Hôm nay,  

Ai có thể làm chói sáng cõi này? / Who can illuminate this world?

01/03/202520:47:00(Xem: 8011)
blank
 
Ai có thể làm chói sáng cõi này?
   
Nguyên Giác

   
Khi chúng ta đọc Kinh Phật, thường gặp những hình ảnh nói về sự chói sáng. Có Kinh nói rằng, nguồn của ánh sáng là Đức Phật, sáng hơn cả mặt trời và mặt trăng. Đó là Kinh SN 1.26 Sutta. Trong khi đó, Kinh AN 1.41-50 Sutta nói rằng nguồn của ánh sáng là tâm vốn có sẵn tánh sáng chói, nhưng bị bụi cấu uế bám vào, và tâm này sẽ chói sáng sau khi gột rửa bụi.
   
Trong một hình ảnh khác, chúng ta đọc thấy Kinh AN 4.7 Sutta ghi rằng, ngay cả người nam cữ sĩ và nữ cư sĩ, giữ năm giới và hành trì Chánh pháp là cũng đủ để hiển lộ ánh sáng trong tứ chúng. Nghĩa là, chưa phải là bậc giải thoát, chúng ta cũng có thể làm chói sáng những nơi chúng ta bước vào. Thực vậy, rất nhiều Kinh ghi rằng, một vị cõi thiên khi hiện ra đều làm chói sáng một góc rừng. Chúng ta đều biết rằng, các vị thiên chủ yếu là có phước đức, nhưng chưa hẳn là họ có đủ trí tuệ giải thoát.
   
Có một kinh rất đặc biệt nói về ánh sáng: Kinh MN 32 Sutta ghi câu hỏi của ngài Sāriputta rằng hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Điều lý thú là, có nhiều câu trả lời.
   
. Ngài Ananda trả lời rằng nhà sư học nhiều sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Revata trả lời rằng nhà sư ưa nơi u tịch, thiền định thường trực trong chỉ và quán sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Anuruddha nói rằng nhà sư nào đắc thiên nhãn thần thông sẽ có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga.
. Ngài Kassapa nói rằng vị sư nào sống hạnh đầu đà, giới hạnh viên mãn, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga. Điều chú ý: hạnh đầu đà mà Ngài Kassapa nói nơi đây là ẩn cư trong núi rừng, không nói về du hành đường xa.
. Ngài Moggallāna nói rằng các vị sư giỏi về luận thuyết, xuất sắc tranh biện, nắm vững các pháp A Tỳ Đàm, sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
. Ngài Sāriputta nói rằng nhà sư nào điều phục được tâm dễ dàng trong sáng, trưa, chiều, tối là sẽ có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Như thế là sáu câu trả lời từ sáu vị tăng nổi bật của Thế Tôn. Quý ngài thắc mắc, nên tới kể lại cho Đức Phật. Câu trả lời của Đức Phật đơn giản rằng, cả sáu câu trả lời đều đúng, rằng sáu khuynh hướng tu hánh tinh tấn như thế đều có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga. Rồi Đức Phật cho câu trả lời thứ bảy, rằng bất kỳ vị sư nào tinh tấn thiền định đều có thể làm chói sáng  khu rừng Gosinga.
   
Nơi đây, chúng ta sẽ tuần tự nói về các Kinh vừa dẫn. Tất cả phần tiếng Việt là từ bản dịch của Thầy Minh Châu.
   
Trong Kinh SN 1.26 Sutta, Đức Phật nói rằng ngài là nguồn sáng tối thắng, sáng hôn mặt trời, mặt trăng, lửa cháy. Kinh SN 1.26 Sutta ghi như sau:
   
Bốn vật chiếu sáng đời,
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Đêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,
Sáng này, sáng vô thượng.
   
Trong Kinh AN 1.41-50 Sutta, Đức Phật nói về tâm sáng chói khi gột sạch cấu uế. Kinh AN 1.41-50 Sutta ghi như sau.
   
"Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào.
Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào."
   
