Hôm nay,  

Tri túc

02/01/202600:00:00(Xem: 2783)

tri-túc-
 
Hồi còn nhỏ, tôi nhớ có đọc một câu chuyện, hình như trong mục truyện vui cười của báo Thiếu Nhi. Đại khái là có một ông nhà giàu, thấy một anh chàng trai trẻ đang nằm nghỉ thảnh thơi trên bãi biển. Ông nhà giàu hỏi sao không lên tàu ra khơi đánh cá. Chàng trai hỏi:

-          Để làm gì?
-          Để có tiền.
-          Có tiền để làm gì?
-          Để mua một con tàu đánh cá cho riêng mình.
-          Để làm gì?
-          Để kiếm nhiều tiền hơn, sau này về già có thể sống thảnh thơi.
-          Thì tôi đang sống thảnh thơi ngay lúc này rồi, đâu có cần làm chi cho cực?
 
Câu chuyện này còn đăng ở nhiều tờ báo khác, đa phần đều nằm trong mục truyện tiếu lâm.
 
Sau này ngẫm nghĩ lại, tôi tự hỏi tại sao câu chuyện này lại được xếp vào mục chuyện vui cười. Nó có thể là một đề tài tranh luận nghiêm túc về một phong cách sống, một triết lý sống có từ xa xưa: tri túc. Đại ý là khi nào mình cảm thấy nhu cầu là đủ thì nó đã đủ rồi, không cần tìm thêm nữa. Tri túc, tiện túc, hà thời túc.
 
Bản thân tôi cũng từng trải qua một câu chuyện tương tự. Hồi trẻ đi làm cho một công ty xây dựng của một thằng bạn học. D. là giám đốc, còn tôi là nhân viên bán hàng. Thấy cuối tuần tôi hay đi làm các công tác từ thiện, D. nói “…Tao mà như mày sẽ dành thì giờ để kiếm tiền. Thêm vài chục năm năm nữa, tao sẽ có thật nhiều tiền, lúc về già sẽ làm từ thiện cho đáng!...” Bạn có phần đúng. Điều này cũng giải thích phần nào tại sao bạn thì làm giám đốc, còn tôi chỉ là nhân viên. Tôi còn nói với D. rằng việc điều hành một công ty tạo ra công ăn việc làm cho 100 người còn có lợi ích cho xã hội hơn làm từ thiện nhiều. Xã hội rất cần có những người có khả năng lãnh đạo như D.
 
Có một vài người thân làm tôi suy nghĩ nhiều về phong cách sống tri túc. Trong xóm lao động có ông Tư làm nghề đạp xe ba bánh chở hàng, nên có tên là Ông Tư Ba Bánh. Gia đình ông nghèo lắm, nhưng lúc nào thấy ông cũng vui, ít khi thấy ông lo lắng. Mỗi sáng chở hàng cho mấy chị bán hàng ra ngoài chợ, chiều chở về, đủ sống qua ngày, nuôi con ăn học. Ngày nào kiếm “đủ sở hụi” là ông về nhà sớm, có ai kêu chạy thêm cũng không nhận. Rồi đến một buổi sáng sớm, Ông Tư chở hàng xong, ngừng xe ba bánh để đi tiểu ở gốc cây bên lề đường, thì một tên lưu manh lên xe đạp đi mất, ông già nên không đuổi kịp, mà đường lúc đó vắng người nên chẳng ai giúp. Ông đành đi bộ về nhà. Con hỏi xe đâu, ông nói “mất rồi!”. Cũng không thấy ông tỏ vẻ quá buồn phiền. Ông nằm nhà một lát, rồi lấy phấn vẽ lên tường nguệch ngoạc mấy chữ: “Hảo sự bất như vô”. Ông giải thích với con theo cách suy diễn của mình về câu ngạn ngữ này: ở đời, điều tốt cũng không bằng không có gì… Hàng xóm thấy thương tình, gom tiền cho ông mượn mua một chiếc xe ba bánh khác cũ hơn để làm phương tiện kiếm sống. Ông sống bình thản trong cảnh nghèo cho đến ngày nhắm mắt ra đi…
 
