Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6435)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cơ Quan An Toàn và Sức Khỏe Nghề Nghiệp (OSHA) của Hoa Kỳ hôm Thứ Bảy, 18 tháng 12 năm 2021, nói rằng họ sẽ bắt đầu thực thi lệnh chích thuốc ngừa của liên bang đối với các cơ sở kinh doanh có trên 100 nhân viên, và có thể bắt đầu đưa ra các trừng phạt sớm vào ngày 10 tháng 1 năm 2022, theo bản tin của Business Insider tường thuật hôm Thứ Bảy.
Cô là một trong ít nhất 10 nhà báo và nhà bình luận đầu tiên đã cố thúc giục chính quyền TQ làm rõ hơn về ảnh hưởng của vi khuẩn và bị bịt miệng bởi các viên chức đang chật vật để kiểm soát tin tức về đại dịch. Dù nhiều người khác đã được thả sau đó, Zhang vẫn bị ở tù, và gia đình, bạn bè và những người ủng hộ của cô sợ cô có thể chết trong cuộc tuyệt thực phản đối mà cô đang thực hiện để chống đối. “Cô ấy đứng lên vì sự thật, và cô ấy đứng lên vì công lý,” theo Jane Wang, nhà hoạt động có trụ sở tại Anh Quốc vận động thả Zhang, đã nói với NBC News. “Và cô tiêu biểu cho điều tốt nhất của TQ.”
Không biết nên gọi Không đứng mãi trong tranh của Lê Chiều Giang là gì cho đúng? Tùy bút? Không phải. Tản mạn? Không phải. Viết ngắn? Không phải. Thơ... Ừ, thơ. Đúng là thơ rồi. Nó cuốn hút. Nó xao xuyến. Nó ray rứt. Nhưng, thực ra thì nó có hơi hướm của một hồi ký hơn với rất nhiều những năm, những tháng, những ngày... cùng với những yêu thương, khóc giấu, khổ đau… Nhưng hình như vẫn không phải là hồi ký, tuy dàn trải cả một đời người, một kiếp người. Tôi biết mình vẫn cứ lẽo đẽo tìm theo những rêu phong của ngày tháng cũ (64). Nó trộn lẫn thơ với nhạc với họa, âm thanh và màu sắc, tưởng tượng và sự kiện. Nó tuôn chảy như một dòng sông, “yên ba giang thượng” mỗi khi chiều xuống…
Tôi gặp lại Sư Cô TRÍ HẢI ngay lần đầu về nước, tại Huế, năm 1980. Từ trong chùa Hồng Ân bước ra sân, tôi gặp Cô đang ngoài sân bước vào chùa. Tôi chấp tay cúi chào Cô. Cô chấp tay cúi chào tôi. Mười lăm năm xa cách mới gặp lại Cô, cảm động dường ấy, xôn xao nỗi này, vậy mà niềm vui như nằm yên trong hai bàn tay, tĩnh lặng như sân chùa buổi sáng. Khi tôi buông bàn tay ra, nỗi vui mới sổ lồng như chim. Cô cũng vậy, như nắng tháng tám vừa làm tan sương buổi sáng. Tôi nói: “Xin Chị tôi gọi Chị là chị lần này nữa thôi, tôi chưa quen gọi Chị là Sư Cô được”. Tôi nói thế, nhưng trong lòng tôi, tôi biết ngay từ giờ phút ấy, chị Phùng Khánh bạn tôi đã vĩnh viễn tan như sương buổi sớm dưới nắng ban mai của một đại nguyện.
Số điện thoại cầm tay mà tin nhắc được gửi đi từ đó, có được từ một người hiểu biết về cuộc điều tra, xuất hiện trong các dữ liệu được ghi danh với tên James Richard Perry của Texas, là tên đầy đủ của cựu thống đốc. Số điện thoại đó cũng được liên kết với dữ liệu thứ hai được ghi danh là địa chỉ email của Bộ Năng Lượng liên kết với Perry khi ông còn là bộ trưởng. Khi kể các sự kiện này, người phát ngôn đã không giải thích.
Palmer cho biết trong một lá thư viết tay gửi cho chánh án rằng ông cảm thấy bị phản bội bởi Trump và các đồng minh của ông là những người tuyên truyền các lý thuyết âm mưu. “Những người ủng hộ Trump đã bị dối gạt bởi những người mà vào lúc đó có quyền lực rất lớn,” theo ông đã viết trong lá thư. “Họ đã tiếp tục tung ra các câu chuyện sai sự thật về một cuộc bầu cử bị đánh cắp và ‘nhiệm vụ của chúng tôi’ là làm cách nào để đứng lên chống lại chính thể chuyên chế.” Palmer nói rằng thật là bất công rằng ông đã bị trừng phạt rất nặng nề trong khi những kẻ đầu sỏ thì không bị ngồi tù.
