Hôm nay,  

Song ngữ: Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng // Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

06/01/202508:53:00(Xem: 6623)
blank
 
Nghi Phật, Tin Phật Đều Hỏng

Nguyên Giác

Bài này sẽ viết trong tinh thần đối chiếu Kinh Pháp Cú với Thiền Tông. Để nói lên một phương pháp của Thiền rằng, trong khi thiền tập, hễ tin Phật hay nghi Phật đều sẽ hỏng, đều rơi vào bất thiện pháp, sẽ không thấy được pháp Vô Vi.

Muốn vào đạo Phật, trước tiên phải tin và phải quy y Phật, Pháp, và Tăng. Người tu theo lời Phật dạy phải tin vào Tứ Thánh Đế, tức là  Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Trong khi tu tập, người tu phải  thành tựu tín, giới, văn, thí, huệ mới có thể đoạn trừ bất thiện pháp. Như vậy, người không có lòng tin chắc thật vào Đức Phật sẽ không đi được con đường dài như thế để thành tựu giải thoát.

Lòng tin là cửa đầu tiên để vào đạo, để thực hành pháp. Tại sao có thiền sư nào nói rằng tin Phật sẽ hỏng? Thậm chí có vị còn nói là gặp Phật thì hãy giết Phật. Nhưng cần phải thấy rõ, hễ nghi Phật là tự mình cắt đứt lối vào, là vi phạm ba lời quy y. Trong Thiền Tông, nhiều vị thầy nói rằng người tu phải từ cửa nghi để hiểu đạo, và để vào đạo. Bởi vì đại nghi mới đại ngộ. Sao lại có chuyện như thế? Vấn đề là ngôn ngữ không mô tả được các trạng thái tâm thức cần thiết. Bởi vì, khi các thiền sư nói cần sự nghi ngờ, thì nhiều thiền sư đó cũng đã có lòng tin sâu dày nơi Đức Phật và có nhiều thập niên giữ khối tin và cả nghi trong tâm.

Nên thấy rằng, cái nghi mà một thiền sư Trung Hoa hay Việt Nam nói, không phải là sự nghi ngờ đơn giản về Đức Phật. Chúng ta có thể dẫn Kinh Pháp Cú, tích truyện 97 ra để ghi nhận rằng, trong tích này, 30 vị sư đã nói rằng ngài Sariputta có sự nghi ngờ Đức Phật, không đủ lòng tin Đức Phật. Điều này xảy ra trong khi ngài Sariputta đã thành tựu giải thoát, và là một trong hai đại đệ tử hàng đầu của Đức Phật.

Chúng ta khảo sát trường hợp này, để sẽ thấy rằng đối với người tu thiền, thì ngay trong khi thiền tập, hễ khởi lòng tin Phật hay khởi lòng nghi Phật đều hỏng. Bởi vì tâm của người tu lúc thiền tập phải lìa bất kỳ tiến trình lý luận nào có thể dẫn tới một kết luận rằng phải thế này hay phải thế kia. Chỉ có luận sư mới đi theo tiến trình lý luận để tới kết luận rằng phải tin Phật hay nghi Phật. Thiền sư chân thực sẽ không rơi vào kết luận nào hết, do vậy không dính vào tin Phật hay nghi Phật.

Chỉ đơn giản là, khi ngài Sariputta hướng dẫn 30 vị sư kia thiền tập về các căn, ngài không đặt vấn đề là tin hay nghi. Thiền về các căn, có nghĩa là về những gì được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường. Nơi sáu căn, các sư phải thấy vô thường, khổ, vô ngã. Trong khi các Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam nói rằng phải nhìn vào khối nghi, tức là nhìn vào cái được tư lường, tức là nhìn vào tự tâm, sẽ thấy trận gió vô thường đang cuốn trôi tất cả các pháp trong tâm.

Câu chuyện trong Pháp Cú tóm tắt như sau. Khi cư trú tại tu viện Jetavana, Đức Phật đã nói Bài kệ 97 của Kinh Pháp Cú. Ba mươi nhà sư từ một ngôi làng đã đến tu viện Jetavana để tỏ lòng tôn kính Đức Phật. Đức Phật biết rằng thời điểm đã chín muồi để các vị sư này đạt được quả vị A-la-hán. Vì vậy, ngài đã cho gọi Sariputta đến, và trước sự hiện diện của những vị sư đó, Đức Phật đã hỏi, "Này Sariputta, con có chấp nhận sự thật rằng bằng cách thiền định về các căn, người ta có thể chứng ngộ Niết bàn không?"