Anh Hai Lộc trước 1975 từng là đại diện cho Bộ Dân Vận Chiêu Hồi ở Vùng Bốn. Sau ngày Miền Nam thất thủ, anh đi tù cải tạo ba năm. Khi trở về nhà được bà chị đi xuất cảnh sang Pháp để lại cơ ngơi là một cửa hàng bán thuốc tây tại nhà. Vào thời đó, đây là một kiểu kinh doanh nhỏ, không chính thức nhưng kiếm tiền rất khá. Nhưng anh không thích ngồi nhà cả ngày bán thuốc tây để làm giàu. Lúc nào thấy “đủ sở hụi” là anh chạy đi chơi, tổ chức hội họp bạn bè hát hò, văn nghệ, đi đánh mạt chược. Một trong những cuốn truyện mà anh rất thích là “Cuộc Đời Và Kinh Nghiệm Của Alexis Zorba” của nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzakis. Nhân vật chính sống hết mình, sống tự do không chạy theo những giá trị chung của xã hội như giàu sang, danh vọng. Anh Hai Lộc cho rằng đây là một lối sống “thiền”, và anh cũng thế, cho nên không bao giờ giàu tiền bạc. Nhưng nhiều bạn bè nói anh là một trong những người biết cách sống trọn vẹn, và sống giàu tình nghĩa với mọi người nhất.
 
Bố tôi là nhà văn, nhà giáo, trước 1975 sống cuộc đời thanh đạm của một ông bố đi dạy để nuôi tám đứa con. Sau 1975 đi tù hai lần đều liên quan đến tội “biệt kích cầm bút”. Đi tù về, trải qua bao gian khổ, ông càng trân quí với những gì mình đang có hơn. Trong một “câu chuyện đầu năm” nhân một buổi họp mặt đêm giao thừa truyền thống hằng năm, ông tặng cho con cháu một phương châm sống của năm: “Hãy sống giản dị và làm lành”. Thực ra ông sống với phương châm đó cả đời. Đa số những người quen biết không quí ông vì tài viết văn hay dạy học, mà là vì phong cách sống an nhiên tự tại.
 
Trong Phật Giáo, tri túc là quan điểm xem mọi cảm thọ đều bắt nguồn từ cái tâm. Một người sống hạnh phúc hay khổ đau là do cách nhìn những gì xảy ra với mình. Cũng cùng một sự việc, có người thấy đau khổ, có người cảm thấy lạc quan. Hạnh phúc đến từ trong tâm chứ không phải từ bên ngoài. Người Tây Phương cũng có quan niệm tương tự qua khái niệm “nửa ly nước.” Nhìn ly nước còn một nửa, có người than: “Buồn quá! Tôi chỉ còn nửa ly nước!”; nhưng cũng có người mừng: “Vui thật! Tôi có đến nửa ly nước!”
 
Trong đời sống hàng ngày, nhiều người sống tri túc một cách tự nhiên, không lý luận. Khi gặp khó khăn, họ cho đó là cơ hội để rèn luyện khả năng chịu đựng nghịch cảnh. Thấy mình gặp chuyện không may, họ nghĩ đến những hoàn cảnh khốn khó hơn mình đang xảy ra chung quanh. Dù không giàu để ăn sang, mặc đẹp, nhưng vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những kẻ hành khất không nhà. Thấy người hành khất mù thì cảm ơn đời vì mình vẫn còn đôi mắt sáng. Nhiều người theo Đạo Phật tin vào nhân quả, khi gặp bất hạnh thì cho rằng mình đang trả quả báo cho những điều mình đã từng làm; trả hết nghiệp rồi thì sẽ bớt khổ. Không xét đến đúng sai, những người lạc quan như vậy dễ có được hạnh phúc trong đời sống.
 
Vua Trần nhân tông, Sơ Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có một bài thơ thiền nổi tiếng “Cư Trần Lạc Đạo”. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Thanh Từ:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền
 
Bài thơ có ý nghĩa thiền thâm sâu, hướng đến sự nhận ra Phật Tánh có sẵn tự tâm của mỗi người. Nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa đơn giản của từ ngữ, bài thơ cũng hàm ý tri túc như một cách sống hữu ích cho người tu. Đơn giản hóa nhu cầu đời sống để có cái tâm buông xả. Bản thân mình đã có đủ những thứ để có được an lạc, chẳng cần đi tìm cầu ở bên ngoài.
 