Trong khi đó, Kinh AN 4.7 Sutta ghi lời Đức Phật dạy rằng bất kỳ vị sư, vị ni, vị nam cư sĩ, và vị nữ cư sĩ nào cũng có thể làm chói sáng được. Kinh AN 4.7 Sutta ghi như sau:
   
"Có bốn hạng người này, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Thế nào là bốn?
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng. Tỷ-kheo-ni, này các Tỷ-kheo, … nam cư sĩ, này các Tỷ-kheo, … , nữ cư sĩ, này các Tỷ-kheo, thông minh, được huấn luyện, không sợ hãi, nghe nhiều, trì pháp, thực hành pháp, tùy pháp, chói sáng tăng chúng."
   
Trong khi đó, trong Kinh MN 32 Sutta Tôn giả Sāriputta nêu câu hỏi: Hạng Tỷ-kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga?
   
Ngài Ananda đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lập lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Revata đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo này có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Anuruddha đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, ví như một người có mắt lên trên đỉnh một ngôi lầu tốt đẹp, quán sát một ngàn đường vòng xung quanh. Cũng vậy, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Kassapa đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Ngài Moggallāna đáp: "Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, hai Tỷ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục. Này Hiền giả Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga.”
   
Ngài Sāriputta đáp: "Ở đây, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Hiền giả Moggallāna, ví như một vị vua hay vị đại thần của vua có một tủ áo đựng đầy những áo có nhiều màu sắc khác nhau. Cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi sáng, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi sáng; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi trưa, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi trưa; cặp áo nào nhà vua muốn mặc vào buổi chiều, nhà vua mặc cặp áo ấy vào buổi chiều. Cũng vậy, này Hiền giả Moggallāna, Tỷ-kheo điều phục được tâm, không phải Tỷ-kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị Tỷ-kheo ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều. Này Hiền giả Moggallāna, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Thế rồi các vị sư tới hỏi Đức Phật, và được trả lời như sau: "Này Sāriputta, tất cả đều lần lượt khéo trả lời. Và này các Ông hãy nghe Ta nói hạng Tỷ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga? Ở đây, này Sāriputta, Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, và nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Này Sāriputta, hạng Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga."
   
Tất cả các Kinh vừa dẫn trên, cho thấy rằng bất kỳ Phật tử nào, dù là tu sĩ hay cư sĩ, khi giữ giới hạnh và tu hành tinh tấn, đều có thể làm chói sáng một khu rừng. Và hình ảnh khu rừng nơi đây có thể hiểu là một khu rừng trong thiên nhiên, và cũng có thể hiểu là khu rừng trong tâm.
   
.... o ....
.... o ....
 
Who can illuminate this world?
   
Written and translated by Nguyên Giác

 
When we read the Buddhist scriptures, we frequently encounter imagery of radiance. One sutra states that the source of light is the Buddha, who is brighter than both the sun and the moon; this statement is found in the SN 1.26 Sutta. In contrast, the AN 1.41-50 Sutta asserts that the source of light is the mind, which is inherently luminous but obscured by defilements. This mind will shine once it has been purified of those impurities.
 
In another image, we read in the AN 4.7 Sutta that even male and female lay followers who observe the five precepts and practice the Dharma are capable of manifesting light within the four groups. This means that even if we have not yet attained liberation, we can still illuminate the spaces we enter. Indeed, many Suttas document that when a deva appears, he illuminates a corner of the forest. We all understand that devas are primarily endowed with virtue, but they do not necessarily possess liberating wisdom.

 
There is an exceptional sutta that discusses radiance: the MN 32 Sutta records Sāriputta's inquiry regarding what type of bhikkhu could illuminate the Gosinga forest. Interestingly, there are numerous answers provided.
 