Ngài Sariputta trả lời, "Bạch Thế Tôn, trong việc chứng ngộ Niết bàn bằng cách thiền định về các căn, không phải là con chấp nhận điều đó vì con có đức tin vào Ngài; chỉ những người chưa đích thân chứng ngộ mới chấp nhận sự kiện đó từ lời người khác."

Câu trả lời của Sariputta không được 30 nhà sư hiểu đúng. Họ nghĩ rằng, "Sariputta vẫn chưa từ bỏ tà kiến. Ngay cả bây giờ, Sariputta vẫn chưa có đức tin vào Đức Phật."

Sau đó, Đức Phật giải thích cho họ ý nghĩa thực sự của câu trả lời của Sariputta. "Các sư, câu trả lời của Sariputta chỉ đơn giản như thế này; Sariputta chấp nhận sự thật rằng Niết bàn được chứng ngộ thông qua thiền định về các căn, nhưng sự chấp nhận của Sariputta là do sự chứng ngộ của chính Sariputta chứ không chỉ vì ta đã nói điều đó hoặc ai đó đã nói điều đó. Sariputta có đức tin vào ta; Sariputta cũng có niềm tin vào hậu quả của những việc làm tốt và xấu."

Sau đó, Đức Phật nói bằng bài kệ như sau, theo tổng hợp các bản dịch của Thầy Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, Bhante Suddhāso:

Bài kệ 97Người đã vượt qua đức tin, đã chứng ngộ Vô Vi, đã cắt đứt mọi ràng buộc tái sinh, đã loại bỏ các hậu quả của những việc làm tốt và xấu, đã rời bỏ ham muốn, chắc chắn là người tối thượng.

Khi Đức Phật nói xong, tất cả các vị sư đó đã đạt được quả vị A la hán. Như thế, Đức Phật nói rằng người tu phải vượt qua đức tin đơn giản, và phải  chứng ngộ pháp Vô Vi.

Chữ Vô Vi này có nghĩa là xa lìa các duyên, và là không hề được tạo ra. Bạn có thể tới rất gần với Vô Vi, nếu bạn nhìn vào tâm bạn, và liên tục nhìn thấy cái tâm biết cái-không-biết. Nghĩa là, bạn biết rằng bạn đang nhìn vào cái tâm của sự không biết. Bởi vì như thế là tâm bạn là bầu trời rỗng rang, không hạn cuộc, không rơi vào bất kỳ kết luận nào. Lúc đó, bạn sẽ không rơi vào một kết luận nào, không mơ tưởng nào, không ước muốn nào.

Trong cái tâm không biết này, không có tham sân si. Bạn liên tục nhìn vào tâm không biết này, bạn thấy sẽ không có niệm nào khởi lên, vì nơi đây là dòng sông vô thường trôi chảy, cuốn sạch hết những gì khởi lên. Nhiều vị thiền sư gọi cái thấy vô thường trôi chảy trong tâm đó là nghi tâm. Chữ “nghi” là một cách mô tả không chính xác, chỉ nên nói rằng tâm này là tâm đã xa lìa mọi kết luận.

Ngay khi bạn thấy rằng “không hề có cái tôi nào đang tin hay đang nghi” thì lúc đó bạn sẽ thấy không có cái “tôi là” và cũng không có cái “tôi không là”... Lúc đó, bạn không thấy trong tâm hiện lên cả tín tâm và nghi tâm.  Bạn xa lìa cả cái có và không, chỉ bằng cách nhìn vào tâm lúc đó. Đó là tại sao 30 vị sư kia sau khi nghe Đức Phật nói, họ thấy rằng họ xa lìa niềm tin, họ ngó vào tâm thấy cái Vô Vi, cái không hề do bất cứ gì kiến tạo lên. Đó là tâm giải thoát.

Ngài Sariputta nói hãy xa lìa niềm tin để thiền định về các căn, nơi đó sẽ có pháp vô vi được nhận ra. Tương tự, các thiền sư Trung Hoa và Việt Nam cũng nói rằng hãy xa lìa niềm tin, mà chúng ta đôi khi gọi là hãy nghi, nhưng chính xác là hãy dùng chữ “thấy tâm không biết” thì sẽ có pháp vô vi nhận ra. Trong cái tâm này, không gọi là tin và cũng không gọi là nghi. Tất cả ngôn ngữ đều tịch lặng, vì chữ không còn hiện ra trong tâm này nữa.