Không phải ai cũng thích lối sống kiểu tri túc. Có người cho rằng những người sống tri túc là an phận, dễ dãi, không cầu tiến, do đó khó thăng tiến trong sự nghiệp, khó thành công ngoài xã hội. Điều này cũng đúng. Những người sống tri túc có lẽ cũng cần học cách sống trung đạo để không bị rơi vào lối suy nghĩ dễ dãi, sống buông trôi không cố gắng. Người xưa có câu “tận nhân lực, tri thiên mệnh”, cố gắng làm hết sức mình rồi mới vui với những gì mình đang có. Nói thì dễ, làm thì khó. Làm thế nào để biết là mình đã làm hết sức mình? Đâu là giới hạn khả năng của một con người? Một câu hỏi khó, câu trả lời có lẽ tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Vua Trần Nhân Tông từng khoác chiến bào lãnh đạo dân quân nhà Trần đánh bại quân Mông Cổ hùng mạnh, sau đó mới khoác áo nhà tu sống đời thanh tịnh trên núi Yên Tử. Ngài là một tấm gương cho lối sống thấy việc cần làm thì làm, sau đó lại trở về với vô sự.
 
Sống tri túc không chỉ có được an lạc cho bản thân. Một người khi cảm thấy mình đã đầy đủ sẽ dễ chia sẻ với người khác hơn. Điều này cũng dễ hiểu. Khi chưa thấy đã kiếm đủ tiền bạc, tài sản, làm sao ta có thể giúp đỡ vật chất cho người khác? Mà sự cho đi không chỉ giới hạn ở của cải. Do không còn mong cầu, người tri túc dễ có được sự bình an, dễ cảm thấy hạnh phúc, nhờ vậy mà có thể đem lại bình an cho người khác. Làm sao ta có thể cho người khác cái mà ta không có?
 
Tôi có biết một nhóm Phật tử trẻ thường đi giúp vui cho các vị cao niên sống trong viện dưỡng lão. Các bác không thiếu ăn, thiếu mặc, nhưng cô đơn. Mỗi lần nhóm bạn trẻ đến, các bác vui lắm. Khi trả lời đúng một câu hỏi trong chương trình đố vui, khi cùng hát chung một số bài hát quen thuộc thời trai trẻ, những gương mặt tuổi già cười vui rạng ngời. Cũng có khi là những giọt nước mắt vì hạnh phúc.
 
Tôi có một người bạn trung học tên C. bị chứng bệnh Alzheimer kết hợp với Parkinson từ khi tuổi đời chưa đến 60, phải nằm liệt giường gần 5 năm ở San Diego trước khi qua đời. Nhóm bạn cùng lớp ở California quyết định đi thăm C. một tháng một lần. Gia đình kể mỗi lần biết có bạn sắp đến chơi, C. mong lắm, ngủ sớm từ tối hôm trước để hôm sau tỉnh táo gặp bạn bè. Sáng ra C. nói với con rằng “Hôm nay các bác đến chơi với ba…” Có lần có thêm các bạn từ tiểu bang khác, từ Việt Nam sang chơi, lên đến gần 10 bạn. Những lần như vậy C. vui lắm. Nằm trên giường, cho dù đã quên chuyện đời thường khá nhiều, C. huyên thuyên cười nói, nhắc lại những kỷ niệm thời đi học. Vợ C. nói ít khi thấy chồng mình hạnh phúc đến như vậy.
 
Khi mang lại niềm vui cho những người có hoàn cảnh khó khăn, có người không thấy mình đang làm phước, mà cảm thấy chính mình có được hạnh phúc. Khi biết cách cho, người cho còn hạnh phúc hơn người nhận.
 
