Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 5821)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Từ lâu lắm rồi, “dầu gió” là một thứ dược liệu cổ truyền quen thuộc với người dân Việt Nam. “Trúng gió” là từ người Việt dùng để nói về các chứng cảm lạnh, mà các loại dầu dược liệu để bôi khi bị cảm thường được gọi là “ dầu gió”. Khi sổ mũi nhức đầu, người Việt thường xức dầu trước khi uống thuốc. Vào trước năm 1975, trong những loại dầu gió có trên thị trường Việt Nam, dầu gió xanh nhãn hiệu Con Ó– Eagle Brand Green Medicated Oil- là một trong những nhãn hiệu dầu gió nổi tiếng vào bậc nhất. Đây là sản phẩm của công ty Borden Company Limited, sản xuất tại Singapore, đã có mặt trên thương trường từ năm 1963. Ngay từ thập niên 1960s, dầu gió xanh Con Ó đã được xuất cảng đến miền Nam Việt Nam, và trở thành một sản phẩm thiết yếu trong tủ thuốc gia đình Việt.
Ông Ted Bùi, Nghị Viên Thành Phố Fountain Valley , Ứng Cử Viên Dân Biểu Tiểu Bang Địa Hạt 70 thăm Tòa soạn Việt Báo. Trong dịp nầy ông cho biết sau thời gian làm Nghị Viên tại Thành Phố Fountain Valley ông nhận thấy những nhu cầu cần thiết để phục vụ cho cư dân cần phải mở rộng thêm nữa ngoài lãnh vực thành phố, vì vậy cho nên ông quyết định ra tranh cử chức Dân Biểu Tiểu Bang cho kỳ bầu cử vào tháng 6 năm 2022 nầy.
Đại Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương (Năm thứ 4901) đã long trọng diễn ra vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 10 tháng 4 năm 2022 (đúng vào ngày giỗ tổ Mồng Mười Tháng Ba âm lịch), tại Saigon Performing Arts Center , Fountain Valley với sự tham dự của quý vị dân cử, đại diện dân cử Thành Phố, Quận Hạt, Tiểu Bang, Liên Bang, quý vị đại diện cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, quý vị mạnh thường quân bảo trợ, cùng một số các cơ quan truyền thông một số các ban văn nghệ và đồng hương tham dự.
Tại nhà hàng Dimond Seafood Place số 36731 Westminster Blvd, Thành phố Westminster, vào lúc 6 giờ chiều Chủ nhật ngày 10 tháng 4 năm 2022, Ủy ban Xây Dựng Tượng Đài Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị đã tổ chức thành công buổi tiệc gây quỹ hơn 800 người tham dự trong đó có quý vị dân cử, quý Niên Trưởng, quý chiến hữu thuộc các hội đoàn Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quý cộng đồng, một số quý hội đồng hương trong đó có Hội Đồng Hương Quảng Trị, Quảng Nam Đà Nẵng, cùng các cơ quan truyền thông, quý vị mạnh thường quân bảo trợ cùng đông hương, thân hữu.
(Robert Mullins International) Sau ngày Tổng Thống Biden ký ban hành luật cải tổ chương trình EB-5 và tái ủy quyền chương trình EB-5 Trung Tâm vùng đến 30/09/2027, văn phòng RMI nhận hàng chục thắc mắc về một loại đầu tư không kém phần hấp dẫn, nhưng lại được xét nhanh chóng hơn, đó là loại chiếu khán đầu tư liên công ty L-1. Đây là một ưu thế đầu tư dành cho những thương gia đã có cơ sở hoạt động tại Việt Nam từ một năm, có doanh số thu nhập thích hợp cho kế hoạch phát triển doanh nghiệp sang Hoa Kỳ. Vì các nhà đầu tư L-1 không bị chỉ tiêu hay vốn đầu tư tối thiểu, mà hồ sơ còn được xét nhanh trong vòng vài tháng và các con dưới 21 tuổi sẽ được tháp tùng cha mẹ, theo học những chương trình công lập mà không cần trả học phí. Sử dụng loại chiếu khán L-1 là cách tốt để các công ty ngọai quốc nhỏ hơn hoặc mới thành lập một năm mở rộng hoạt động kinh doanh của họ sang Hoa Kỳ. Chiếu khán L-1 có hiệu lực trong vòng một năm đối với một công ty mới đến Hoa Kỳ. Đây là con đường mà hầu hết cá
Ủy Ban Tranh Cử Quốc Hội Đảng Dân Chủ Mở Văn Phòng, Ủng Hộ Jay Chen./ Một người Mỹ phải bán nhà đền bù cho một người Việt để trả giá cho “tội ác kỳ thị chủng tộc”./ Phương Tây khẩn cấp điều tra tin Nga 'tấn công hóa học' ở Mariupol, Ukraine./ Meta: Cuộc xâm lược của Nga thúc đẩy hiện tượng thông tin giả trên mạng./ RSF lên án việc bỏ tù hai cựu phóng viên Nhà nước vì chống tham nhũng./ Kinh tế VN: 'Chuỗi cung ứng còn gián đoạn, nhân công thiếu, giá lên khiến tăng trưởng giảm'
HOA KỲ – Các TNS đảng Dân chủ dẫn đầu thúc đẩy hợp pháp hóa cần sa cho biết họ hiện đang chuẩn bị đưa ra dự luật trước tháng 8, sau khi công bố kế hoạch cải cách toàn diện cho nó vào cuối tháng này, theo tin TheHill ngày Thứ Năm, 14 tháng 4 năm 2022.