.... o ....

Doubting Buddha and Believing Buddha Are Failing

Written and translated by Nguyên Giác

 
This article aims to compare the Dhammapada with Zen Buddhism. It will explore the idea that during meditation, both belief in the Buddha and doubt about the Buddha can lead practitioners astray, resulting in unwholesome dharmas and an inability to perceive the Dharma of Unconditioned.

To enter Buddhism, one must first believe in and take refuge in the Buddha, the Dharma, and the Sangha. Practitioners of the Buddha's teachings must embrace the Four Noble Truths: Suffering, Origin, Extinction, and the Path. In the course of practice, individuals must cultivate faith, morality, knowledge, generosity, and wisdom to eliminate unwholesome dharmas. Therefore, those who lack genuine faith in the Buddha will find it challenging to embark on the long journey toward liberation.

Faith is the first step on the path to practicing the Dharma. Why do Zen masters claim that believing in the Buddha can be detrimental? Some even assert that if you encounter the Buddha, you should kill the Buddha. However, it is essential to recognize that doubting the Buddha is akin to closing off your own entrance and violating the three refuges. In Zen, many masters emphasize that practitioners must navigate through the door of doubt to truly understand and enter the path, as profound doubt can lead to profound enlightenment. Why is this the case? The challenge lies in the fact that language often fails to convey the necessary states of mind. When Zen masters advocate for doubt, many of them have already cultivated a deep faith in the Buddha and have maintained a balance of both faith and doubt in their minds for decades.

It's crucial to realize that the doubt a Chinese or Vietnamese Zen master mentioned wasn't just about the Buddha himself. The Dhammapada, specifically story 97, records thirty monks claiming Sariputta harbored doubts about the Buddha and lacked sufficient faith in him. This assertion is particularly striking considering that Sariputta had already attained liberation and was one of the Buddha's two foremost disciples.

We examine this case to illustrate that for a practitioner, even during meditation, harboring faith in the Buddha or experiencing doubts about the Buddha constitutes a failure. The practitioner's mind during meditation must be free from any reasoning processes that could lead to conclusions, whether affirming or negating. Only a master of reasoning would engage in such processes to arrive at the conclusion that one must either believe in or doubt the Buddha. A true Zen master transcends all conclusions and, therefore, remains uninvolved in faith or doubt regarding the Buddha.

Simply put, when Venerable Sariputta instructed the other thirty monks to meditate on the senses, he did not address the concepts of belief or doubt. Meditating on the senses involves focusing on what is seen, heard, smelled, tasted, touched, and thought about. Through the six senses, the monks must recognize impermanence, suffering, and non-self. While Chinese and Vietnamese Zen masters emphasize the importance of examining the mass of doubt—essentially, reflecting on one's thoughts and the mind itself—this introspection reveals the winds of impermanence sweeping away all the dharmas within the mind.

The story in the Dhammapada is summarized as follows: While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke Verse 97 of the Dhammapada. Thirty monks from a nearby village came to Jetavana to pay homage to the Buddha. The Buddha recognized that the time was ripe for these monks to attain arahantship. Therefore, he summoned Sariputta, and in the presence of those monks, the Buddha asked, "Sariputta, do you accept the truth that by meditating on the senses, one can realize Nibbana?"

Venerable Sariputta replied, "Venerable, sir, in realizing Nibbana through the meditation on the senses, I do not accept it solely based on my faith in you; rather, it is only those who have not personally experienced it who accept that truth from the words of others."

Sariputta's response was misunderstood by the thirty monks. They believed, "Sariputta has not yet relinquished his erroneous views. Even now, Sariputta still lacks faith in the Buddha."

The Buddha then explained to them the true meaning of Sariputta's response. "Monks, Sariputta's answer is simply this: he acknowledges that Nibbana is attained through meditation on the senses. However, Sariputta's acceptance stems from his own realization, not merely because I said so or someone else did. Sariputta has faith in me, and he also believes in the consequences of good and bad deeds."

