Thơ: Ừ Thôi Về Thôi

09/05/200500:00:00(Xem: 7526)
Chạy tới chạy lui, chạy xin gõ cửa,
năn nỉ anh sứ, níu áo chị sứ,
cho tôi về với, tôi về tung hô,
tôi nói thiệt mà, cho về cho về,

ừ thôi tôi về, bạn bè đợi chờ
bao năm bao năm, giấy tờ khó thế,
tôi cũng Việt Kiều, tôi cũng thương nước,
ừ thôi về thôi, có thầy tôi mong,

có bạn tôi ngồi, có em tôi chờ,
có cháu tôi đợi, chờ đợi bao năm,
bao năm bao năm. Ừ thôi về thôi,
cho tôi về với, theo đúng chính sách,

tôi ôm tiền về, rải khắp quê nhà,
cho dân bớt đói, cho người bớt đau,
cho mưa bớt lạnh, cho lòng biết thương,
cho lời năn nỉ, dễ bớt đi mà,

dân khổ nhiều rồi, Việt Kiều hòa giải,
xin quan bớt tham, nói theo chính sách,
đổi mới đổi mới, tôi đổi mới thiệt,
năn nỉ xin về, tôi ôm tiền về,

tiền về tiền về. Ừ thôi về thôi,
tôi về giữa chợ, Bến Thành Bà Chiểu,
Đồng Xuân Thanh Trì, tôi ngồi giữa phố,
Tự Do Công Lý, Phố Cổ Hà Nội,

Phố Cổ Hội An, tôi ôm tiền về,
tôi về tôi thuê, phướng lọng đám cưới,
tôi trả tiền thuê, dàn kèn đám ma,
tôi làm đám rước, đi khắp cả nước,

mời gọi toàn dân, đổi mới đổi mới,
đổi mới thiệt mà, thuê khắp dân nghèo,
tiền tôi rải ra, giúp em đánh giày,
cứu em bán dâm, loa kèn kêu gọi,

từ bi từ bi, tôi rải hoa trời,
tặng khắp mười phương, trong tù ngoài ngục,
lòng từ vô lượng, vô lượng vô lượng.
Tôi mời đồng bào, cả nước ra ngồi,

giữa phố đầu phố, không cần tụng kinh,
không cần gõ mõ, không cần tung hô,
không cần kèn trống, không cần phướng lọng,
thôi ngồi xuống thôi, lắng nghe lắng nghe,

đừng nói đừng nói, này thân tôi ngồi,
này mắt tôi nhìn, này tai tôi nghe,
này lòng tôi mở, này là không thật,
này là biến hiện, này không thật tôi,

này không thật chị, này không thật em,
này là thân ngồi, nhưng không là tôi,
nhưng không của tôi. Tiền tôi ôm về,
tôi rải làm mưa, này tôi im lặng,

không nói một lời, tôi không dám phiền,
không dám làm phiền, này tôi áo rách,
này tôi dép sứt, này tôi ấp úng, n
ày tôi theo Phật, lặng lẽ lặng lẽ,

tới không ai biết, đi không ai hay,
học hạnh hải đảo, vào ngồi xưởng gốm,
xin trọ qua đêm, thuyết tới gần sáng,
xin đừng trổi nhạc, xin đừng tung hô,

để cùng lắng nghe, dòng đêm đang chảy,
dòng đời đang trôi, vô thường vô thường,
chỉ một dòng sông, không hề có tôi,
không có của tôi, tôi học lặng lẽ,

im vắng im vắng, chỉ có cái thấy,
chỉ có cái nghe, không có tôi thấy,
không có tôi nghe, chỉ có lắng nghe,
không có tôi nghe, chỉ có lắng nghe,

không có ai nghe… Không nói không tôi,
không tôi không nói, không tôi hề nói,
không nói tôi hề, tôi hề không nói,
không lời không lời, đất trời vắng lặng,

vắng lặng đất trời, tôi cùng đồng bào,
ngồi đứng ngổn ngang, giữa phố đầu phố,
không lọng đám cưới, không kèn đám ma,
mời gọi lắng nghe, cả nước ra phố,

ngồi nghe đứng nghe, nghe tim mẹ thở,
nghe vọng em khóc, nghe khổ cúm gà,
nghe cửa tù mở, nghe tóc trắng dậy,
nghe nước mắt lăn, nghe đất trời lặng,

niềm thương vô lượng, vô lượng vô lượng…

PHAN TẤN HẢI
02/23/2005
(http://thotanhinhthuc.com/ )