WASHINGTON – Dustin Thompson, người tuyên bố đã làm theo lệnh của cựu Tổng thống Donald Trump khi cướp đồ trong Điện Capitol trong vụ bạo loạn năm ngoái, đã bị phán có tội, theo Reuters đưa tin ngày Thứ Năm, 14 tháng 4 năm 2022.
HOA KỲ – Người dân Hoa Kỳ đang cảm thấy sức ép của lạm phát, và nhiều người ngày càng lo ngại về một cuộc suy thoái đang cận kề, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 14 tháng 4 năm 2022.
KYIV – Soái hạm Moscow thuộc Hạm đội Biển Đen của Nga, tàu tuần dương mang tên lửa đã bị chìm sau khi “bị hư hại nghiêm trọng,” và đây là thất bại mới trong cuộc xâm lược của Moscow, theo APnews đưa tin ngày Thứ Năm, 14 tháng 4 năm 2022.
Cầu an là tâm lý phổ biến của nhân loại chứ chả riêng gì ông Tổng Bí Thư. Nhờ thế nên Vladimir Putin và Tập Cận Bình mới có cơ hội diễu võ dương oai, và lăm le muốn lấn lướt thiên hạ cho mãi đến nay. Nay thì ai cũng biết hình ảnh Gấu Nga (dữ dằn) chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và Cọp Tầu (vằn vện) chỉ là cọp giấy mà thôi, trừ đám dân Ba Đình Hà Nội.
Hàng năm cứ vào dịp 30 tháng tư, Hội Cựu Quân Nhân Hoa Kỳ "The American Legion", trạm Quân Đoàn 291 tại Newport Harbor lại tổ chức ngày chào mừng các cựu chiến binh Hoa Kỳ sau cuộc chiến Việt Nam đã trở về an toàn trên quê hương mến yêu Hoa Kỳ. Vào ngày tưởng niệm thường niên 2022 đáng nhớ này, chiếc Trực Thăng và chiếc Duyên Tốc Đỉnh (Patrol Craft Fast) 816 được dùng trong cuộc chiến Việt Nam được trưng bày tại hải cảng Newport Beach
Sáu dân cử Mỹ thăm Đài Loan bất kể Trung Quốc hù dọa. Một phái đoàn bao gồm sáu thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ do Thượng nghị sĩ Robert Menendez (Dân Chủ-NJ) người giữ chức Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, dẫn đầu đã đến phi trường Songshan lúc 7:40 giờ tối thứ Năm (14/4). Họ đã được chào đón bởi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Joseph Wu tại phi trường.
Trước cuộc xâm lược ngày 24 tháng hai chính quyền Putin đã đoan chắc rằng người dân các thành phố như Mariupol và Charkiv sẽ chào đón binh lính Nga như những người giải phóng. Các chính trị gia thân Nga đã sẵn sàng nắm quyền ở Kyiv. Tổng thống Zelensky sẽ bỏ trốn ngay khi chuông báo chuyến bay đầu tiên vang lên. Tiếc thay cho Putin, sự thật đã hoàn toàn trái ngược, cuộc chiến ở Ukraine đã không diễn ra như kế hoạch của Vladimir Putin. Hiện nay, theo các nguồn tin đáng tin cậy, 150 đặc vụ FSB đã bị sa thải và một trong những tướng điều hành cấp cao nhất đã bị nhốt trong nhà tù khét tiếng Lefortovo, các cuộc thanh trừng này gợi nhớ đến thời Stalin vào những năm 1930, theo tin từ Báo DN, Thụy Điển.
Sau 47 năm đất nước thống nhất, Việt Nam chỉ còn là chiếc áo rách tả tơi cũ mục với nợ công từ năm ngoái lên đến 17 con số “Với mức nợ công hơn 3,7 triệu tỷ đồng, mỗi người Việt hiện đang ‘cõng’ khoảng 37,7 triệu đồng...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.