Hôm nay,  

Đọc Lê Chiều Giang: Không Đứng Mãi Trong Tranh

16/08/202115:52:00(Xem: 5534)
blank
 

Đọc Lê Chiều Giang:

Không Đứng Mãi Trong Tranh
 

Phan Tấn Hải
 

Tác giả Lê Chiều Giang vừa phát hành  Không Đứng Mãi Trong Tranh. Tác phẩm dày 164 trang, vừa văn xuôi, vừa thơ. Độc giả sẽ thấy trong sách ngập tràn những quá khứ, như nhận định của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, “…đọc Lê Chiều Giang, những dòng chữ chảy lui về quá khứ. Một quá khứ không thể nào không nhắc về, nhớ tới… Những quá khứ của thời đã ‘Chết đi, sống lại’.” Đúng ra, quá khứ chỉ là một phần, vì tác giả Lê Chiều Giang vẫn còn trên cõi này, còn đọc và còn viết. Và trong sách, có những bài được viết rất gần đây.
 

Tác phẩm như dường rất mong manh, như mơ, như thực… Ngay nơi nhan đề sách đã là một hình ảnh của một chân trời cổ tích, “Không Đứng Mãi Trong Tranh.” Bạn có thể nhớ tới một tích cổ trong thời nhà Trần ở thành Thăng Long, chàng thư sinh Tú Uyên say mê thiếu nữ trong tranh, và trong một lần nàng bước ra khỏi tranh đã bị chàng nắm tay giữ lại cõi này. Có phải chuyện của người xưa ở phường Bích Câu cũng là chuyện đời nay của Sài Gòn với chàng họa sĩ Nghiêu Đề. Và rồi trong sương khói cổ tích như thế, tác phẩm của Lê Chiều Giang mang theo một cõi ký ức của chữ nghĩa và sắc màu --- tất cả cùng chen tới để dựng lại một Sài Gòn năm xưa, một Sài Gòn của nhạc, của thơ, của tranh, của những con đường dẫn tới Phòng Tranh Alliance Française, của những lối Nguyễn Thông và Yên Đỗ dẫn tới tiệm cà phê Phấn Thông Vàng, mở lại những góc đã quên trong ký ức cho độc giả, đặc biệt là những người sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, như tôi.
 

Tôi đọc tác phẩm Không Đứng Mãi Trong Tranh của Lê Chiều Giang, rồi đọc một số bài người khác viết về sách này. Tôi không biết mình sẽ viết gì về sách này cho như ý. Đã nhiều thập niên đọc sách và điểm sách, tôi nghiệm ra một điều: bất như ý luôn luôn xuất hiện trong tiến trình viết sách [với tác giả], đọc sách [với độc giả], và điểm sách [với nhà báo như tôi]. Không bao giờ thoát được bất như ý. Nhưng, một phẩm chất cuộc đời luôn luôn là bất như ý. Chúng ta không thể bắt cõi này phải xảy ra đúng như ý mình.
 

Cũng chính vì như thế, sáng tạo luôn luôn là một nỗ lực để vượt qua tất cả những bất như ý. Nghĩa là, viết, dù là viết văn xuôi hay làm thơ, đều là một hành trình đi từ bất như ý để tìm tới toàn bích. Nói theo kiểu nhà chùa, đi từ khổ cho tới tịch lặng của khổ, nghĩa là thành Phật. Do vậy, sống với nghề báo nhiều năm giữa Quận Cam, nghĩa là sống trọn ngày đêm giữa trận mưa không dứt của chữ, đã cho tôi học được cách nhìn trong Kinh Pháp Hoa, nhìn đâu cũng thấy Phật, dù đó là một Đề Bà Đạt Đa hay một Long nữ 8 tuổi, dù đó là Mục sư Nguyễn Quang Minh làm việc thông dịch trong tòa án Santa Ana hay Thầy Phó Tế Nguyễn Mạnh San hoạt động xã hội trong nhà tù Oklahoma, dù đó là dịch giả lãng mạn như Trịnh Y Thư hay nhà thơ gian nan Lê Giang Trần. Mọi người đều là Phật, đều là cái không chuyển thành cái có, và ngược lại. Bước đi với chữ sáng trưa, ngồi nhâm nhi với chữ chiều tối, rồi thắc mắc với chữ ban ngày, và mơ hồ với những chữ hiện ra ban đêm… Luôn luôn là nhận ra bất như ý, không ở trong cái nhìn hay cách nhìn, nhưng chỉ là không viết được như ý. Nghĩa là, không tương ưng giữa chữ và ý được.
 

