Hôm nay,  

Chiêu Quân

21/02/200700:00:00(Xem: 7073)

Không thấy một gạch nối nào giữa hình ảnh người đẹp Chiêu Quân của Hán-quốc phải gạt lệ sang Hồ, với thời điểm giao mùa năm mới tiễn năm cũ. Vậy mà tôi cứ bâng khuâng, phảng phất đâu đây tiếng nức nở của giai nhân:

“Tuyết lạnh che mờ trời Hán-quốc

Tỳ-bà lanh lảnh buốt cung thương

Tang tình năm ngón, sầu dâng lệ

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ sang” (*)

Có lẽ không gì ảo não cho bằng khi phải xa rời quê hương bất đắc dĩ. Huống chi, một vương phi được quân vương sùng ái mà chỉ vì quá đẹp nên đã phải biến thành quà tặng cho kẻ thắng trận. Có ai phải xa quê, trên đường biên giới, nhìn về đất mẹ mới cảm thông phần nào nỗi lòng Chiêu Quân:

“Đây Nhạn-Môn-Quan đường ải vắng

Trường Thành xa lắm, Hán Vương ơi!

Chiêu Quân che khép mền chiên bạch

Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi 

Ngó lại xanh xanh triều Hán-Đế

Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung

Quân Vương chắc cũng say và khóc

Ái Khanh! Ái Khanh! Lời nghẹn ngùng” (*)

Lòng người đi sầu muộn như thế. Còn kẻ ở thì sao" Chia lìa nào mà không đứt đoạn:

“Hồ xang, hồ xang, xừ hồ xang

Chiêu Quân nàng ơi, lệ dâng hàng

Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang” (*)

Người yêu thơ biết đến Quang Dũng ở những bài bất tử như Đôi mắt Người Sơn Tây, Đôi Bờ, Tây Tiến … nhưng bài Chiêu Quân, tương đối ít người thuộc hơn. Tôi cũng ở trong số này. Nhưng đêm nay, trong chuyển tiếp lặng thầm của trời đất, lòng tôi bỗng quặn lên hình ảnh một người phải gạt lệ xa quê. Biết bao người đã tức tưởi xa quê, sao phút giây này tôi lại chỉ mơ hồ thấy bóng dáng Chiêu Quân, một nhân vật, đối với tôi vẫn chỉ là huyền thoại"

Người thi sỹ như con tằm, khi nhả tơ là nhả chính nỗi lòng mình. Quang Dũng gửi gấm gì qua tiếng khóc Chiêu Quân, tôi không rõ, nhưng tiếng khóc đó đang chiêu cảm lòng người xa quê giữa giờ phút giao mùa, là tôi.

Quê nội tôi, làng Phương Viên, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông mà tôi tình cờ biết đó cũng chính là nơi Quang Dũng chào đời. Thi sỹ sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, nghĩa là cùng huyện, chỉ khác làng thôi, mà làng quê Việt Nam thì nhỏ bé, nhiều khi chỉ cách nhau một lạch sông, một bờ đê hay dăm bụi tre ngăn con đường đất đỏ. Phương Viên và Phượng Trì là hai, trong số tám làng nhỏ mà địa danh được gọi chung là Tổng Phùng.

Khi khám phá ra điều này tôi mới thấp thoáng nhớ về những ngày thơ ấu. Mỗi mùa hè nghỉ học, được về quê chơi, tôi thường đong đưa nằm trên chiếc võng mắc ở nhà ngang, nhìn qua khung cửa thấy rặng núi xanh rì. Ngờ đâu, đó chính là rặng núi Ba Vì đã gợi niềm xúc cảm để Quang Dũng viết nên bài thơ nổi tiếng Đôi Mắt Người Sơn Tây, mở đầu với những câu:

“Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì” (+)

Bài thơ này được cố nhạc sỹ tài danh Phạm Đình Chương phổ nhạc và tự hát. Thơ và nhạc đã cất cánh bay suốt ba miền đất nước từ nhiều thập niên qua. Dù người biết nhạc hay không, khi thưởng lãm Phạm Đình Chương chậm rãi nâng ly rượu sóng sánh, nhấp một ngụm, rồi với tay, lấy cây đàn tây ban cầm, dạo nhẹ dăm cung bậc và hào sảng cất tiếng:

“Đôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều luân lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây” (+)

Thì tâm hồn người nghe không thể nào không xao xuyến, huống chi, quê  người nghe lại ở ngay miền đất thơ mộng đó!

