Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 5940)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong sáu tuần qua, tên lửa và pháo của Nga đã phá hủy các thành phố, nhà cửa, bệnh viện và trường học của Ukraina. Nhưng chiến tranh cũng đã len lỏi tới các vùng đồng bằng màu mỡ của một khu vực được mệnh danh là vựa lúa mì của châu Âu, làm tê liệt mùa màng, phá hủy các kho đựng lúa và cây giống, đồng thời mang lại hậu quả tàn khốc đối với một quốc gia đang cung ứng một phần lớn ngũ cốc của cả thế giới.
Khi bom rơi, đạn nổ ập xuống nơi đâu thì sinh mệnh nơi đó đều chịu chung thảm trạng máu đổ, thân phơi, tan xương, nát thịt! Nạn nhân có thể không đồng loại, nhưng máu đổ ra thì cùng mầu đỏ, nước mắt trào, cùng vị mặn như nhau!
Những nước nhược tiểu lọt vào vùng tranh chấp giữa các cường quốc, nhất là lại ở cạnh môt nước lớn thường khó có khả năng chọn lựa đường lối ngoai giao theo ý muốn. Phần Lan (giáp biên giời vơi Nga) và Áo (giáp ranh với các nước thuôc khối Warsaw Pact) đều theo chính sách trung lập trong thời Chiến Tranh Lạnh để xoa dịu Liên Xô.
Thật tình Putin đang lo sợ cho số mạng của ông ta và cả ngôi vị Tổng thống mà ông đã cố công dọn sẵn chờ ông cho tới năm 2036. Trước nhứt, ông lo sợ trong nội bộ, như cựu Thủ tướng Dmitri Medvedev bị thất sủng và bị ra rìa trước thế lực của cánh «siloviki» (quân đội và an ninh), Bộ trưởng Quốc phòng Serguei và Tham mưu trưởng Valery Guerrassimov, bỗng vắng bóng, giới trí thức yêu chuộng dân chủ tự do có thái độ bất mãn....
Theo NBC News, Lãnh đạo thiểu số Hạ Viện Kevin McCarthy (Cộng Hòa-CA) sẽ phải ân hận vì đã rút các dân biểu Cộng Hòa ra khỏi Ủy Ban Hạ Viện Điều Tra Bạo Loạn 6/1/2021 sau khi Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi từ chối vài lựa chọn của McCarthy.
Chùa Hương Sen sẽ tổ chức một cuộc thi viết văn bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh về ứng dụng Phật Pháp trong đời sống hàng ngày. Mục đích của cuộc thi giải thưởng là khuyến khích việc sáng tác cá nhân, xuất phát từ nguồn cảm xúc đối với các việc xảy ra trong đời sống xã hội hàng ngày
UKRAINE Thứ Bảy ngày 9 tháng 4 năm 2022, Thủ tướng Áo Karl Nehammer và Thủ tướng Anh Boris Johnson đã đến Kyiv để gặp Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky để thể hiện sự hỗ trợ, theo tin của báo DN, Thụy điển. Trước đó Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen và Đại diện Ngoại giao EU Josep Borrell cũng đã đến thăm Kyiv vào thứ Sáu ngày 8 tháng 4 năm 2022.
Từ Rạch Giá – hôm 21 tháng 3 năm 2022 – nhà văn Thận Nhiên đã gửi đến độc giả xa gần tấm hình của người đàn ông gầy gò/đen đủi, ngồi trên chiếc xe lôi (trong một con phố nào đó) ở thị xã này. Bức ảnh tuy chỉ đơn sơ và giản dị thế thôi nhưng vẫn khiến tôi không khỏi ngậm ngùi...
Nga nói rằng các nước Liên Âu có đường biên giới với Nga và Belarus đã chận một số xe vận tải đăng bộ ở 2 nước này, không cho vào kể từ Thứ Sáu 8/4/2022 vì cớ cấm vận, theo Sở Hải Quan Nga. Sở này nói nhiều xe vận tải hàng quốc tế đang dùng số xe đăng bộ Nga và Belarus cũng bị chận như thế.
California: đang đứng đưa tiền vào máy để mua vé số cào, bất ngờ bị ai đụng mạnh, bấm nhầm nút, trúng độc đắc 10 triệu đôla. Cô LaQuedra Edwards không muốn mua vé số cào giá $30 đô. Khi đưa $40 vào máy California Lottery Scratchers ở siêu thị Tarzana tháng 11/2021 ý định chỉ mua vé số cào rẻ hơn.
