Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6614)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tòa án có trụ sở tại Cincinnati được chọn hôm Thứ Ba trong một cuộc rút thăm ngẫu nhiên bằng việc sử dụng trái bóng bàn, một tiến trình được áp dụng khi các thách thức đối với một số hành động của cơ quan liên bang bị kiện tại nhiều tòa án. Việc chọn lựa có thể là một tin tốt cho những người thách thức yêu cầu chích thuốc ngừa của chính phủ, gồm các viên chức tại 27 tiểu bang do Cộng Hòa lãnh đạo, các công ty và nhiều tổ chức bảo thủ và kinh doanh. Họ cho rằng Cơ Quan An Toàn và Sức Khỏe Nghề Nghiệp Hoa Kỳ (OSHA) không có thẩm quyền để đưa ra lệnh.
Hãng thuốc Pfizer đã yêu cầu các nhà giám sát Hoa Kỳ hôm Thứ Ba, 16 tháng 11 năm 2021, trao thẩm quyền sử dụng thuốc viên thử nghiệm để trị Covid-19, tạo tiền đề cho khả năng trình làng vào mùa đông này một cách điều trị đầy hứa hẹn mà có thể được thực hiện tại nhà, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Ba. Hồ sơ của công ty đến vào lúc các vụ truyền nhiễm mới đang gia tăng trở lại tại Hoa Kỳ, chủ yếu bởi các điểm nóng tại nhiều tiểu bang nơi mà thời tiết lạnh hơn đang khiến cho người Mỹ ở trong nhà nhiều hơn.
Trong chế độ Cộng sản Việt Nam, có 2 thành phần trí thức: Trí thức sáng suốt và trí thức u mê. Đội ngũ trí thức sáng suốt khan hiếm, biết chọn cái đúng và việc cần làm. Nhưng thành phần trí thức u mê thì đông, là công bộc, sống chết với đảng; đảng bảo đâu đánh đó, nhiều khi không cần tiêu chuẩn luân thường đạo lý. Ngược lại, trí thức có bản lĩnh, có lập trường rành mạch thì biết đặt quyền lợi chung trên lợi ích cá nhân và biết chọn cái đúng đánh chết cái sai, không sợ bị trù dập.
Trung Quốc chào mừng cuộc đối thoại thực sự giữa Chủ Tịch Tập Cận Bình và Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden như một dấu hiệu hy vọng cho mối liên hệ tốt đẹp hơn trong tương lai, trong khi đó Hoa Kỳ thì khá im lặng giữa lúc hai vị lãnh đạo của hai siêu cường tìm cách giảm bớt căng thẳng kéo dài đã hơn một năm.
Nhằm giúp ngăn cản sự lây lan của căn bệnh đang tàn phá hủy hoại giống cây có múi cam quýt, căn bệnh rầy Huanglongbing (HLB), đe dọa giống cây có múi cam quýt được ưa chuộng ở California, hàng ngàn con côn trùng nhỏ bé có tên gọi là Tamarixia radiata được thả vào các khu dân cư trong quận Los Angeles, Orange, San Bernardino, San Diego và Ventura County tuần này nhằm giảm số lượng quần thể của loại rầy chổng cánh Á Châu ( Asian citrus psyllid hay ACP) – loại rầy gây ra căn bệnh này.
17 tháng Mười Một là Ngày Lễ Nhận Thức về Lừa Đảo Tiền Tiện Ích và Southern California Edison có những lời khuyên cho khách hàng để cảnh giác, đặc biệt là trong những ngày lễ.
Sau hơn một năm không đi chơi xa, vì dịch Covid-19, nên khi các tiểu bang gỡ bỏ giới hạn chúng tôi rủ nhau du lịch nội địa. Nhiều người thân quen đi chơi Hawaii hay Cancún bên Mexico, chúng tôi chọn Miami, Florida. Cả tháng trước đã mua vé máy bay, đặt chỗ ở và thuê xe. Đến giữa tháng Tám có thông tin Covid biến chủng Delta đang lây lan nhanh. Đã có thuốc tiêm chủng nên số người nhập viện và chết không cao như hồi đầu năm, trên 90% tử vong là những người đã không chích ngừa.