“Đối với những người không chích ngừa, các bạn đang chờ đợi mùa đông của bệnh tật trầm trọng và chết chóc, cho chính bạn, cho gia đình bạn, và các bệnh viện mà bạn sẽ sớm làm tràn ngập,” theo người điều hợp đối phó vi khuẩn corona của Bạch Ốc Jeff Zients cho biết hôm Thứ Sáu. Biến thể mới đã “tràn đầy” tại Thành Phố New York, theo Thị Trưởng Bill de Blasio cho biết, với các trường hợp mới đạt kỷ lục một ngày hơn 8,300 hôm Thứ Năm. Nhưng số người mới vào bệnh viện và tử vong – tính đến nay – vẫn còn thấp hơn mức cao điểm mùa xuân 2020 và ngay cả cùng thời điểm này năm ngoái, theo tài liệu thành phố cho thấy.
Cơn bão rất lớn có tên Rai, hay cơn bão số 9, từ Phi Luật Tân đang tiến vào các tỉnh ven biển Miền Trung Việt Nam nhắm tới các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa, mà sức gió mạnh nhất ở cấp 17 khiến cho chính quyền nhiều tỉnh Miền Trung đang dự định di tản khoảng 240,000 người để tránh bão, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Sáu, 17 tháng 12 năm 2021.
Kinh nghiệm chính trị đầu tiên của tôi là khi còn là một thiếu niên làm việc trong văn phòng tranh cử của ứng viên tổng thống Adlai Stevenson. Tôi đã thường xuyên suy ngẫm về những câu nói của ông ta rằng công việc của một dân cử hay công chức là “làm việc một cách công bình” và “bước đi một cách khiêm tốn”. Tôi đã cố gắng sống theo những câu nói này trong suốt cuộc hành trình của mình.
Một chánh án tại Delaware hôm Thứ Năm ra phán lệnh rằng 1 đơn kiện do Dominion Voting Systems nộp để kiện đài Fox News có thể tiến hành bất kể Fox News xin bác đơn kiện. Công ty Dominion nói rằng đài Fox News liên tục bịa đặt về máy bầu phiếu Dominion, nên kiện đòi Fox News bồi thường $1.6 tỷ đôla.
Các thử nghiệm kháng nguyên nhanh được thiết kế để khám phá một phần của protein – được biết như là một kháng nguyên – của SARS-CoV-2. Trước hết, bạn lấy một mẫu từ mũi hay miệng với que bông gòn, như được hướng dẫn. Bạn trộn mẫu này với chất lỏng để tách rời vi khuẩn ra. Rồi bạn thoa chất lỏng lên que thử nghiệm có các kháng thể đặc biệt cho SARS-CoV-2 đã vẽ lên đó một đường mỏng. Các kháng thể là những protein hình chữ Y nhận dạng và bao vây những chất lạ như các kháng nguyên. Nếu những kháng thể bao vây các protein vi khuẩn, hay các kháng nguyên, thì đường màu xuất hiện trên que thử, cho thấy sự có mặt của SARS-CoV-2. Các thử nghiệm này là tiện lợi bởi vì chúng sẽ sử dụng và cung cấp các kết quả nhanh chóng, thường trong vòng 15 phút. Lợi ích khác là các thử nghiệm kháng nguyên có thể tương đối rẻ, khoảng từ $10 tới $15 mỗi thử nghiệm. Ngược lại, các thử nghiệm PCR thường đòi hỏi dụng cụ phòng thí nghiệm và các chuyên viên kỹ thuật, mất từ 12 giờ tới nhiều ngày để có các kết quả
SCE đang cung cấp khoản hồi phí $1,000 thông qua chương trình Hồi phí Dành Cho Xe Điện Đã Qua Sử Dụng của mình cho những khách hàng tư gia mua hoặc thuê một chiếc xe điện đã qua sử dụng. Nhưng công ty điện hiện đã tăng khoản hồi phí gấp bốn lần cho những khách hàng sống trong một hộ gia đình hội đủ điều kiện về thu nhập do tiểu bang chỉ định hoặc những khách hàng đang tham gia một số chương trình hỗ trợ thu nhập nhất định của tiểu bang hoặc liên bang.
Tin vui trong tuần qua là các hãng dược Merck và Pfizer đã chế ra thuốc viên để trị Covid-19 làm cho mọi người hy vọng rằng đại dịch rồi sẽ qua đi. Trong lúc đó chính quyền CSVN vẫn phô bày bộ mặt của một chế độ độc tài đảng trị và chà đạp tự do dân chủ qua hai bản án nặng nề dành cho các nhà bất đồng chính kiến Phạm Đoan Trang và Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm.
Sách lược hai mặt đối đầu với hai đại cường Nga-Hoa của Mỹ ngày nay không khác sách lược thời Tam Quốc khi Quan Vân Trường vâng lời Gia Cát Lượng trấn giữ Kinh Châu. Đó là nhận định của tác giả Đào Văn Bình qua bài phân tích và bình luận thời cuộc thế giới dưới đây. Kính mới bạn đọc theo dõi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.