Trong một bài giảng, Thầy Phước Tịnh có kể một câu chuyện thú vị về cuộc đối thoại giữa một vị hoàng đế và một người ăn mày. Vị hoàng đế dù có nhiều tiền của nhưng vẫn không sẵn lòng giúp đỡ bố thí cho người khác vì thấy bao nhiêu tài sản cũng là chưa đủ. Hoàng đế dù có địa vị quyền lực cao nhất nhưng vẫn thiếu thốn hạnh phúc, thiếu tình yêu thương đích thực, cho nên vẫn phải đi tìm người giúp mang lại sự bình an cho tâm hồn. Ngược lại, những người dù nghèo của cải vật chất nhưng nhờ biết đủ vẫn sẵn sàng chia sẻ những gì mình có cho những người thiếu thốn hơn. Người nghèo vẫn có thể giàu lòng từ bi nhờ tâm vô cầu. Chỉ cần tâm thấy vui với những gì đang có, thì hạnh phúc liền có mặt trong giây phút hiện tiền, họ sẵn sàng chia sẻ hạnh phúc với những người chung quanh. Làm hoàng đế, hay làm ăn mày, cũng chỉ do cái tâm mà ra…
 
Xin mời nghe bài thiền ca Hoàng Đế Và Ăn Mày, viết theo tinh thần lời giảng của Thầy Thích Phước Tịnh:
 
ĐK: Ta không cho những gì lòng ta mong cầu
Ta không cho những gì lòng còn khát khao
 
Một người ăn mày ái tình
Đi đến thế nhân cố xin tình thân
Một người đi tìm hạnh phúc
Nơi sang nơi giầu mà chẳng thấy đâu
 
ĐK: Ta không cho những gì lòng ta mong cầu
Ta không cho những gì lòng còn khát khao
 
Rồi người không còn si tình
Bố thí nhân gian với tâm từ bi
Rồi người không cần danh tướng
Nhìn ra vô thường người thành đế vương
Hoàng đế cần chi sang giầu
Hoàng đế nhờ tâm vô cầu
 