“Dường như trách nhiệm của chúng ta là những lãnh đạo của TQ và Hoa Kỳ là bảo đảm rằng sự cạnh tranh giữa các quốc gia của chúng ta không trở chiều thành xung đột, cho dù là cố tình hay vô ý, đúng hơn chỉ đơn giản là sự cạnh tranh thẳng thắn,” theo Biden phát biểu lúc bắt đầu cuộc họp. Tập nói với Biden rằng hai bên cần cải thiện sự thông truyền. Hai nhà lãnh đạo đã đi chung với nhau khi cả hai còn là phó tổng thống, phó chủ tịch và quen biết nhau rất rõ. “Tôi đã sẵn sàng để làm việc với bạn, thưa Ông Tổng Thống, để xây dựng sự đồng thuận, thực hiện các bước và chuyển vận các mối quan hệ Trung-Mỹ hướng tới chiều hướng tích cực,” theo Tập, người gọi Biden là “bạn cũ” của ông ấy.
Bannon, 67 tuổi, đã đầu hàng vào đầu ngày với các nhân viên FBI. Ông đã bị truy tố hôm Thứ Sáu về 2 tội danh liên bang về tội hình khinh thường – một vì từ chối xuất hiện cho lời khai trước quốc hội và một khác vì từ chối cung cấp các tài liệu để đáp ứng với trát đòi của ủy ban. Chánh Án Liên Bang Robin Meriweather đã thả ông ra mà không phải trả tiền thế chân nhưng đòi hỏi ông phải kiểm tra hàng tuần với các viên chức tòa án và ra lệnh cho ông phải nạp hộ chiếu. Nếu bị kết tội, Bannon sẽ đối diện tối thiểu 30 ngày tù và tối đa 1 năm tù cho mỗi tội, theo các công tố cho biết.
Tổng Thống Joe Biden đã ký thành luật thỏa thuận hạ tầng cơ sở trị giá 1,200 tỉ đô la phải tranh đấu khó khăn mới thành hôm Thứ Hai, 15 tháng 11 năm 2021 trước một đám đông các chính khách lưỡng đảng trên sân cỏ Bạch Ốc, tuyên bố rằng rót tiền mặt mới cho đường sá, cầu cống, hải cảng và nhiều thứ khác sẽ làm cho cuộc sống “thay đổi tốt đẹp hơn” cho người dân Mỹ, theo Hãng Thông Tấn Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Hai, 15 tháng 11 năm 2021. Nhưng viễn tượng là khó khăn cho sự hợp tác lưỡng đảng thêm nữa trước cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2022 khi Biden quay trở lại các thương lượng khó khăn hơn đối với gói chi tiêu xã hội 1.85 ngàn tỉ đô la rộng lớn hơn của ông.
Thêm một Facebooker nữa là ông Nguyễn Trí Gioãn hôm 15 tháng 11 năm 2021 đã bị tòa án CSVN tại tỉnh Khánh Hòa kết án 7 năm tù vì tội danh “làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,” theo theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do (RFA) tường thuật hôm Thứ Hai, 15 tháng 11 năm 2021.
Hội Sức Khỏe Tâm Thần Việt - Mỹ Quận Cam Tổ Chức Ngày Đi Bộ Cho Tâm Vui, Thân Mạnh và cho một nghĩa cử Nhân Ái. Buổi đi bộ được tổ chức vào lúc 7 giờ sáng Chủ Nhật ngày 14 tháng 11 năm 2021 tại Mile Square Park, với sự tham dự của: Bà Anh Đào Hội Trưởng Hội Sức Khỏe Tâm Thần, ông Joseph Thái, một trong những thành viên sáng lập hội, hiện tại ông phụ trách về truyền thông, báo chí, quảng bá tin tức về những sinh hoạt của hội và một số các thành viên thiện nguyện viên trong hội.
Không chỉ có các lãnh vực nghiên cứu mới, mà còn là quốc gia xa xôi và nền văn hóa của họ khiến cho một học kỳ ở nước ngoài hoặc thậm chí là toàn bộ khóa học trở nên thú vị đối với những người trẻ tuổi. Theo đánh giá về các tìm kiếm của Google trên toàn thế giới, một quốc gia đặc biệt được nhiều người quan tâm: Canada.
Nhân lễ Bổn mạng Ca đoàn Cecilia Chicago và cũng là sinh nhật kỷ niệm 35 năm ngày thành lập ca đoàn tại Cộng đoàn Công giáo Mân Côi (1986-2021), Huynh Trưởng Nghĩa Sinh đã chuyển lời chúc mừng sinh nhật của ca đoàn và kính lời chúc mừng lễ Bổn mạng của ca đoàn với trọn vẹn 35 năm “Vinh danh và Ca nguyện.” Vinh danh là những bản thánh ca được hát nhằm tôn vinh Chúa và thánh hóa cộng đoàn dân Chúa. Ca nguyện là những bản thánh ca được hát để cầu nguyện và giúp giáo dân cầu nguyện sốt mến hơn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.