Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6994)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giữa biển người lan tỏa tiếng nói phản kháng khắp nước Mỹ cuối tuần qua, một lần nữa, Tổng thống Donald Trump đã biến sự tàn ác thành trò đùa sỉ nhục phẩm giá của hàng triệu người dân Mỹ. Trump đăng tải một video do AI tạo ra, tự mô tả mình là một phi công đầu đội vương miện, mang mặt nạ dưỡng khí, điều khiển chiếc phi cơ chiến đấu, bay lượn trên bầu trời, thả phân lên đầu người biểu tình “No Kings.”
Vừa được hay tin nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ra đi trong sự tĩnh lặng của một tâm hồn lớn. Tâm hồn tồn trữ sự bình an của thiền thực dụng qua sự sinh hoạt hằng ngày như là “vô công dụng hạnh.”
Theo tin Yonhap ngày 20 tháng 10, Bộ Quốc phòng Nam Hàn đã triệu tập một tùy viên quốc phòng Việt Nam đang công tác tại Nam Hàn liên quan đến cáo buộc Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam có hành vi quấy rối tình dục 1 nữ công chức Nam Hàn trong chuyến thăm Seoul tháng trước, theo lời các quan chức quân sự cho biết hôm thứ Hai.
- HRW: quốc tế lặng lẽ cho VN đàn áp nhân quyền, mở miệng là bị bắt - Virginia Giuffre viết hồi ký: sợ sẽ chết như nô lệ sex dưới tay Jeffrey Epstein, nói bị Hoàng tử Andrew bạo dâm - Trump dọa phạt các tiểu bang và cơ quan do Đảng Dân Chủ kiểm soát, sẽ cắt quỹ dự án hạ tầng ở New York, California và Massachusetts - Trump đổ lỗi Dân Chủ: 42 triệu người có thể mất trợ cấp tem phiếu thực phẩm SNAP từ tuần sau, 17 tiểu bang ngưng nhận đơn xin trợ cấp này. - North Carolina lấy điểm Trump: Cộng Hòa sắp xóa sổ hoàn toàn Dân Chủ nhờ vẽ lại bản đồ. - Trump tuyên bố ông "không muốn hủy diệt Trung Quốc" và nói cuộc đời của Tập Cận Bình xứng đáng được dựng thành phim. - Trump kêu gọi Ukraine cắt vùng Donbas cho Nga để có hòa bình. Zelenskay từ chối. - Gaza: Israel bắn chết ít nhất 97 người Palestine và làm bị thương 230 người kể từ khi lệnh ngừng bắn bắt đầu, vi phạm ngừng bắn 80 lần. Trump nói thỏa hiệp ngưng bắn vẫn hiệu lực. - Trump hôm nay họp với Thủ tướng Úc, hy vọng tương lai
Cực kỳ gian nan khi hoằng pháp tại các quốc độ có rất ít Phật tử. Tuy nhiên, nhà sư Gelong Thubten lại có rất nhiều may mắn, như dường được tiền định để tin Phật và rồi hoằng pháp tại Anh: sinh trưởng tại Anh, có mẹ là nữ diễn viên nổi tiếng người Anh gốc Ấn Độ, có thân phụ là lập trình viên điện toán người Anh nguyên là một vị sư từng tu học một thời gian ngắn tại Thái Lan, bản thân vào học ở Oxford rồi theo đuổi sự nghiệp điện ảnh ở New York rồi kiệt sức, bệnh ngặt nghèo, và trở về Anh để trở thành một nhà sư theo một chương trình nhiều năm nhập thất độc cư trước khi viết sách và thuyết giảng.