Then the Buddha spoke in verse as follows, according to the translations by Venerable Minh Châu, Bhikkhu Sujato, Bhikkhu Ānandajoti, and Bhante Suddhāso.

Verse 97: He who is not credulous, who has realized the Unconditioned (Nibbana), who has cut off the links of the round of rebirths, who has destroyed all consequences of good and bad deeds, who has discarded all craving, is indeed the noblest of all men (i.e., an arahat). (Translated by Daw Mya Tin)

After listening to the Buddha, all the monks attained the fruit of Arhatship. Therefore, the Buddha emphasized that practitioners must transcend mere faith and truly understand the Dharma of Unconditioned.

The term Unconditioned -- or Unmade or Uncreated -- refers to a state that is free from conditions and is not the result of creation. You can approach Unconditioned by examining your mind and consistently observing the awareness of unknowing. In this state, you recognize that you are contemplating the thought of not knowing.  Consequently, your mind becomes like an empty sky—limitless and free from any conclusions. In this way, you will avoid falling into conclusions, dreams, or desires.

In a mind that embraces not-knowing, there is no greed, anger, or delusion. When you continuously observe this state of not knowing, you will notice that no thoughts arise, for it is akin to a flowing river of impermanence, washing away everything that comes into being. Many Zen masters refer to this fluid perspective of impermanence in the mind as the mind of doubt. However, the term “doubt” is a misleading characterization; it would be more accurate to describe this mind as one that has relinquished all conclusions.

As soon as you see that there is no self that is believing or doubting, then you will see that there is no “I am” and there is no “I am not." At that moment, you will transcend the duality of belief and doubt. By examining the mind at that time, you will find yourself distanced from both existence and non-existence. After listening to the Buddha, the thirty monks discovered their detachment from belief, turned their attention inward, and perceived the Unconditioned, which is not created by anything. This realization leads to a liberated mind.

Venerable Sariputta instructed the monks to relinquish faith and meditate on the senses, where the Unconditioned can be realized. Similarly, Chinese and Vietnamese Zen masters have also advised abandoning faith, which we sometimes refer to as doubt. However, to be precise, it is about perceiving the mind of not knowing; in doing so, the Unconditioned will be realized. In this state of mind, there is neither faith nor doubt. All language becomes silent, as words no longer manifest in this mind.