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hãy tạm để những chuyện buồn nằm im dưới mâm cỗ ngày Tết, để ta chỉ được thấy màu xanh lá bánh chưng, màu đỏ ối ruột dưa hấu, màu vàng đỏ tung xòe trong những bao lì xì nhỏ, màu nắng chín nhấp nháy trên những trái quất… bây nhiêu đó có đủ để bạn đón hơi thở mới của đất trời? Hy vọng vậy để chúng ta được mọc lên như cỏ non trên khung rêu ngày tháng cũ. Bài thơ của Nguyễn Hồng Kiên tôi đọc được từ trang của trường Mầm Non Cự Khối, bài thơ được dạy cho các em lứa 4 tuổi, như một lời chúc tết hồn nhiên.
Cho nhân dân tôi, thức dậy trong bóng tối, những người hát bài ca im lặng, những người than thở trong im lặng, những người nổi giận trong im lặng, những người yêu nhau trong im lặng, lời cầu Nguyện cho nhân dân tôi, những người đi trên đường, chạy tất bật từ sáng đến tối, cho bữa ăn của người nghèo đói, hít thở khói và bụi, những người già trước tuổi, những người không bao giờ biết hát, những người không bao giờ biết cười, những người không bao giờ biết nói dối
Houston mùa hè nóng có thể nướng thịt trên mui xe hơi./ Họa sĩ bò dưới đất vẽ chân dung kiếm tiền đổi rượu./Nàng mẫu ngồi khép hở y phục lả lơi./ Đường nét sắc màu bỗng dưng tơi bời khung bố, trời đất sẽ vô cùng phẫn nộ, nếu đàn ông không thích đàn bà, nếu bàn tay cứ chăm chú vẽ./ Tao không kể hết chuyện để người đọc tự đoán. Xe cứu thương chuẩn bị hụ còi. Bác sĩ xuất hiện. Mày ôm bức tranh nằm thoi thóp . /Tao thấy hết từ đầu qua khe cửa phía sau.
Những bài thơ xuất sắc của Giáng Vân nằm ở biên giới giữa điều có thể nói và điều không thể nói ra. Thơ chị có nhiều đề tài, tình yêu, suy tư lịch sử, những xúc động mới về thế giới hiện nay. Đó là một loại thơ sâu kín, cắm rễ trong vùng tối đen của tiềm thức, nhưng hướng về phía ánh sáng. Giáng Vân không ngần ngại nói về sự bế tắc, sự cùng đường của xã hội, cái chết và sự diệt vong của con người. Trong tập thơ gồm 36 bài, những mảng tối được thấy rõ, sự buồn rầu, lo lắng, cảm giác phẫn nộ, nhưng chị nói nhiều hơn đến sự vượt qua. Chị tin vào tâm hồn. Thơ chị có hai nguồn mạch: những câu chuyện riêng tư và những nỗi lo âu của thời đại mình. Chị có những bài thơ đi tới chỗ tận cùng, nơi giao điểm của hai niềm cảm hứng, đó là một kiểu thơ trữ tình thời sự hiếm gặp hôm nay.
Nhà thơ Vũ Trọng Quang bảo mũi tên ấy bay hoài bay không tới. Làm sao bay kịp thời gian. Hoặc giả như vầy. Nơi tôi ngồi cố định, và. thời gian đi qua đi qua. Khi lời thơ vừa thốt lên là lúc tôi rơi mất thời gian. Không gian nào giữ những lời đi. Ở những bài thơ sau đây bạn có thể thấy được nơi thời gian và không gian gặp nhau trong nhịp lẫy tình cờ. đã ra đi là muôn đời ở lại…Bây giờ là bao giờ??? Bao giờ là bây giờ!!!, chiếc kim đồng hồ lẩn thẩn/ như con kiến già bò trên miệng chén… …Bạn cùng tôi như ai kia thập tự vác mình qua đông gió, cứu chuộc nỗi tàn phai của Màu thân thể ngó chừng cũng cũ cùng sự lãng quên muôn đời, để có thể trong thế giới siêu hình yên tĩnh của ta được an ủi Mưa trầm trầm dương thế/ Ngấm sâu miền âm gian… , dù mưa không dội sạch được những linh hồn run rẩy, và dẫu Đó là cánh cửa bí mật/ từng khép cửa linh hồn…
Nhịp lá rơi đang xô chèo dòng thu cập bến. Những con thuyền năm tháng sẽ tiếp tục dong buồm. Nơi chốn nào gọi là đáy đĩa mùa đi ơi Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh? Có phải là nơi Bình tàn thu vai phấn nghiêng rơi của thi nhân 80 năm trước? Hay trong cơn khát của mùa thu của Trang Thanh? Hay nơi dấu chân em lối vàng xưa của Lê Hoàng Anh? Hay nơi mùa trăng hóa quỳ vàng của Lê Vĩnh Tài? Hay nơi mặt đất dâng lên nuốt ánh mặt trời của Duyên? Hay nơi tiếng chạm của những viên đá tím của Nguyễn Thị Khánh Minh? Hay nơi rực rỡ hoàng hôn rực rỡ Đêm tháng 11 cuối cùng của Lê Chiều Giang?
Bài thơ này đăng trên Việt Báo vào ngày 10 tháng 8 2024. Người dịch nói rằng “…Bài này hợp với tinh thần Phật Giáo…” Tác giả Henry Wadsworth Longfellow là một nhà thơ nổi tiếng vào bậc nhất ở Mỹ trong thế kỷ 19. Trong tiểu sử không thấy nhắc ông có nghiên cứu về Phật Giáo. Có thể giải thích rằng những gì thuộc về chân lý, sự thật thì sẽ mãi mãi tồn tại, bất kể Đức Phật có thuyết giảng hay không.
Em nhan sắc đồi câm / Tôi ù lì bến chải / Máu những giọt rất thầm / Tới khấc tình bãi nại / Cứu rỗi một nhành cây / Buồn lên thập tự giá / Hồn ma xưa hiện ngày / Xuống vũng đêm đày đọa
hương môi thơm tuyệt cú mèo/ ngất ngây hồn vía bay theo mây trời/ bồng bềnh nào phải chơi vơi/ quen từ chướng nghiệp gẫm cười ngất ngư / cài khuy áo ngực hình như / với em tùng tiệm thặng dư ngôn tình / ô hay, nữ tính lặng thinh/ kiêu sa đi chứ để hình dung ta!
Tôi đã xưa. cơn gió ngàn lau lách. dưới mỗi gốc cây, xương máu con người đổ xuống. tình yêu và hận thù đều xanh màu lá. / Dưới bàn chân tôi, đá sỏi mỏi mòn. Đôi khi tôi muốn nằm xuống dưới chân em. đôi khi tôi muốn chết. / Sự bất động của thân tâm là chân như của hạnh phúc. nhưng sự im lặng của em là âm ti địa ngục. /Dưới bầu trời này, màu xanh lừa đảo.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.