Nãy giờ là tôi lạc đề. Nhưng đọc sách Lê Chiều Giang dễ lạc đề lắm. Hình như không có một trình tự hợp lý nào, thí dụ về thời gian, hay không gian. Nhưng thế giới của tâm có gì là trình tự hợp lý được. Có khi tác giả nói chuyện thời đi học, thời trốn thánh lễ, rồi nói chuyện hồi ở cư xá Thanh Đa, rồi chuyện San Diego, rồi chuyện sân bay San Francisco. Rồi thể văn, có khi văn xuôi, rồi chen vào thơ. Sáng tạo văn học thì tản mạn là bình thường, dĩ nhiên. Trọn tác phẩm Không Đứng Mãi Trong Tranh là một thế giới của tâm, có lúc mơ hồ như kéo độc giả về truyện Tú Uyên Giáng Kiều (trọn cuốn sách của Lê Chiều Giang không nhắc gì tích này, nhưng một số độc giả có thể chợt liên tưởng tới), và rất nhiều trang là đưa độc giả về các phòng tranh Sài Gòn một thời trước 1975.
 

Cách đọc và viết hàng ngày của tôi luôn luôn là một trình tự hợp lý; nếu không, bài báo sẽ thành một bài văn, thế là hôm sau sẽ bị các cụ độc giả ở Bolsa than phiền. Thế rồi, tôi phải tập cách rút gọn các bản tin, viết ngắn, viết dễ hiểu. Vậy đó, rồi mình mất luôn thói quen viết thoải mái, viết ngoài lề như đã từng viết cho các tạp chí văn học. Nói như thế để giải thích, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều câu văn, nhiều đoạn văn trong sách Lê Chiều Giang. Đọc như thế để nghiệm chất văn thôi, hoàn toàn không bận tâm chuyện nhân vật này hay kia có thật không, cũng chẳng bận tâm chuyện các văn nghệ sĩ thời xưa có thực như mô tả không. Đã nói mà, đây là một thế giới của Sài Gòn ngày xưa, không thực, không hư. Chỉ thực trong mắt nhìn của tác giả, nhưng không chắc rằng cái được hiểu và cái được nhớ là đúng với cái hiện thực. Trí nhớ là cái gì rất sương khói và dễ phản bội. Trong khi đó, tác phẩm Lê Chiều Giang cũng đã hòa nhập các cõi thời gian, như đang bước ra khỏi thế giới cổ tích của tranh để nói chuyện San Diego, San Francisco, và vân vân.
 

Văn học cũng như thế. Tác phẩm của Lê Chiều Giang cũng như thế. Cũng y hệt như chuyện ngón tay chỉ trăng trong Thiền Tông. Ngón tay không phải mặt trăng. Nhưng kìa, khi thấy mặt trăng, cũng chỉ thấy là một dĩa màu vàng hiển lộ trên bầu trời đêm. Sự thực theo các khoa học gia thì mặt trăng không phải là chiếc dĩa vàng. Rồi khi bạn, nếu là phi hành gia đặt chân lên mặt trăng, có lẽ chỉ thấy là những đá và cát mênh mông (có lẽ thế). Văn học cũng là như thế, chỉ là ngón tay để chỉ lên mặt trăng, nhưng hình ảnh chiếc dĩa vàng thực sự chỉ là tâm mình hiện ra. Chỉ là tâm thôi. Đúng vậy, chỉ là tâm thôi. Tôi nghĩ như thế, khi đọc thấy nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ viết rằng đây là “tác phẩm đầu tay và duy nhất” cùa Lê Chiều Giang. Các bạn suy nghĩ xem, thử cưỡng bách một nhà văn hay nhà thơ chỉ in một “tác phẩm đầu tay và duy nhất” trong đời. Đó hẳn là máu trong tim được vắt ra cho cạn. Chữ nơi đây, chỉ là tâm thôi. Và chúng ta đang đọc thấy tâm của tác giả Lê Chiều Giang hiện lên trên từng trang giấy, phải đoán hẳn là như thế.
 