. Venerable Ananda replied that a knowledgeable monk would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Venerable Revata replied that a monk who embraces solitude and consistently meditates in both samatha and vipassana would be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Anuruddha stated that a monk who has attained the supernatural power of the divine eye would be able to illuminate the Gosinga Forest.
. Kassapa stated that any monk who embraces the Dhutanga life—a life of asceticism and perfect morality—will be able to illuminate the Gosinga forest. It is important to note that the Dhutanga life Kassapa refers to involves living in seclusion in the mountains and forests rather than traveling great distances.
. Venerable Moggallāna stated that monks who excel in argumentation, are skilled in debate, and possess a profound understanding of the Abhidharma will be able to illuminate the Gosinga forest.
. Venerable Sāriputta stated that monks who can easily control their minds throughout the morning, noon, afternoon, and night will be able to illuminate the Gosinga forest.
 
These were the six responses from the six esteemed monks of the Buddha. The monks were perplexed, so they approached the Buddha to seek clarification. The Buddha's response was straightforward: all six answers were correct, as these six tendencies of diligent practice could illuminate the Gosinga forest. He then provided a seventh insight, stating that any monk who meditates diligently could also illuminate the Gosinga forest.
 
Here, we will sequentially quote from the previously cited Suttas.
 
In the SN 1.26 Sutta, the Buddha states that he is the supreme light, brighter than the sun, the moon, and fire. The SN 1.26 Sutta is presented as follows, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
 
“There are four sources of light in the world;
A fifth one is not found here.
The sun shines by day,
The moon glows at night,
And fire flares up here and there
Both by day and at night.
But the Buddha is the best of those that shine:
He is the light unsurpassed.”
 
In the AN 1.41-50 Sutta, the Buddha spoke of the mind being clear and bright when it is free from defilements. The AN 1.41-50 Sutta reads as follows, according to Thanissaro Bhikkhu's translation.
 
“Luminous, monks, is the mind. And it is defiled by incoming defilements.”
“Luminous, monks, is the mind. And it is freed from incoming defilements.”
 
Meanwhile, the AN 4.7 Sutta records the Buddha's teaching that any monk, nun, male lay follower, or female lay follower can shine. The AN 4.7 Sutta states the following, according to Bhikkhu Bodhi's translation.
   
“Bhikkhus, these four kinds of persons who are competent, disciplined, self-confident, learned, experts on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorn the Saṅgha. What four?
(1) “A bhikkhu who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha. (2) A bhikkhunī who is competent … (3) A male lay follower who is competent … (4) A female lay follower who is competent, disciplined, self-confident, learned, an expert on the Dhamma, practicing in accordance with the Dhamma, adorns the Saṅgha."
 
Meanwhile, in the MN 32 Sutta, Venerable Sāriputta asks, "What kind of monastic can illuminate the Gosinga forest?" The following answers are according to the translation by I.B. Horner.
 
Venerable Ananda replied: “In this case, reverend Sāriputta, a monk comes to be one who has heard much, who masters what he has heard, who stores what he has heard; those teachings which are lovely at the beginning, lovely in the middle, lovely at the end, which with the spirit and the letter declare the Brahma-faring which is completely fulfilled, utterly pure-such teachings come to be much heard by him, borne in mind, repeated out loud, pondered over in the mind, well comprehended by view; he teaches Dhamma to the four assemblies with correct and fluent lines and sentences for the rooting out of (latent) propensities. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Revata replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk delights in solitary meditation, he is delighted by solitary meditation, he is intent on mental tranquillity within, his meditation is uninterrupted, he is endowed with vision, a cultivator of empty places. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Anuruddha replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk surveys the thousand worlds with purified deva-vision surpassing that of men. Reverend Sāriputta, as a man with vision might survey a thousand concentric circles from the top of a long house, so, reverend Sāriputta, does a monk survey the thousand worlds with purified deva-vision, surpassing that of men. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Kassapa replied: “In this connection, reverend Sāriputta, a monk is both a forest-dweller himself and one who praises forest-dwelling; he is an almsman himself and one who praises being an almsman; he is a rag-robe wearer himself and one who praises the wearing of rag-robes; he wears three robes himself and is one who praises the wearing of three robes; he is of few wishes himself and is one who praises being of few wishes; he is contented himself and is one who praises contentment; he is aloof himself and is one who praises aloofness; he is ungregarious himself and is one who praises ungregariousness; he is of stirred up energy himself and is one who praises stirring up energy; he is possessed of moral habit himself and is one who praises success in moral habit; he is possessed of concentration himself and is one who praises success in concentration; he is possessed of intuitive wisdom himself and is one who praises success in intuitive wisdom; he is possessed of freedom himself and is one who praises success in freedom; he is possessed of the knowledge and vision of freedom himself and is one who praises success in the knowledge and vision of freedom. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
 
