Hôm nay,  

Hội Đêm Rằm

07/05/202009:56:00(Xem: 3961)

 


 Chùa Châu Lâm nằm ẩn mình dưới những tàng cây bồ đề xanh mướt quanh năm, trước sân là mảnh vườn đủ hoa xinh cỏ biếc, rộn ràng tiếng chim. Chùa tuy không to lớn bề thế nhưng rất đẹp với lối kiến trúc truyền thống, tuổi đời cũng gần trăm năm, tuy qua nhiều lần tu sửa nhưng vẫn giữ nguyên vẹn dáng vóc thuở ban đầu. Chùa nằm giữa lòng Hạnh Hoa trấn, tháng năm đã lên màu rêu xanh. Dân trong trấn sống về chùa cầu nguyện, tịnh tâm, phó hội…chết gởi cốt nghe kinh, hưởng hương khói, dựa Phật. Người làng quen thuộc đến độ có người bảo:” mỗi khi lên chùa, có nhắm mắt đi cũng không lạc đường”.

 Sáng hôm nay chùa trở nên sáng lạn vô cùng, lá đaị kỳ năm sắc bay lất phất trong nắng gió ban mai, những dây cờ ngũ sắc giăng mắc khắp sân chùa, lễ đài trang hoàng rất đẹp và trang nghiêm. Sau khi ba hồi chuông trống bát nhã vang lên, tiếng trống thì thùng trầm hoà với tiếng chuông ngân bổng thánh thót như đánh thức tâm niệm của mọi người và vang vọng đến những cung trời. Tiếng niệm danh hiệu đức bổn sư hoà với tiếng khánh bay cao bay xa vượt cả không gian. Sau khi thầy trụ trì đọc lời khai mạc là những tiết mục muá dâng hoa cúng dường của các em nhỏ, lễ tụng kinh và lễ tắm Phật diễn ra trong không khí thành kính, trang nghiêm. Lòng người xúc động tạ thâm ân của đức bổn sư. Hoà thượng Thanh Đồng Chương ban đạo từ:

 - Hôm nay ngày Phật đản sinh, hàng tứ chúng về đây dâng hương hoa cúng dường Thế Tôn. Lão tăng tôi có đôi lời nhắn nhủ cùng mọi người: Thế giới này vốn tăm tối đã lâu, con người, phi nhơn, chư thiên quanh quẩn trong sáu đường. Từ khi Thế Tôn thị hiện ở cõi Sa-bà, khai phá con đường giải thoát, đem laị lợi lạc  cho hàng trời người. Ánh sáng chánh pháp xua tan vô minh , pháp vốn chỉ có một nhưng vì căn tánh chúng sanh thiên sai vạn biệt nên mới có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Hơn hai mươi lăm thế kỷ truyền thừa, chánh pháp của Như Lai không tránh khỏi những sai sót, thậm chí sửa đổi và thêm thắt. Chánh Pháp của Thế Tôn truyền đến đâu thì mang màu sắc văn hoá bản địa và phù hợp với đặc tính của cư dân nơi ấy, đó là tính khế lý, khế cơ, phù hợp nhân tâm. Có nhiều pháp môn tu học, nhiều trường phái Phật giáo khác nhau nhưng tất cả cùng công nhận cái cốt lõi: Tứ diệu đế, bát chánh đạo, thập nhị nhân duyên, ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Dù tu pháp môn nào cũng phải bám lấy cái cốt lõi ấy thì không thể sai lạc. Chánh pháp chỉ có một vị giải thoát. Ngày khánh đản đức từ phụ, chúng ta dâng lên hương hoa, đèn nến để cúng dường, thực hiện các nghi lễ… là để tỏ lòng thành, phép tắc tôn giáo. Muốn báo ân Phật một cách chân thật nhất, đúng đắn nhất, hữu hiệu nhất đó là làm theo những gì Phật dạy. 

 Buổi sáng mừng ngày Phật đản sinh, trời trong sáng như thanh minh, lễ tiết trang nghiêm, kính cẩn và hoan hỷ.

Dòng nước thơm tắm pho tượng Thích Ca sơ sinh như tẩy đi những cấu uế phiền não, những sân si tham đắm của đời thường. Lòng người thư thái, an hoà như giải thoát, ít ra trong giây phút hiện tại này.

 Âm thanh niệm danh hiệu bổn sư vang khắp sân chùa, xuyên qua tán lá bồ đề, bay lên hư không, trời xanh dường như xanh hơn, mây trắng tụ hoá vô số hoa, từng đàn chim trắng bay qua giữa bầu trời. Lòng người hân hoan liên tưởng như chư thiên đồng hội tụ về đây đảnh lễ Phật, mừng ngày đản sinh.

 Buổi chiều có thời pháp thoại và vấn đáp, một Phật tử nêu câu hỏi:

 - Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ cõi Sa-Bà, là một vị Phật hiện tại đang giáo hoá, tại sao Tịnh Độ laị tu niệm hồng danh Phật A Di Đà?

 Hoà thượng Thanh Đồng Chương cười hiền hoà:

 - Phật Phật đạo đồng, đồng đức, đồng năng, đồng giải, đồng hành hoàn toàn không có sai biệt và phân chia như tâm chúng ta. Niệm một vị Phật cũng là niệm tất cả chư Phật, sở dĩ chúng ta niệm Phật A Di Đà là  căn cứ vào chỉ dạy của tam kinh Tịnh Độ: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lương Thọ. Kinh Kim Cang cũng có câu:” Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” với chúng ta thì “ vô sở trụ” khó quá, thật khó, khó hành, khó hiểu chỉ có cách trụ vào câu Phật hiệu là dễ nhất, dễ tu, dễ hành…Cái tâm chúng ta luôn loạn động như khỉ chuyền cành, như ngựa chạy rông. Cái tâm chúng ta chấp vào sắc-thanh-hương-vị-xúc-pháp, dính mắc ở Tài-sắc-danh-thực-thùy, cuốn theo dòng bộc lưu lục dục thất tình. Bây giờ niệm danh hiệu A Di Đà, trụ vào câu Phật hiệu, dùng phương pháp trụ vào Phật hiệu để buông bỏ những thứ kia thì còn gì tuyệt diệu hơn!