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, nơi trang Viết Thay Lời Tựa, ghi rằng, “Lê Chiều Giang viết mà như vẽ lại, như tả chân một cách vô cùng linh hoạt. Không hề tẩy xóa, chẳng tô vẽ thêm, nhưng rất lạ…” Đây cũng là chỗ để ngờ vực, làm sao mà viết như vẽ lại được. Tôi không có ý muốn tranh luận chỗ này, chỉ là tò mò thôi, chỉ muốn đọc xem trang nào đã viết như vẽ. Nhưng hoàn toàn đồng ý với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ về nhận định, “Quyết liệt như mối tình thơ mộng của Cô, với người bạn tài hoa của chúng ta. Nghiêu Đề.” (Không Đứng Mãi Trong Tranh, trang 8) Quyết liệt, đúng vậy. Tôi nghĩ, quyết liệt là một cá tính trong sáng tác và thái độ của Lê Chiều Giang.
 

Bạn thử suy nghĩ xem, thời trước 1975, nữ sinh trung học phải có cá tính quyết liệt lắm mới dám, “Những Chủ Nhật trốn lễ nhà thờ chưa đủ, tôi bỏ cả trường lớp, trốn học, và có khi còn muốn đi luôn…” (KĐMTT, tr. 10)
 

May mắn, đọc thêm vài trang, mới thấy rằng cô chưa đi luôn… Và cũng không quyết liệt lắm, vì cô còn biết khóc trước mặt chàng họa sĩ, hẳn là cũng khóc quyết liệt:

Tôi khóc. Anh hẹn sẽ tìm canvas cho một tranh khác.
“Tranh khác,” nghĩa là tôi sẽ tiếp tục trốn học và trốn nhà thờ
.” (tr. 12)
 

Trong truyện cổ tích, khi bắt gặp nàng Giáng Kiều bước ra khỏi tranh, chàng Tú Uyên liền xé bức tranh để nàng không thể trở về cõi tranh. Nhưng nơi bài viết Người Mẫu (KĐMTT, tr. 9-16), người xé bức tranh chàng đang vẽ cô bé nữ sinh trốn học lại là “cô bạn cũ” của chàng họa sĩ. Cách gọi người xé tranh là “cô bạn cũ” là lời thanh minh thanh nga của chàng họa sĩ. Bức tranh thứ nhì của chàng họa sĩ vẽ nàng lại bị thân phụ của nàng giấu biến đi, theo lời kể của Lê Chiều Giang, “Ba tôi giấu mất bức tranh thứ hai. Bức tranh đã lưu lạc theo cùng tiếng khóc ấm ức của tôi, trong rất nhiều đêm dài không ngủ.” (tr. 16) Và cuối cùng. bức tranh thứ ba chàng vẽ nàng được đưa vào khâm liệm cùng chàng, “Và nhan sắc này sẽ ở lại cùng Anh muôn đời, mãi mãi.” (tr. 16)
 

Nghĩa là, ba lần chàng vẽ nàng. Để trở thành một truyện cổ tích mới. Để được nhà văn Ngô Thế Vinh viết nơi đầu chương này, minh bạch rằng: “Nhưng vẫn chẳng ai nói về Nghiêu Đề, tha thiết và cảm động như “Người của trăm năm” đã viết về anh. Lê Chiều Giang, Cô viết như một tưởng niệm về người bạn của chúng ta. Nghiêu Đề.” (tr. 9)
 

Bản thân tôi không có nhiều kiến thức về hội họa thời trước 1975. Phần lớn biết là nhờ đọc nơi này, nơi kia, trong đó một mảng lớn kiến thức là từ các bài viết của nhà phê bình hội họa Huỳnh Hữu Ủy. Tuy nhiên, tác phẩm Không Đứng Mãi Trong Tranh của Lê Chiều Giang đưa ra thêm nhiều chi tiết về mảng văn học nghệ thuật này. Nghĩa là, độc giả có thể qua tác phẩm này, biết thêm về nhiều họa sĩ, và khuynh hướng mỹ thuật của họ. Thực tế, không ai dám nói là có thể biết về một họa sĩ, nếu chưa xem tranh của họ. Nhưng nơi đây, một phần nào, chúng ta có thể biết mơ hồ.
 