Từ nhỏ đến lớn, tôi luôn nghi ngờ hai chữ “anh hùng”. Từ thơ ấu, ý nghĩa “anh hùng” đối với tôi, to tác nhưng mơ hồ. Rồi già theo tuổi, ý nghĩa này nhỏ dần, càng nhỏ càng rõ ràng. Sống đến 70 tuổi, chắc chắn đã gặp gỡ, chuyện trò, chứng kiến nhiều loại anh hùng, nhưng hầu hết, khả năng nghi ngờ của tôi khá đúng. Lần lượt các anh hùng lộ dần ra bản chất tiểu nhân (không có nghĩa người xấu, chỉ kém hơn bình thường.) Tôi dùng chữ “anh hùng” bao gồm nam nữ, trẻ già, vì tránh khỏi phải viết: chị hùng, bé hùng, cụ hùng. (Tôi đã thấy cụ hùng chống gậy ra giữa quân thù chiếm đóng làng xóm và chửi rủa thậm tệ, xem cái chết nhẹ như lông gà. Thấy chị hùng đưa dao bén lên cổ tay và thề sẽ cắt đứt mạch máu nếu chồng đi theo vợ bé. Thấy bé hùng dám đánh nhau với những đứa lớn hơn. Nhưng rồi, từ từ, họ hết hùng. Hoặc buồn thê thảm, hoặc khóc tỉ tê, hoặc đưa tay đầu hàng sau trận đòn túi bụi. Có lẽ, anh hùng chỉ xuất hiện trong giây phút hoặc giai đoạn ngắn, sau đó anh hùng bỏ thân xác ra đi,
Kể từ khi Ukraine hứng chịu cuộc xâm lược ngày 24 tháng 2 năm 2022, các thành phố lớn đã bị bao vây trong không kích và đạn pháo. Thương vong gia tăng, bạo lực leo thang, khói lửa chiến trang đã đẩy 3,7 triệu người vào cuộc sống xa xứ, gây ra cuộc khủng hoảng tị nạn nghiêm trọng nhất ở châu Âu kể từ sau Thế Chiến II. Việc ném bom vô tội vạ vào các khu đô thị, bao gồm thủ đô Kyiv, thành phố lớn thứ hai Kharkiv và thành phố cảng phía nam Mariupol, đã làm dấy lên lo ngại rằng các lực lượng Nga sẽ đi vào vết xe đổ của sự tàn phá điên cuồng, như đã từng gây ra trong các cuộc xung đột trước đây ở Chechnya và Syria. Các di sản văn hóa phong phú của Ukraine đang đứng trước nguy cơ bị thiệt hại không thể phục hồi. Các đài kỷ niệm và bảo tàng, đại diện cho nguồn ký ức và bản sắc dân tộc mạnh mẽ, đang trân mình trong bom đạn. Giao tranh đã càn quét qua các địa điểm văn hóa như Bảo Tàng Nghệ Thuật Kuindzhi ở Mariupol, Thư Viện Phục Hưng Gothic ở Chernihiv
Những bài thơ về chiến tranh của Halyna Kruk thật xót xa. Cô ấy nhặt từng nắm đất Ukraine ra khai quật những mảnh vụn đổ nát của lịch sử. Đất mẹ màu mỡ của Ukraine, được gọi là "chernozem" hoặc "đất đen", từng được trồng trọt và nuôi dưỡng bằng bàn tay và tình yêu của người nông dân Ukraine. Vựa lúa mì của châu Âu “lẽ ra” phải sản xuất ngũ cốc cho Liên Bang Xô Viết “hùng mạnh”. Đức Quốc Xã đã từng cho vùng đất này là tiềm năng “lãnh thổ”* dành cho giống dân thượng tôn thuần chủng mắt xanh. Mảnh đất đã gieo bao hoa màu này cũng từng chôn vùi biết bao đau thương của lịch sử. Như Timothy Snyder đã đề cập trong cuốn Bloodlands** 2012, "Tro cốt con người cũng bón phân."
Ca sĩ Sangeeta Kaur tức Teresa Mai đoạt Grammy cho album Mythologies. Mỹ đứng đầu về tặng vaccine COVID-19 cho Việt Nam, gần 38 triệu liều. Triều Tiên tuyên bố sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân nếu Hàn Quốc tấn công. Lần thứ 3 Biden bán vũ khí cho Đài Loan: dàn hỏa tiễn phòng không Patriot với tổng trị giá 95 triệu USD. Đức Giáo Hoàng Francis lên án quân Nga giết thường dân ở thị trấn Bucha, kêu gọi kết thúc chiến tranh ở Ukraine, đón 12 trẻ em Ukraine, tỵ nạn ở Ý. Bộ Trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Báo chí phải được giám sát 100%, giám sát toàn diện, cấm tư nhân hóa báo chí. Việt Nam lần đầu tiên có 7 tỷ phú trong danh sách của Forbes
Tại nhà hàng Paracel Seafood Restaurant 15583 Brookhurst ST, Thành Phố Westminster vào lúc 6:00 chiều Thứ Tư ngày 30 tháng 3 năm 2022, Nghị Viên Diedre Thu-Hà Nguyễn đã tổ chức tiệc gây quỹ ứng cử Dân Biểu Tiểu bang Địa Hạt 70.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.