Venerable Moggallāna replied: “In this connection, reverend Sāriputta, two monks are talking on Further Dhamma; they ask one another questions; in answering one another's questions they respond and do not fail, and their talk on Dhamma goes forward. By a monk of such a type, reverend Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Venerable Sāriputta replied: "Reverend Moggallāna, as a king or a king's chief minister might have a chest for clothes filled with differently dyed cloths, so that no matter which pair of cloths he wished to put on in the morning, he could put on that self-same pair of cloths in the morning; no matter which pair of cloths he wished to put on at midday, he could put on that self-same pair of cloths at midday; no matter which pair of cloths he wished to put on in the evening, he could put on that self-same pair of cloths in the evening-even so, reverend Moggallāna, a monk rules over mind, is not under mind's rule; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the morning, in that attainment of abiding he abides in the morning; whatever attainment of abiding he wishes to abide in at midday, in that attainment of abiding he abides at midday; whatever attainment of abiding he wishes to abide in in the evening, in that attainment of abiding he abides in the evening. By a monk of such a type, reverend Moggallāna, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
Then the monks approached the Buddha and received the following response: “It was well spoken by you all in turn, Sāriputta. But now hear from me by what type of monk the Gosiṅga sāl-wood would be illumined. In this connection, Sāriputta, a monk, returning from alms-gathering after the meal, sits down cross-legged, the back erect, having raised up mindfulness in front of him, and thinking: ‘I will not quit this cross-legged (position) until my mind is freed from the cankers without any residuum (for rebirth) remaining.’ By such a type of monk, Sāriputta, would the Gosiṅga sāl-wood be illumined.”
   
All the aforementioned Suttas demonstrate that any Buddhist, whether a monastic or a layperson, can illuminate a forest by adhering to the precepts and practicing diligently. We can interpret this image of the forest as both a natural forest and a mental forest.
 
THAM KHẢO / REFERENCE:
 
- SN 1.26 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/sn1.26/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/sn1.26/en/bodhi
 
- AN 1.41-50 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an1.41-50/vi/minh_chau
Thanissaro Bhikkhu: https://suttacentral.net/an1.41-50/en/thanissaro
 
- AN 4.7 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/an4.7/vi/minh_chau
Bhikkhu Bodhi: https://suttacentral.net/an4.7/en/bodhi
 
- MN 32 Sutta:
HT Minh Châu: https://suttacentral.net/mn32/vi/minh_chau
I.B. Horner: https://suttacentral.net/mn32/en/horner