Trong bài Nhớ Về Hội Họa Sĩ Trẻ (tr. 17-22), Lê Chiều Giang ghi nhận rằng khi cô còn là một nữ sinh trung học, cô đã theo chàng bước vào một phòng tranh giữa Sài Gòn, nhiều lần, giữa những khói thuốc lá: "Khói thuốc Haft & Haft thơm tho, Basto nặng nồng, hay Lucky mờ mịt. Mắt tôi bốc cay với khói mà tưởng như có thêm cả chút nồng nàn, sướt mướt." (tr. 17) Nơi phòng tranh, cô nữ sinh chưa đủ chiều cao để đứng nhìn thẳng một bức tranh trên tường (nhưng lại rất mực thơ mộng như một nàng Giáng Kiều trong tranh) đã gặp nhiều họa sĩ và các họa phẩm của họ:  Đinh Cường, Nghiêu Đề, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Cù Nguyễn… (tr. 17-18)
 

Không chỉ như thế, cô nữ sinh còn rất nhỏ đó đã có cơ duyên la cà các tiệm cà phê với các chàng họa sĩ, và la cà tới cả khi phòng tranh chưa mở cửa. Lê Chiều Giang viết:
 

"Tôi bị cuốn theo những chiều rực rỡ La Pagode, những đêm Givral hoa đèn lấp lánh.
Và cả với những sáng khi Sàigòn còn mờ hơi sương, lúc phòng  tranh chưa mở cửa. Nơi đó, có năm bảy chàng họa sĩ trong Hội Họa Sĩ Trẻ, ngồi nghi ngút cùng cafe bên góc hè của Continental Hotel, ngay cạnh phòng triển lãm Alliance Française.
" (tr. 18)
 

Và nhiều chi tiết tương tự như thế. Sau này, các nhà nghiên cứu về hội họa về thời Miền Nam trước 1975 sẽ dựa vào “tác phẩm đầu tay và duy nhất” này của Lê Chiều Giang để nhìn thêm vào một thời sáng tác của các họa sĩ này. Đúng vậy, lịch sử nghệ thuật. Trong sách này cũng ghi lại về nhiều văn nghệ sĩ khác, về Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Đình Toàn, Trần Quang Lộc, Nguyễn Hữu Hiệu, Lê Tất Điều, Bùi Giáng, Trần Duy Đức, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đức Sơn, Trần Tuấn Kiệt… Nhắc tới nơi này, nơi kia, kỷ niệm này, ký ức nọ.
 

Tác phẩm Không Đứng Mãi Trong Tranh có 14 bài thơ, và 19 bài văn xuôi. Nơi đây, tôi ghi là “văn xuôi” vì không biết gọi là gì cho chính xác. Không phải truyện ngắn, vì có nhiều chi tiết như kể lại đời thực. Nhưng cũng không thể gọi là tùy bút, bút ký hay hồi ký hay bất kỳ cái gì thuộc về ký, vì chất thơ nhiều quá. Văn xuôi của Lê Chiều Giang không phải thơ, nhưng lại rất nhiều chất thơ.
 

Đúng ra, trọn cuốn sách là thơ. Đọc bất kỳ trang nào, ngay cả văn xuôi, cũng thấy chất thơ. Nhưng một bài tôi nghĩ điển hình là Nghĩ Với Trần Quang Lộc (trang 57-64). Bởi vì, hai nhạc sĩ trong bài, Nguyễn Đình Toàn trong năm 1978 đã dẫn Trần Quang Lộc tới giới thiệu với nhóm văn nghệ sĩ ở cư xá Thanh Đa, là cả hai chân trời thơ mộng. Trong khi Nguyễn Đình Toàn làm thơ rất mực lãng mạn trước khi sáng tác nhạc, Trần Quang Lộc lại sống thơ rất mực dữ dội trước khi sáng tác nhạc. Nhiều thập niên sau, tác giả Lê Chiều Giang viết về một kỷ niệm khi về thăm VN năm 2018, tìm gặp các bạn bè thân hữu cũ, và rồi Trần Quang Lộc đưa ra sáng kiến thâu băng để lưu niệm (mời các bạn đọc kỹ, từng chữ, từng dòng nơi đây là thơ):
 

"Chợt anh nghĩ ra một ý rất ngộ nghĩnh: Anh muốn thâu vài bài ngày xưa tôi hay hát với bạn bè.  Serenade, Sombre Dimanche... Với ý kiến đó, chúng tôi ngồi để “Thâu Lại Ký Ức.” Khi hát, tôi mơ màng thấy lại dòng sông xưa, chiếc thuyền nhỏ vào những đêm trăng sáng. Những đốm thuốc không lụi tàn trong đêm tối, và tiếng hát bạt ngàn của chúng tôi mới thuở nào đây đã mất hút, xa xăm, đã bay đi mất tan theo những mưa những gió của cuộc đời." (tr. 63)
 