.... o ....
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân lễ Bổn mạng Ca đoàn Cecilia Chicago và cũng là sinh nhật kỷ niệm 35 năm ngày thành lập ca đoàn tại Cộng đoàn Công giáo Mân Côi (1986-2021), Huynh Trưởng Nghĩa Sinh đã chuyển lời chúc mừng sinh nhật của ca đoàn và kính lời chúc mừng lễ Bổn mạng của ca đoàn với trọn vẹn 35 năm “Vinh danh và Ca nguyện.” Vinh danh là những bản thánh ca được hát nhằm tôn vinh Chúa và thánh hóa cộng đoàn dân Chúa. Ca nguyện là những bản thánh ca được hát để cầu nguyện và giúp giáo dân cầu nguyện sốt mến hơn.
Sau khi Hòa Thượng Thích Quảng Thanh viên tịch ngày 9 tháng 6/2019, công việc quản trị và điều hành Chùa Bảo Quang (tên pháp lý còn là: Vietnamese American Buddhist Center) tại địa chỉ 713 N Newhope St, Santa Ana, CA. đã dẫn tới tranh chấp. Ai sẽ có quyền hợp pháp để điều hành và kiểm soát Chùa Bảo Quang? Tranh chấp pháp lý trước tòa đã kéo dài gần 2 năm. Bây giờ đã có phán lệnh của Chánh án Fred W. Slaughter.
Công ty của Trump là Trump Organization đã đạt được thỏa thuận với quỹ đầu tư CGI Merchant Group để mua hợp đồng Khách Sạn Trump International Hotel tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, với giá 375 triệu đô la, theo một người biết rõ vấn đề này cho biết qua bản tin của CNN hôm Chủ Nhật, 14 tháng 11 năm 2021. Nhóm có trụ sở tại thành phố Miami, Florida được dự đoán sẽ gỡ bỏ tên Trump khỏi tòa nhà trang trí công phu nằm cách Bạch Ốc đi bộ một lát và đang hợp tác với Hilton Worldwide Holdings để xây dựng thương hiệu Waldorf Astoria, theo người thạo tin nói trên cho biết.
Lạm phát đe dọa làm chậm chương trình nghị sự của Tổng Thống Joe Biden, và Đảng Cộng Hòa nói rằng điều đó sẽ giúp họ xóa bỏ thế đa số của Dân Chủ tại Quốc Hội, theo bản tin của NBC News tường thuật hôm Chủ Nhật, 14 tháng 11 năm 2021. “Cuộc bầu cử vào năm tới sẽ là cuộc trưng cầu dân ý về giá cả hàng hóa, và bạn có thể dự đoán những người thách thức Đảng Cộng Hòa sẽ nói ít về điều khác từ bây giờ tới đó,” theo John Ashbrook, đồng sáng lập của công ty công vụ Cavalry và là cựu phụ tá Lãnh Tụ Cộng Hòa tại Thượng Viện Mitch McConnell, Cộng Hòa-Kentucky. Từ những hộp trứng tới xe cũ, giá cả đang gia tăng với những người tiêu thụ đầy xúc cảm đã chưa từng thấp trong nhiều thập niên, ngay cả lãi suất cũng tăng. Dù bức tranh toàn thể là sáng sủa – kinh tế đang phát triển và có thêm việc làm – một số nhà Dân Chủ lo ngại rằng các cử tri sẽ chú ý nhiều vào giá cả đắt đỏ của một bình sữa hơn là các chiều hướng của kinh tế vĩ mô.
Lễ kính 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam cũng là Bổn Mạng Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam, Giáo Phận Orange đã được long trọng tổ chức vào sáng Thứ Bảy, ngày 13 tháng 11 năm 2021 tại thánh đường Saint Columban, 10801 Stanford, Garden Grove, CA 92840. Trước khi thánh lễ bắt đầu,vào lúc 9 giờ 30 sáng, 16 Cộng đoàn Việt Nam trong giáo phận Orange đã cung nghinh thánh tượng Chúa Giêsu, Đức Mẹ và kiệu xương Thánh Tử Đạo đi quanh khuôn viên thánh đường. Đoàn rước đông đảo gồm nhiều hội đoàn cấp Cộng Đồng và Cộng Đoàn, các nữ tu và giáo dân, vừa trang nghiêm đi rước kiệu vừa hát thánh ca tôn vinh Chúa, Đức Mẹ và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.
Đó là ước tính được thực hiện bởi Feeding America, cơ quan điều hợp công việc của họn 200 ngân hàng thực phẩm trên khắp nước Mỹ, nhấn mạnh đến việc thiếu thực phẩm dài hạn đã lan rộng vào mọi khía cạnh của đời sống người Mỹ, gồm quân đội như thế nào. Phạm vi chính xác của vấn đề là đề tài tranh luận, vì thiếu nghiên cứu chính thức. Nhưng các nhà hoạt động nói rằng nó đã hiện hữu qua nhiều năm và chủ yếu ảnh hưởng các binh sĩ ở cấp thấp – từ E1 tới E4 trong cách nói của quân đội – với trẻ em. “Đó là một sự thật gây sốc mà được biết với nhiều ngân hàng thực phẩm khắp Hoa Kỳ,” theo Vince Hall, quan chức liên hệ chính quyền của Feeding America, cho biết. “Đây phải là nguyên nhân của sự lúng túng sâu xa.”