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Các học giả luật và những người ủng hộ quyền bầu cử cho rằng bất chấp lập trường quyết liệt từ các dân biểu Cộng Hòa tại Hạ viện, Hiến Pháp cấm sự can thiệp quá mức của chính phủ liên bang vào việc tổ chức bầu cử của tiểu bang.
Từ việc ám sát chính công dân của mình đến việc kích động những người ly khai ở Alberta, Hoa Kỳ đã thay đổi theo những cách mà Canada vẫn từ chối đối mặt. Quốc hội Mỹ đã trở thành con chó trung thành của Trump.
- Báo Japan Times: tiền kỹ thuật số VN bi đát, nhiều người cháy túi, cơ nguy 100 tỷ đô bốc hơi - VN nhận định về Trump: Mỹ không phải tư bản, mà [Trump] thực chất là đế quốc. Tô Lâm muốn xin thuế quan 18% thay vì 46%. Mỹ hăm VN: đừng thân với TQ. - Colorado: 1 phụ nữ gốc Việt bắn bạn tình cũ 6 phát, lãnh án 40 năm tù - Boston: Mark Huynh nhập cảnh Mỹ, mang file điện tử sex trẻ em, cơ nguy tù 20 năm - Khoảng 10,5 tỷ USD kiều hối 'chảy' vào đầu tư, bất động sản tại TP Sài Gòn - Sau khi tuyên bố người ngoài hành tinh 'có thật', Obama đính chính là 'không thấy bằng chứng' - Cựu DB Marjorie Taylor Greene gọi MAGA và những người ủng hộ Trump là “những tên hề vô cảm” vì đã chế giễu các nạn nhân của Epstein, nói Cộng Hòa sẽ trả giá // Cựu Dân biểu Greene: Trump đã ra sức dìm hồ sơ Epstein, sai lầm lớn là khi nói hồ sơ Epstein là trò lừa bịp của Đảng Dân Chủ - Trump áp thuế quan toàn cầu, 90% dân Mỹ phải è cổ trả thêm 1.000 USD hàng nhập cảng. - Thất nghiệp quá nhiều tại Mỹ: phải trả ti
Một mục tiêu lớn của Trump là xóa sổ bức tường ngăn cách nhà thờ và nhà nước, và khi phá gỡ bức tường xong là mở chiến dịch nhồi sọ tôn giáo các thế hệ trẻ, theo bản tin hôm 15/2/2026 từ CNN tựa đề "Trump has chipped away at the long-standing wall between church and state. It’s just the beginning"
Bản tin hôm Thứ Bảy 14/2/2026 nhan đề "Sorry, US Navy: China’s 'Mach 10 game plan' to sink Navy aircraft carriers comes down to 1 word" (Xin lỗi, Hải quân Mỹ ơi: Kế hoạch "tập trận Mach 10" của Trung Quốc nhằm đánh chìm tàu hàng không mẫu hạm của Hải quân Mỹ gói gọn trong 1 từ) trên báo National Security Journal của Giáo sư Isaac Seitz, một nhà bình luận quốc phòng, tốt nghiệp chương trình Tình báo Chiến lược và An ninh Quốc gia của Đại học Patrick Henry (Virginia, Hoa Kỳ).
-- Trẻ Thơ Tán Loạn, Cộng Đồng Hoảng Sợ Vì Hai Chữ "Ice Tới" -- Bộ Nội An Đóng Cửa: Di Trú Vẫn Siết Chặt. -- Trump Quyết Buộc Cử Tri Trình Thẻ Căn Cước Bất Chấp Quốc Hội Ok Hay Không. -- DHS Đòi Các Mạng Xã Hội Giao Danh Tính Những Ai Chống ICE. -- 4,400 Lần Tòa Phán Giam Người Trái Luật; ICE Vẫn Chi 38.3 Tỉ MK Mở Rộng Trại Giam. -- Liên Bang Muốn Cắt 600 Triệu MK Ngân Sách CDC, Bị Tòa Chặn Ngay.
Bài viết này kể về một cuộc tập trận cho thấy một ưu thế du kích chiến trong hải chiến hiện nay và tương lai. Bài viết tựa đề "$5,500,000,000 nuclear US Navy aircraft carrier sunk by $80,000,000 Canadian diesel sub on battery power" (Mẫu hạm hạt nhân trị giá 5.5 tỷ đô la của Hải quân Hoa Kỳ bị đánh chìm bởi tàu ngầm diesel chạy bằng pin trị giá 80 triệuđô la của Canada) trên tạp chí National Security Journal hôm 13/2/2026 của tác giả Isaac Seitz