 Thầy dứt lời thì một Phật tử khác laị hỏi:

 - Chúng con lâu nay niệm Phật cũng ít nhiều an lạc, bây giờ có nhiều ý kiến cho là Tây Phương Cực Lạc không có Thật, không có Phật A Di Đà. Chúng con thật hoang mang, nhiều người thối thất tâm. 

 Thầy từ tốn:

 -Vấn đề này không mới mẻ gì, tuy có lúc lắng và cũng có lúc nổi lên. Vũ trụ vô cùng tận, hành tinh chúng ta chỉ như một hạt buị, thế giới không biên tế, cái thấy biết chúng ta quá nhỏ bé. Không có ai dám khẳng định ngoài thế giới loài người còn có thế giới khác hay không! Nhà Phật có câu:” Nhất thiết duy tâm tạo”, sơn hà đại địa, tinh tú, con người, muôn loài, trời, thần, phi nhân…không ngoài một tâm niệm. Vậy cho thế giới này có thế giới khác không có thì câu kinh kia để vào đâu? Kinh sách cũng thường viết:

 “Thập phương hư không bất ly đương xứ

     Cổ kim tam thế bất ly đương niệm”

 Thời gian vô thủy vô chung, không gian không ngằn mé, quốc độ biến thiên vô cùng, tử-sanh bất tận… tất cả không ngoài một niệm tâm! Vậy thì sao có thể bảo thế giới này có thế giới kia không? Phật này có Phật kia không? Có những sự việc ở ngay hiện đời, trước mắt mà còn chưa thấu rõ thì nói gì đến tha phương thế giới, ba ngàn thế giới, vô cùng tận thế giới. Nhà thiền có câu:” Tự tánh Di Đà duy tâm tịnh độ” tâm tịnh thì độ tịnh, mình niệm Phật mà tâm bình khí hoà thì cứ thế mà niệm. Mình niệm Phật mà giảm bớt sân hận, si mê, tham lam thì cứ thế mà niệm. Mình niệm Phật mà sống giữa đời an lạc thì cứ thế mà niệm. Thà bỏ lý lấy sự vẫn có ích, nếu mà chấp lý bỏ sự thì nguy to! 

 Thầy vừa trả lời xong thì đaị chúng vỗ tay giòn dã, tiếng vỗ tay tưởng chừng như không dứt.

 Đêm Rằm tháng Tư, chùa Châu Lâm lung linh trong muôn ngàn ngọn nến, hoa toả hương, mùi trầm thoang thoảng… tượng bổn sư ngồi an nhiên tự tại dưới cội bồ đề. Một cảnh tượng khiến nhiều người liên tưởng đến một thời pháp hội ở tịnh xá Kỳ Hoàn. Năm ấy, khi Thế Tôn còn tại thế, tịnh xá Kỳ Hoàn có pháp hội lớn. Vương tôn công tử và bá tánh nô nức cúng dường hương thơm và đèn. Có một bà lão ăn mày vét hết túi chỉ được đồng bạc, bà mua đèn và ít dầu đem đến cúng dường Phật. Khi đêm về khuya, các vị tăng đi tắt đèn, bao nhiêu ngọn đều tắt hết, duy chỉ có một ngọn đèn không sao tắt được, có vị vận thần thông mà cũng không tắt được, càng quạt thì càng sáng hơn. Các vị tăng bèn vào thưa với Phật, Phật bảo "Đó là cây đèn cúng dường của bà lão ăn mày, đó là ngọn tâm đăng, các ông không thể dập tắt, không có ai có thể làm tắt được."

 Cảnh tượng chùa Châu Lâm đêm rằm tháng tư thật đẹp và ảo diệu, nhiều người buộc miệng:

 - Chùa Châu Lâm đêm nay sao giống tịnh xá Kỳ Hoàn quá vậy! 

  Một tháng trước đây, khi chuẩn bị công việc tổ chức lễ mừng ngày đản sinh Phật, nhiều Phật tử muốn chùa làm lễ thả hoa đăng ở hồ Tịnh Thủy trước chùa. Thầy ngần ngừ sau đó bảo:

 - Kể cũng hay, cũng đẹp nhưng trước là đèn sau thành rác sẽ làm dơ hồ, ô nhiễm môi trường. Hễ việc gì mà tổn hại đến thiên nhiên, đời sống tự nhiên hay con người thì đều là ác pháp cả. Thả hoa đăng đẹp mắt thật, đẹp trong canh giờ nhưng di haị lâu dài, ý tưởng thả hoa đăng mừng đản sanh Phật cũng hay nhưng không thiết thực. Chi bằng hãy thường xuyên niệm Phật, “ không làm các việc ác, hãy làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch”, luôn làm theo lời Phật dạy ấy là cách cúng dường cao quý nhất, ấy là cách báo ân Phật tốt nhất, ấy cũng là bản hoài của chư Phật nói chung của Phật bổn sư Thích Ca Mâu Ni nói riêng.

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Đồ Bàn thành, 15/04/2020

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.