Bài Nghĩ Với Trần Quang Lộc được Lê Chiều Giang viết sau khi Lộc từ trần. Tôi thắc mắc, tại sao không phải nhan đề Nghĩ Về Trần Quang Lộc – có phải “nghĩ với” mang theo không khí chia sẻ? Tôi cũng có cơ duyên nghe nhạc Trần Quang Lộc tại nhà các bạn Khoa và Khôi ở phía sau cư xá Bắc Hải, đặc biệt nhớ cũng là giọng ca của Thanh Hà, một thiếu nữ Đà Nẵng lúc đó chạy vào Sài Gòn; nhiều thập niên sau, tôi có cơ duyên gặp lại khi cô từ Úc châu tới Quận Cam thăm nhà văn Nguyễn Đình Toàn. Thời xa xưa đó, Trần Quang Lộc cũng là người miền Trung chạy vào Sài Gòn. Những cú hậu chấn 1975 đã làm trôi dạt nhiều mảng đời nghệ sĩ vào Sài Gòn, nơi cuộc đời của họ được dung chứa và là nơi tâm hồn của họ được hồn nhiên thơ mộng hơn.
 

Cũng có thêm những phận đời trôi dạt khác. Như trong bài Nói Với Ngàn Thông (trang 89-95), kể chuyện họa sĩ Lâm Triết tới tá túc ở nhà Nghiêu Đề -- Lê Chiều Giang, và rồi nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (trong bộ áo tràng nhà sư, mặc thời vương vấn trong chùa) đi xe đạp, ẵm một con chó nhỏ tới thăm. Đó là những hình ảnh kỳ dị trong đời. Lê Chiều Giang kể lại:
 

"Thời gian đó Lâm Triết tá túc nhà chúng tôi ở cư xá Thanh Đa. Anh gốc người Bình Định, rất thân với Nguyễn Đức Sơn. Cả ba ông mày mày, tau tau mừng rỡ với một giọng phải nói là "la làng" của ông khách lạ. Việc đầu tiên tôi làm là lấy ngay máy sấy tóc hong khô cho chú chó nhỏ đáng thương và tội nghiệp của ông Sư. Nó rúc vào cánh tay tôi trìu mến như một lời cảm ơn ấm áp. Tôi cũng ôm nó trong lòng như một vỗ về đầy thương yêu..." (tr. 90)

Có phải đó là hình ảnh rất mực là thơ, rất là dị thường: Nguyễn Đức Sơn trong bộ áo nhà sư đi một chiếc xe đạp cũ kỹ, ẵm theo một con chó nhỏ ướt nước, tới thăm hai họa sĩ, nói chuyện mày mày tau tau…
 

 Tác phẩm Không Đứng Mãi Trong Tranh cũng có rất nhiều điều khác để nói tới, để suy nghĩ, để nhận ra chất thơ, chất họa... kể cả để biết một số mảng đời một thời của nhiều họa sĩ, nhà văn, nhà thơ trong những năm trước và sau 1975. Những năm đó không phải là thơ dưới mắt sử gia, nhưng trên các trang giấy đã được tác giả Lê Chiều Giang ghi lại bằng cái nhìn từ ái và thơ mộng, trong đó có hình ảnh của họa sĩ Nghiêu Đề, người mà chị yêu thương đã gọi ngày “tiễn đưa anh Nghiêu Đề… trong ngày buồn nhất.” (tr. 142). Và về rất nhiều văn nghệ sĩ khác.
  

Độc giả có thể liên lạc tác giả Lê Chiều Giang: [email protected]

Link mua sách ở Amazon: https://www.amzn.com/1990434193 

 