Doãn Hưng
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Thế giới vẫn chưa ra khỏi cơn khủng hoảng của đại dịch vi khuẩn corona mặc dù toàn cầu đang có chiều hướng giảm xuống, nhưng vài nơi vài nơi chứng kiến gia tăng số người bị lây và thiệt mạng trong tuần qua. Nhiều nước trên thế giới và các tiểu bang tại Mỹ đang tái mở cửa nền kinh tế trở lại.
Các cơ sở bị khó khăn và các nhà điều dưỡng giống nhau là đã và đang chật vật, với khối công nhân áp đảo cố gắng xác nhận, cách ly và điều trị các bệnh nhân mắc bệnh đè nặng lên thêm công việc đòi hỏi đã có của họ. Trong khi đó, các biện pháp nhằm bảo vệ cư dân khỏi bị lây lan bệnh đã khiến cho họ dễ bị tổn thương hơn và đóng cửa từ công chúng.
Vinh danh cộng đồng A100 và AAPI trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, vì biểu cảm chống người Á châu đã dâng trào sau đại dịch COVID-19. Dừng AAPI Hate, một dự án theo dõi các sự cố thù ghét đối với người Mỹ gốc Á, đã nhận được hơn 1.135 báo cáo chỉ trong hai tuần. Crisis Text Line (Văn Bản Khủng Hoảng) báo cáo rằng AAPIs, đại diện cho khoảng 6% dân số Hoa Kỳ, chiếm 16% trong tất cả các văn bản khủng hoảng liên quan đến coronavirus. Đây chỉ là một vài trong số những con số được báo cáo mà cộng đồng AAPI đã phải đối mặt trong những tuần gần đây - một cộng đồng liên tục chịu sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất của bất kỳ nhóm chủng tộc nào, và ít có khả năng được thăng chức lên quản lý, tìm kiếm các dịch vụ sức khỏe tâm thần hoặc được tính trong cuộc Tổng Kiểm Tra Dân Số.
Hàng triệu người Mỹ đã nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp vào tuần trước, cho thấy việc sa thải đang lan sang nhiều ngành nghề ban đầu không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc đóng cửa và gián đoạn kinh doanh liên quan đến vi khuẩn corona. Phúc trình đơn khai thất nghiệp hàng tuần của Bộ Lao Động Hoa Kỳ hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 theo sau các tin hôm Thứ Tư nói rằng kinh tế trong quý đầu đã bị thiệt hại nặng nề kể từ thời kỳ Đại Suy Thoái.
Hôm Thứ Năm, 30 tháng 4, Tổng Thống Trump nói rằng ông đã thấy bằng chứng để chứng minh rằng đại dịch vi khuẩn corona truyền nhiễm từ một phỏng thí nghiệm tại Vũ Hán, Trung Quốc, nhưng ông đã không đưa ra chi tiết cái gì là bằng chứng. “Tôi không được phép nói với bạn điều đó,” theo ông cho biết tại cuộc họp báo ở Bạch Ốc nơi mà ông đã nhiều lần cáo buộc chính quyền TQ về việc làm ngơ trong trách nhiệm của họ đối với vi khuẩn, trong khi bỏ ngỏ khả năng nó lây lan một cách cố ý.
Newsom nói rằng các bãi biển tại miền nam California, gồm các bãi biển tại Quận Cam, Los Angeles và San Diego, đã reo chuông báo động, gồm các hình ảnh người tụ tập ở đó và không tuân theo các hướng dẫn giữ khoảng cách xã hội. Ông cho biết tiểu bang muốn làm việc sát cánh với các viên chức địa phương, và nếu họ có thể đưa ra các hướng dẫn tốt hơn, thì các bãi biển có thể “tái mở cửa rất rất nhanh.”
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Hơn một chục người biểu tình, một số trong đó có vũ khí, đã tụ tập hôm Thứ Năm, 30 tháng 4 bên trong tòa nhà Quốc Hội của Michigan để lên tiếng phản đối lệnh cho người dân phải ở trong nhà của Thống Đốc Gretchen Whitmer, với căng thẳng lên cao khi các nhà lập pháp sẵn sàng tranh luận về sự gia hạn của tuyên bố này.
nhiều phó phẩm, nào là tuồng hát bội Kiều, tuồng chèo Kiều, thơ Vịnh Kiều, thơ Xử Án Kiều, Kim Vân Kiều Ca, Kim Vân Kiều Diễn Ca, Túy Kiều Phú… và hàng trăm bài thơ lẫy Kiều nhiều cách ngắn dài, kể cả có người viết lại toàn thể truyện Kiều
Tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, thành phố Westminster, miền Nam California vào lúc 9 giờ sáng Thư Năm ngày 30 tháng Tư năm 2020 lễ đặt vòng hoa và thắp nhang tưởng niệm 45 năm quốc hận 30 tháng Tư đã được long trọng tổ chức, vì tình hình bệnh dịch Covid-19 nên năm nay không được tổ chức đông đúc như những năm trước đây, mặc dù vậy một số các tổ chức cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể cũng đã trang nghiêm tổ chức lễ đặt vòng hoa, thắp nhang tưởng niệm 250,000 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa, 58,000 quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Miền Nam Việt Nam, cùng hàng triệu đồng bào đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển tìm tự do, hàng ngàn quân dân các chính VNCH đã bỏ mình trong các trại lao tù cộng sản.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Kể từ sau đệ Nhị Thế chiến, Việt Nam đã hai lần trễ chuyến tàu lịch sử để toàn dân xây dựng đất nước, chỉ vì những khúc quanh oan nghiệt do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành. Cơ hội thứ ba đang tới, những người cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam có biết chủ động nắm lấy nhằm thoát Tàu và thoát Cộng để chuộc lại phần nào những nỗi oan khiên đã gây ra cho cả dân tộc suốt từ sau Thế chiến Hai đến nay hay không?
Nhìn chung, CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân của QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm. VNCH phải chịu thất bại nặng nề, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả. Hoa Kỳ thắng lợi vì mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát trong danh dự của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Hà Nội phải công nhận VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, phải từ bỏ yêu sách một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Từ năm 75 đến thập niên 80 có lối trên một tiệu người Việt Nam liều chết vượt biển để tìm tự do và cuối cùng một số người may mắn đã đến được bến bờ tự do. Thống kê (2007 ?) cho biết có khoảng trên 35.000 người Việt Nam sinh sống tại thành phố Montréal. Họ được gọi là Les Vietnamiens de Montréal hay Les Viéto-Montréalais. Theo thời gian, cộng đồng người Việt Montréal dần dần lớn mạnh thêm, thích nghi và hội nhập một cách êm ái vào xã hội Québec.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.