Trận đánh nhau kéo dài giữa các băng đảng thù địch nhau bên trong nhà tù lớn nhất của Ecuador đã giết chết ít nhất 68 tù nhân và làm bị thương 25 người khác hôm Thứ Bảy, 13 tháng 11 năm 2021, trong khi các giới chức chính quyền nói rằng những cuộc đụng độ vẫn chưa được kiểm soát nhiều giờ sau đó tại Nhà Tù Litoral, mà gần đây đã chứng kiến một cuộc tắm máu trong nhà tù tồi tệ nhất của đất nước này, theo Hãng Tin Mỹ AP tường thuật hôm Thứ Bảy.
Chảy nước mắt sau 2 tuần lễ dài, và theo sau cuộc chạy đua thảo luận thâu đêm Thứ Sáu, Sharma đã chính thức hóa thỏa thuận với việc đập búa. Ông tuyên bố bằng miệng tu chính theo yêu cầu của Ấn Độ, thay đổi văn bản để dùng chữ “giảm” than đá thay vì dùng chữ “loại bỏ” vì bị Ấn Độ chống đối. Thế giới cần cắt giảm tỉ lệ thải khí nhà kính ở mức 27 tỉ tấn khối một năm để hạn chế việc hâm nóng toàn cầu ở mức 1.5 độ C vào năm 2030, theo các dự đoán bởi Climate Action Tracker. Nhưng các cam kết hiện nay, gồm những điều đã đạt được tại COP26, chỉ đạt tới ¼ đường tới mức đó.
Tất cả hành động tốt và xấu đều tạo thành Nghiệp luôn cả thiện và bất thiện. Nghiệp ám chỉ những hành động được thúc đẩy bởi ý định, một hành động được thực hiện có chủ ý thông qua thân, khẩu hoặc ý. Nghiệp tuy không có hình tướng cụ thể, nhưng nghiệp có khả năng khiến cho con người phải khốn khổ.
Kính bạch chư Tôn Đức, Kính thưa quý đồng hương, quý Phật tử xa gần. Để giúp Ban Tổ Chức Đại Hội Hội Đồng Hoằng Pháp lần I năm 2021 dễ dàng trong việc quản lý hệ thống mạng, xin quý Đại biểu, quý Tham dự viên lưu ý những điểm sau đây.
“Bạn từ đâu đến” ? (“Where do you come from” ?) là câu hỏi mà tôi vẫn thường nghe trong những tháng ngày lưu lạc. Dù tha hương gần cả cuộc đời, tôi luôn luôn đáp rằng mình từ nước Việt: I’m from Vietnam! Nếu trả lời khác đi và đúng với thực trạng (I’m from California) thì rất có thể tôi sẽ nhận được ánh mắt, cùng với nụ cười thân thiện hơn của tha nhân. Tuy biết vậy nhưng tôi không muốn chối bỏ quê hương, dù không hãnh diện gì (lắm) về cái đất nước khốn cùng mà mình đã đành đoạn bỏ đi từ khi tóc hãy còn xanh.
Trước đó ông đã nhắc đến tỉ lệ chích ngừa toàn quốc “thấp đáng xấu hổ,” và ngụ ý rằng biện pháp sẽ được thực hiện trong vài ngày. “Tại nhiều nước khác tỉ lệ cao hơn rất nhiều – thật là xấu hổ khi chúng ta có đủ thuốc chích ngừa,” theo Schallenberg phát biểu trong một cuộc họp báo khác hôm Thứ Năm. Cảnh báo của ông đến vào lúc đợt truyền nhiễm Covid-19 lan khắp Trung Âu. Một cuộc phong tỏa từng phần 3 tuần đã được công bố tại Hòa Lan vào chiều tối Thứ Sáu, theo Reuters tường thuật, với các viên chức sức khỏe báo cáo gia tăng nhanh chóng các trường hợp bị truyền nhiễm ở đó. Na Uy cũng đã tuyên bố các biện pháp mới hôm Thứ Sáu, trong khi người dân tại thủ đô Berlin của Đức đang chuẩn bị cho các hạn chế mới sẽ được thực thi vào Thứ Hai.
Một đại bồi thẩm đoàn liên bang đã trao lại một cáo trạng chống lại cựu cố vấn của Donald Trump là Steve Bannon vì khinh thường Quốc Hội, theo Bộ Tư Pháp công bố cho biết hôm Thứ Sáu, 12 tháng 11 năm 2021 qua bản tin của CNN hôm Thứ Sáu. Bộ Trưởng Tư Pháp Merrick Garland đã nằm dưới áp lực chính trị rất lớn để buộc tội Bannon kể từ khi Hạ Viện chuyển đồng minh của Trump tới Bộ Tư Pháp vì tội khinh thường hôm 21 tháng 10. “Kể từ ngày đầu tiên nhậm chức, tôi đã hứa với các nhân viên Bộ Tư Pháp rằng chúng ta cùng nhau chứng tỏ cho người Mỹ bằng lời nói và hành động rằng Bộ này tuân thủ nền pháp trị, tuân theo các sự kiện và luật lệ, và những theo đuổi công lý bình đẳng dưới pháp luật,” theo Garland cho biết trong một tuyên bố hôm Thứ Sáu. “Sự buộc tội hôm nay phản ảnh lời cam kết chắc nịch của Bộ đối với các nguyên tắc này.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.