Viết tới đây tôi mới mơ hồ thấy cái gạch nối giữa tấm lòng Chiêu Quân và thời khắc giao mùa.

Thì ra, chẳng phải Chiêu Quân khiến tôi bâng khuâng, mà là tác giả bài thơ Chiêu Quân, người gửi gấm tâm sự qua nỗi lòng kẻ sang Hồ. Tác giả bài thơ - người biết rõ quê nội tôi như chính tôi - là người đang khơi dậy hồn quê chan chứa trong tôi. Hồn đất linh thiêng nơi bờ đê, đường làng, cầu ao, bụi cỏ, thẳm sâu đâu đó, dấu chân người, chân tôi, thế nào chẳng có lúc gần kề. Thế nên chiều nay, tiếng nấc Chiêu Quân không chỉ là tiếng gọi hồn Quang Dũng mà còn đưa tôi về quê cũ, nơi ông bà, cha mẹ đã nằm xuống. Quang Dũng gọi, hay chính tôi đang gọi mình:

“Em ơi! Em ơi! Đêm dần vơi,

Vọng về phương ấy ngóng trông người

Trăng có soi qua đầu tóc bạc

Nẻo chừng cố quận, nhớ thương ơi!” (#)

Vâng, nhớ quá và thương quá, quê ơi! Tôi vẫn biết ngày nay, bờ đê đó, đường làng xưa đã đổi khác nhưng hồn quê, hồn đất, ngàn năm thấm xương máu Cha, Ông, đã thành linh địa trong anh, trong tôi thì không gì đổi thay được:

“Khói thuốc xanh dòng, khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mưa” (=)

Kim đồng hồ vừa nhích khỏi con số 12.

Bính Tuất đã qua.

Đinh Hợi vừa tới.

Tôi thắp ba nén nhang, bước ra sân, vọng về quê hương.

Cắm nhang bên gốc ngọc-lan, tôi ngước nhìn trời đêm, nhớ về Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, nhớ về bao người đã vun bồi Quê Hương, đã đến rồi đi như giòng sông, chỉ cho mà không chờ nhận.

Trong bóng đêm, tôi lặng lẽ sụp lạy đủ chuỗi hạt 108. Mỗi hạt là một  lạy.

Nền đất lạnh buốt gối quỳ không làm tôi run rẩy lời thành khẩn cầu xin an lạc tới khắp nơi khổ hạnh.

Diệu Trân

(Giao thừa Tết Đinh Hợi)

Thơ Quang Dũng:

(*) Chiêu Quân

(+) Đôi mắt người Sơn Tây

(#) Cố quận

(=) Đôi bờ

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dân ca nước ta, trong đó có môn hát chèo, được coi là rất hay và thâm thúy lắm. Để hiểu biết và thưởng thức được những nghệ thuật trình diễn và các làn điệu dân ca, chúng ta cũng phải mất nhiều công sức để tìm tòi, học hỏi...
– Nếu biển rộng như thế nào thì nỗi khổ của con người bao la như thế. – Nếu lá trên rừng nhiều như thế nào thì nỗi lo, nỗi sầu, nỗi buồn của con người nhiều như thế. – Nếu vũ trụ vô biên như thế nào thì lòng tham của con người vô bờ bến như thế...
Tầm quan trọng của diaspora hay cộng đồng người gốc Việt sống ngoài Việt Nam càng ngày càng gia tăng. Để có một cái nhìn tổng quát, có tính cách học thuật và khách quan hơn về tình hình chung của diaspora Việt cũng như các diaspora khác trên thế giới, tôi xin giới thiệu và dịch bài viết năm 2005 của Steven Vertovec, một giáo sư đại học Đức chuyên về Xã hội học và Dân tộc học. Sau đây là phần 2, tiếp theo phần 1 (kỳ trước) bàn về các ý niệm và định nghĩa của diaspora. Các điểm liên quan tới Việt Nam sẽ được người dịch ghi chú, bàn luận thêm trong phần chú thích ở cuối bài.
Mùa Địa Ngục là một truyện dài thể loại fiction gồm ba truyện vừa kết hợp (Tam Bộ Khúc/Trilogy): Một Thời Điêu Linh, Mùa Địa Ngục, và Vàng Rơi Mênh Mông. Ba truyện có một nền chung: Cuộc chiến tranh Nam Bắc Việt Nam, và mỗi truyện có những nhân vật với phần đời riêng nhưng lại liên hệ với nhau...
Thơ Nguyễn Hàn Chung vốn rất khó đọc! Từ “Nghịch Lưu Của Tuổi”, rồi qua “Dự Cảm Rời” mấy năm trước và mới đây trên các trang thơ của “Lục Bát Tản Thần” là một chuỗi dài những vần thơ khó đọc!
Tôi không phải người gốc Tây Ninh. Nhưng tôi là một tín hữu Cao Đài, cho nên có thể nói tôi cũng có chút “dây mơ rễ má” với vùng đất Thánh này. Những tản mạn trong bài viết này khởi nguồn khi tôi tình cờ đọc được bài viết “Viện Đại Học Cao Đài Và Chúng Tôi, Một Duyên Tình Dang Dở,” của cố Giáo sư Nguyễn Văn Trường và Giáo sư Tiến sĩ Mai Thanh Truyết trên trang nhà của Viện Sử Đạo Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh...
Nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, từ Đà Lạt, gửi cho chúng tôi truyện ngắn sau đây, cũng là một chương trong tiểu thuyết của anh, cuốn Trên đỉnh thanh xuân, viết từ năm 1967, khi anh còn là sinh viên ở Huế, trong phong trào Phật giáo miền Trung, những năm sôi động...
Ngày 17 tháng 10/2021, tại Hội Chợ Sách (Book Fair) ở Trung Tâm thương xá Eden, do Nhà Việt Nam tại Virginia và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tổ chức, “Tuyển Tập THƠ Chim Bay Mỏi Cánh” của nữ sĩ Cao Mỵ Nhân được giới thiệu lần đầu tiên...
Sách mới của nhà văn Phạm Quốc Bảo: Chuyện Nào Vẫn Cần Thuật Lại, cuốn II.
Trong Stories to tell, Charles Williams viết: “Những hình chụp gia đình có thể xem như tài liệu văn hóa vì chúng ghi lại những sự kiện thành hình cuộc sống của gia đình.” Có nghĩa là một loại tiểu sử không có chữ nhưng có minh chứng về đời sống lúc tấm ảnh được ghi nhận. Nhưng, có lẽ, nhận xét này chỉ đúng trong một số nền văn hóa; ở một số khác, có khi ngược lại, vì ở quê tôi, khi chụp hình gia đình, thường được dàn dựng ở những nơi có hậu trường đẹp đẽ, giàu sang, nhưng không thuộc về mình, chỉ mượn chụp cho oai. Tôi vẫn còn tấm hình đứng bên cạnh chiếc xe thể thao “xì gà” màu xám bạc như phi thuyền của ông khách lạ. Nhiều bạn mới quen lé mắt vì tưởng tôi là chủ nhân chiếc xe đua. Người ta nói, một tấm hình có thể thay thế được cả ngàn chữ. Không biết những tấm hình ngày nay, nói thật hay nói nói dối?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.