-- Chiếc Ghế Marjorie T. Greene Bỏ Lại Ở Georgia: Phép Thử Quyền Lực Trump -- Thượng Viện Bế Tắc Ngân Sách DHS, Cơ Nguy Đóng Cửa Lại Lơ Lửng. -- Cố Vấn Goldman Sachs Từ Chức Sau Khi Tên Mình Xuất Hiện Trong Hồ Sơ Epstein. -- Bộ Trưởng Y Tế RFK Jr. Thú Nhận Từng Hít Cocaine Trên Nắp Bồn Cầu. -- Hạ Viện Muốn Mở Visa H-2C Để Cứu Ngành Xây Dựng Thiếu Thợ. -- Thuế quan Trump 2025: 90% gánh nặng đổ lên vai dân Mỹ. -- Vật Giá Leo Thang, Sợ Cử Tri Nổi Giận, Trump Tính Giảm Bớt Thuế Thép, Nhôm. -- Trump Hủy Quy Định Kiểm Soát Khí Nhà Kính. -- Bạch Ốc rút 15 triệu đô từ ngân sách USAID để thuê vệ sĩ cho Russell Vought. -- Tòa Liên Bang Chặn Ngũ Giác Đài Trừng Phạt TNS Mark Kelly. -- Hoa Kỳ Từng Chi 32 Triệu MK Để “Gửi Nhờ” 300 Di Dân, Rồi Lại Tốn Tiền Đưa Về. -- Chicago: Thẩm Phán Liên Bang Chặn Trump Cắt Tiền Trợ Cấp Y Tế. -- Minnesota: Thẩm Phán Nói ICE Cố Tình Cản Luật Sư, Ra Lệnh Chấn Chỉnh Gấp...
Thực tế: các Thống đốc Cộng Hòa đếm lại từng lá phiếu trong 20 năm và chỉ thấy có 24 trường hợp người không phải công dân bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử ở Mỹ từ năm 2003 đến 2023. Cộng Hòa ghét phiếu phụ nữ vì họ bầu Dân Chủ cao hơn nam giới 12%. Hiện nay 1/3 phụ nữ có giấy tờ chứng minh quốc tịch nhưng sai tên hiện tại của họ, chủ yếu là do đổi tên khi kết hôn, dự kiến 34% phụ nữ có thể bị từ chối bỏ phiếu nếu không có đủ giấy tờ cần thiết; trong đó 80 triệu phụ nữ đổi tên theo họ chồng nhưng không ra tòa đổi tên đúng thủ tục.
Trước khi bước chân vào Trung tâm Xử lý Di trú Dilley mùa thu năm ngoái, bé Maria Vargas, 6 tuổi, là một đứa trẻ sống đúng nghĩa tuổi thơ: buổi sáng đến trường, buổi chiều về nhà ở New York, vừa vẽ vời vừa chơi với con mèo Milo, thỉnh thoảng ôm sách truyện đi ngủ trên chiếc ghế sofa trong căn hộ chật mà ấm. Chỉ vài ngày sau khi gia đình bị bắt và chuyển xuống trại Dilley ở miền Nam Texas, mọi thứ sụp đổ. Em bị bắt nhốt vào một nơi “giống nhà tù hơn là trung tâm chăm sóc”, lính gác đi lại suốt hành lang, ánh đèn trắng không bao giờ chịu tắt. Vốn đã bỏ tả từ lâu, em bỗng tè dầm trở lại, lúc thì ướt quần, lúc thì ướt cả chăn. Đêm nào Maria cũng khóc, hỏi mẹ bao giờ mới được về căn hộ của mình ở New York, về với cô giáo, với Milo. Có khi em còn van xin được… bú mẹ lại như hồi còn bé xíu, chỉ để tìm chút an toàn trong vòng tay mẹ.
Chính quyền T.T Trump đã đề xuất một thay đổi lớn về luật “gánh nặng xã hội”. Luật này được sử dụng để quyết định xem một người có đủ điều kiện để nhận thẻ xanh hoặc chiếu khán di dân hay không. Đề xuất này sẽ cho phép các viên chức Sở Di Trú từ chối đơn xin dựa trên đánh giá mang tính chủ quan của họ. Kể từ năm 1999, “Gánh nặng xã hội” đã có một định nghĩa rõ ràng: một người bị xem là gánh nặng xã hội nếu họ phụ thuộc chủ yếu vào chính phủ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thông qua việc nhận (a) Trợ cấp tiền mặt (như SSI hoặc phúc lợi xã hội), hoặc (b) Chăm sóc dài hạn tại bệnh viện do chính phủ tài trợ.
