nước còn trong ao còn sạch.
Bạn đang nghe thấy gì trong khí hậu tháng Tư? / Tiếng kêu từ đáy huyệt cuối trời. / Tiếng gió xoáy những cột cờ tử thương tuẫn tiết. / Tiếng phố vỡ triệu mảnh thủy tinh cắt lồng ngực tháng tư rỉ máu mãi chưa khô. / Tiếng sóng hôi dao mùi hải tặc từ oan nghiệt một thời biển huyết. / Tiếng oan hồn dật dờ tìm về cố quận, đáy vực kia bầy cá hoang tảo mộ. / Tiếng hậu chấn từ tâm hồn con dân tháng Tư choàng lên thảng thốt. Dấu chàm xanh lưu xứ để nhận ra nhau. / Tiếng con bướm gáy trong giấc ngủ đôi bờ chiến tuyến. / Tiếng vô vọng của dòng thơ đớn đau, sỉ nhục trải dài trên đất đai tổ quốc. /Tiếng mong mỏi trên những dòng thơ đang vuốt mắt lịch sử, xin hãy chết yên, chết quên, và mở lòng ra ôm những vết thương, trồng lại bóng Quê Nhà…
“Chìm trong biển chết trôi tim người / Còn gì đâu tiếc thương xa xôi …” Chiếc tàu nhỏ rời bến Constantine, Algeria, chở Enrico Macias đến một nơi xa lạ, người lưu vong không bao giờ được phép trở về. Làm sao cánh chim di có thể quên lối cũ? Chiến tranh xua đuổi ông ra khỏi quê nhà. Tàu khởi hành không một người đưa tiễn. “Người tình ơi, ta xa nhau. Mượn đôi mắt em lên đường.” Với cây guitar làm hành trang, ông ghi lại, “J'ai quitté mon pays …”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.