Trên khắp nước Mỹ, hàng triệu người đã xuống đường trong ngày thứ Bảy vừa qua, tham dự phong trào mang tên “No Kings” – “Không Có Vua”, nhằm phản đối khuynh hướng độc đoán của Tổng thống Donald Trump. Không chỉ trong nước Mỹ, phong trào còn lan rộng ra thế giới. Người biểu tình tụ họp trước các tòa đại sứ và lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Praha, Viên, Berlin, Paris, cùng nhiều thành phố khác. Tại Luân Đôn và Madrid, người dân giương cao khẩu hiệu “No Tyrants – Không Bạo Chúa”. Ở San Miguel de Allende, Mexico, nhiều người mang biểu ngữ phản đối cơ quan di trú ICE. Tại Thụy Điển, hàng trăm người Mỹ sinh sống ở Stockholm và Malmö cũng xuống đường. Giữa tiếng nhạc Imagine của John Lennon và Blowin’ in the Wind của Bob Dylan, họ kêu gọi đoàn kết với đồng bào trong nước.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
- Trump Kháng Cáo Lên Tối Cao Pháp Viện Về Quyền Điều Động Vệ Binh Quốc Gia Đến Chicago - California: Phá Vỡ Ổ Trộm Lego, Thu Giữ Hàng Chục Ngàn Mảnh Ghép Và Tượng - Chính Quyền Trump Thực Hiện Các Biện Pháp Mạnh Nhằm Thu Hẹp Bộ Giáo Dục Liên Bang - Instagram Ra Mắt Công Cụ Bảo Vệ Trẻ Vị Thành Niên Trước Tác Động Của AI - Chính quyền Trump cân nhắc khả năng gặp gỡ lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Un trong chuyến công du châu Á
Tạp chí Newsweek ghi rằng Công tố viên vụ án Epstein từng bị chất vấn về mối liên hệ bị cáo buộc của nhà tài chính với hai sở tình báo CIA (của Mỹ), Mossad (của Israel). Trong quá trình kiểm tra để trở thành bộ trưởng lao động, Alexander Acosta được cho là đã nói với các quan chức chuyển giao quyền lực của Trump rằng ông được yêu cầu "tránh xa" vụ án Jeffrey Epstein—nói rằng Epstein "thuộc về tình báo".
Trong khi Chủ Tịch Tập Cận Bình thanh trừng nội bộ Đảng CSTQ, Tổng Thống Trump thú nhận rằng không thể áp thuế cao Trung Quốc. Sau đây là tổng hợp nhiều tin từ UPI, ABC Australia và Yahoo Finance. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã sa thải 9 vị tướng quân hàng đầu của mình khỏi Quân đội Giải phóng Nhân dân PLA vì điều mà Trung Quốc cho là tham nhũng, bao gồm cả vị tướng số hai của đất nước.
Cáo Phó Nhà Văn Nhà Giáo Doãn Quốc Sỹ
J281. Abbhantara Jātaka -- Món Cúng Dường Nước Xoài Ép Tóm tắt: Mẹ của Rahula (La Hầu La) ngã bệnh sau khi xuất gia. Ngài La Hầu La hỏi nên làm gì, và bà xin nước ép xoài. Trưởng lão Sāriputta (Xá Lợi Phất) liền mang nước ép đến, và bà đã khỏi bệnh. Đức Phật kể một câu chuyện về một hoàng hậu xưa kia muốn có một quả "xoài giữa" và một con vẹt trung thành đã tìm được một quả cho bà.
• Nước Mỹ sẵn sàng cho tuần hành 'No Kings' toàn quốc Thứ Bảy 18/10 • Hakeem Jeffries: ‘Nếu không cho dân biểu đắc cử Adelita Grijalva tuyên thệ hôm nay, sẽ có hành động pháp lý’ • John Bolton trình diện tòa liên bang, không trả lời báo chí • Trump nói mức thuế 100% lên Trung Quốc “không thể kéo dài” • Các thượng nghị sĩ bỏ phiếu ngăn chặn chiến tranh ở Venezeula • Tòa phán quyết Mahmoud Khalil có thể tự do đi lại khắp nước Mỹ trong lúc kháng cáo vụ án trục xuất của mình • Sau điện đàm với Putin, Trump có vẻ thay đổi ý sẽ bán tên lửa tầm xa Tomahawk cho Kyiv • Muốn một lần thử ‘Squid Games’? Hãy đến Hàn Quốc
Ít nhất 15 người nhập cư đã chết trong các trại giam giữ di dân tính đến nay. Trong số đó, 10 người chết trong sáu tháng đầu năm, trở thành giai đoạn chết chóc nhất trong lịch sử gần đây.
Chương trình Thẻ Vàng mà TT Trump công bố ngày 19/9/2025 yêu cầu đương đơn phải tặng cho chính phủ Hoa kỳ khoản tiền 1 triệu Mỹ kim. Sau đó, họ có thể đủ điều kiện để xin:Thẻ xanh diện việc làm ưu tiên thứ nhất (EB-1) dành cho người nước ngoài có năng lực đặc biệt trong khoa học, nghệ thuật, giáo dục, kinh doanh hoặc thể thao, và Thẻ xanh diện việc làm ưu tiên thứ hai (EB-2) cho người nước ngoài có năng lực xuất sắc trong khoa học, nghệ thuật hoặc kinh doanh. Tổng số chiếu khán cho cả hai diện này gộp lại là 80,080 suất mỗi năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.