Theo nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Trường Y Harvard thực hiện, đăng trên tập san y khoa Journal of the American Medical Association (JAMA), thói quen uống cà phê có caffeine hoặc trà mỗi ngày có liên quan đến nguy cơ sa sút trí tuệ thấp hơn, tốc độ suy giảm nhận thức chậm hơn và khả năng tư duy được duy trì tốt hơn theo thời gian. Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu quan sát dài hạn của gần 132.000 người trưởng thành khỏe mạnh tại Hoa Kỳ, được theo dõi từ đầu thập niên 1980 đến năm 2023. Nguồn dữ liệu lấy từ hai công trình lớn là Nurses’ Health Study và Health Professionals Follow-Up Study, bao gồm các y tá, bác sĩ và nhân viên y tế, những người được cập nhật đều đặn về thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống và tình trạng sức khỏe trong nhiều thập niên.
Khi Noah Hulsman, chủ một cửa hàng ván trượt ở Louisville, Kentucky, biết rằng mình không còn đủ điều kiện nhận trợ cấp liên bang để chi trả cho gói bảo hiểm y tế "Vàng" thuộc Đạo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Hợp Túi Tiền (ACA), người đàn ông 37 tuổi này đã chọn một gói bảo hiểm thấp hơn. Nhưng mức khấu trừ (deductible) của gói này chiếm tới khoảng 1/4 thu nhập hàng năm của anh. Một người khác, bà Loretta Forbes, nhận ra sẽ phải hủy gói bảo hiểm của mình sau khi phí bảo hiểm hàng tháng trên thị trường ACA tăng gấp mười lần vào năm 2026. Vì vậy, người phụ nữ 56 tuổi sống ở ngoại ô Nashville, Tennessee này đã bắt đầu phải hạn chế các loại thuốc trị viêm khớp dạng nhẹ của mình. Chồng của bà, ông Jim, đã nghỉ công việc thợ sửa chữa vặt mà ông chỉ vừa mới bắt đầu để tìm kiếm một công việc có chế độ bảo hiểm.
Từ một tiệm bán len nhỏ mang tên Needle & Skein, giữa lòng thành phố Minneapolis đang nhiều xao động, một phong trào đặc biệt khởi lên: chiếc mũ len đỏ có dòng chữ “Melt the ICE” – “Làm tan ICE,” tượng trưng cho tiếng nói phản đối các hành động cứng rắn của cơ quan Di trú và Hải quan Hoa Kỳ. Vài tuần trước, không khí ở tiệm vốn đầy tiếng cười của những người đan len thân quen bỗng trở nên nặng nề. Tin dữ về Renee Good, một công dân Mỹ thiệt mạng trong vụ nổ súng có dính líu đến nhân viên ICE, rồi đến Alex Pretti bị bắn chết sau đó, khiến nhiều người Nguyễn tê tái. “Người Minnesota thường không nói thẳng, nhưng chỉ nhìn nhau là biết có chuyện lớn,” anh Paul Neary, nhân viên của tiệm, kể lại.
Niềm vui trong mùa xuân theo truyền thống của dân tộc Việt là những thời khắc nghỉ ngơi sau các vụ mùa, hành hương các kiểng chùa, để rồi ngồi thư giãn với tách trà, nhìn ngắm hoa mai, cành đào... Và dĩ nhiên, còn nhiều niềm vui khác khi gió xuân thổi tới. Bên câu đối đỏ chúc cho năm mới an vui, cũng là những dòng thơ mang nhiều đạo vị, những dòng thơ khi đọc lên là thấy hỷ lạc, an bình. Như thế, tập thơ Một Đóa Trà My của nhà thơ Thiện Trí đã hiển lộ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.