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhơn ngày Tết, ông Nguyễn văn Tương (*) tới thăm và mừng tuổi Cụ Trần văn Hương tại tư thất của Cụ . Bắt tay khách, Cụ Trần văn Hương vui vẻ nói : -Em còn trẻ quá, chắc em không có học với qua
Dụ Am Ngâm Lục của Phan Huy Ích, sách III Dật Thi Lược Toản viết từ năm 1791 đến 1796. Những bài thơ làm dưới thời vua Quang Trung, Thật là quý báu những bài thơ nói lên tấm lòng bao dung độ lượng vua Quang Trung
Cuộc hành quân của lối 3,000 Công an và Quân đội vào Thôn Hoành, Xã Đồng Tâm, gần Thủ đô Hà Nội lúc 4 giờ sáng ngày 09/01/2020 đã để lại vết nhơ rõ nét của một nhà nước ngụy ngôn và không ngại dùng bạo lực, dù dã man, tàn bạo để giữ quyền lợi bất chính.
Bắt đầu chụp ảnh vào lúc 10:00 am đến 1:30 pm @ Tất cả người mẫu welcome, mặc áo dài đến tham gia trong chương trình "Em đi lễ chùa" @ Tất cả nhiếp ảnh gia cũng như mẫu nam nên mặc áo dài đến tham gia buổi lễ .
Thành phố Trung Quốc, trung tâm của sự bùng phát vi khuẩn đường hô hấp đang gia tăng các chuyến bay và dịch vụ đường sắt ra nước ngoài, vì Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngăn chặn một căn bệnh khiến giết chết ít nhất 17 người và truyền nhiễm hơn 500 người.
Thượng Viện Hoa Kỳ đã bắt đầu nghe các tranh biện mở màn hôm Thứ Tư, 22 tháng 1 trong phiên xử luận tội Tổng Thống Donald Trump với các thủ tục tố tụng ngay bây giờ, theo AP cho biết hôm Thứ Tư.
Hình tượng ba con khỉ: con thì dùng tay che hai mắt, con thì dùng tay bịt hai tai và con thì dùng tay bịt miệng lại…đã nói lên sự khôn ngoan của người biết giữ lễ. Đây là một phương châm xử thế: Không nhìn những việc gì xấu, không nghe những lời nói xấu, không nói điều xấu xa đê tiện.
Năm 1944 (Giáp Thân), theo nhân duyên tục đế, Ni trưởng được sanh ra trong dòng họ Lê, ở tỉnh Quảng Nam. Cha là Lê Trung Cự, thầy thuốc Bắc, chuyên hốt thuốc miễn phí cứu người, biết thông thạo tiếng Pháp và chữ Hán.
Trưa Chủ Nhật, ngày 19 tháng 1 năm 2020 tại nhà hàng Golden Sea, 9802 W.Katella Ave, Anaheim, Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa Nam California đã tổ chức tiệc tất niên mừng Xuân Canh Tý, tham dự buổi tất niên có hàng trăm quan khách cùng các chiến hữu và gia đình Cảnh Sát Quốc Gia VNCH tham dự buổi Họp Mặt Tất Niên, Mừng Xuân Canh Tý, đây là dịp để cùng chúc nhau năm mới mọi điều tốt đẹp.
Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá chốt, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo, bống dừa, hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.
Đã từ hàng chục năm nay, Hội Chợ Tết Sinh Viên đã trở thành một sinh hoạt không thể thiếu của không khí đón Tết Nguyên Đán của cộng đồng người Việt vùng Little Saigon Quận Cam Nam Cali. Có thể nói tại hội chợ này, người tham dự sẽ có đầy đủ hương vị của những ngày Tết cổ truyền Việt Nam, cùng cảm nhận được sức sống mạnh mẽ của cộng đồng gốc Việt tại Nam Cali.
Thú cũng được sử dụng trong lĩnh vực y khoa để tìm ra những dược phẩm mới cũng như để sản xuất ra những bộ phận ghép dùng cho con người. Một vài loài súc vật như chó, mèo và ngựa còn được xem như những bạn đồng hành rất gần gũi với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Trong bối cảnh này, một số mầm bệnh từ thú có thể lây nhiễm và gây bệnh cho chúng ta. Khoa học gọi những bệnh này bằng một cái tên chung là zoonoses.
Dân Biểu Nghị Viện Châu Âu Ellie Chowns kể một chuyện nghe mà buồn cho quốc thể VN, rằng, "Ngày mai Uỷ ban Thương mại Nghị viện Châu Âu sẽ bỏ phiếu về thoả thuận thương mại EU - Việt Nam. Hôm nay tôi nhận được ở văn phòng mình cái này: món quà rượu champagne từ đại sứ quán Việt Nam. Hoàn toàn không hợp lý và trắng trợn. Tôi sẽ trả lại món quà này cho họ, giải thích rằng thả tù nhân lương tâm sẽ có ảnh hưởng tới tôi hơn...," theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết hôm 21 tháng 1.
4,600 công nhân tại Việt Nam sẽ không hưởng được một cái Tết Canh Tý vui vẻ bởi vì tiền lương vẫn chưa được trả tính tới ngày 27 Tết, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do cho biết hôm 21 tháng 1.
Tôi đến thăm anh vào một buổi chiều cuối năm, trong lúc anh ngồi đối diên với tác phẩm phù điêu“Măt Trời Tự Do”-một công trình anh hoàn thành một năm sau khi anh và gia đình đến Mỹ theo diên H.O. Sau khi mời tôi uống với anh một chén trà ấm, anh kể cho tôi nghe “môt góc đời” của anh: - Tôi là lính trận.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.