Hôm nay,  

Có Con Thỏ Ngọc…

17/09/202100:00:00(Xem: 4250)

Những suy nghĩ vặt vãnh nhân ngày Tết Nhi Đồng.

Ngày cuối tuần tôi theo đám trẻ đi rước đèn tháng Tám. Đàn em bé ca hát rộn ràng những bài hát Trung Thu của Sài Gòn ngày trước. Những cái đèn giấy đủ mọi hình dạng. Có thật nhiều đèn cá chép. Những con cá chép mập ú, tròn quay, có ngọn nến lung linh mờ ảo bên trong. Đám rước chỉ thiếu những chiếc đèn làm bằng giấy bóng kính trong suốt. Những chiếc đèn đủ sắc màu. Lũ trẻ một tay níu tay mẹ, tay bà, tay bố, tay anh, tay chị; một tay cầm khúc que ngắn với chiếc đèn treo ở đầu. Ríu rít theo chân nhau đi dọc theo đoạn đường ngắn ngủn bọc quanh ngôi chùa, dưới ánh đèn đường nhạt nhòa. Những chiếc đèn trung thu, bầy trẻ nhỏ, những câu hát quen, giọng trẻ thơ ê a đưa tôi về những ngày thơ ấu.

Chỉ thiếu một vầng trăng.

Ở Bắc Mỹ ngay cả lễ hội Tết Nguyên Đán cũng không thể tổ chức đúng vào mồng một tháng Giêng Âm Lịch. Tết Nhi Đồng cũng thế. Các em đón Tết Trung Thu vào ngày cuối tuần nên buổi rước đèn tháng Tám diễn ra dưới ánh đèn đường, bên dưới những tàng cây rậm lá. Tôi nhập bọn với bầy trẻ thơ, miệng thì thầm câu hát. Tới ngã tư, nơi những khóm lá không đan nhau, bất chợt tôi bắt gặp một mảnh trăng lưỡi liềm.

Trung Thu thời trước ở quê nhà bao giờ cũng có một khuôn trăng tròn vạnh. Và ánh trăng biếc xanh cái sắc màu huyền hoặc, làm đặm nét những hình ảnh tưởng tượng về cây đa, về chú Cuội, về Hằng Nga. Buổi rước đèn năm nay quanh sân ngôi chùa của thành phố cũng có Hằng Nga. Một cô gái mặc áo trắng thanh thoát như một nàng tiên. Nhưng thiếu chú Cuội. Không năm nào có chú Cuội. Chắc chú Cuội “cuội” quá mức nên ít người muốn mời chú chăng. Hằng Nga là một thiếu nữ xinh đẹp trong thành phố. Dường như vai đóng Hằng Nga luôn luôn lọt vào tay một người, bởi tôi thấy nét quen quen trên khuôn mặt trái soan của Hằng Nga đêm rước đèn tháng Tám với đàn em bé của cộng đồng Việt Nam bé nhỏ trong thành phố.

Có bầy em nhỏ. Có bánh Trung Thu. Có đèn nến lung linh. Có chị Hằng. Chỉ thiếu một vầng trăng.

Và thiếu con thỏ ngọc.

Những câu chuyện về Tết Trung Thu tôi thường được nghe thuở còn trẻ thơ về Hằng Nga luôn có kèm theo con Thỏ Ngọc. Thuở ấy tôi là đứa bé hay thắc mắc. Trung Thu nào tôi cũng hỏi những người lớn quanh tôi rằng tại sao chị Hằng luôn đem theo con Thỏ Ngọc mà không là con vật nào khác. Như chú chó Đốm, chú mèo mướp, chú gà trống có cái mào đỏ rực trong sân nhà; hoặc con chuột bạch, con sóc đuôi xù hay bất kỳ con vật nào khác ngoài con Thỏ Ngọc. Nhưng không người lớn nào cho tôi câu giải thích.

Những câu chuyện từ thời Chiến Quốc của nước Tàu - kể về loài Thỏ Ngọc - bảo rằng Thỏ Ngọc (của Tàu) là bạn đồng hành của Hằng Nga, thường giã thuốc trường sinh bằng chày và có bổn phận trông coi Cung Trăng. Thỏ Ngọc của Nhật và Triều Tiên thì chỉ biết giã gạo làm bánh chứ không giã thuốc trường sinh.

Còn có truyền thuyết rằng một vị “trưởng lão” ở Cung Trăng xuống thăm trần gian, cải trang thành gã ăn mày và nhờ Cáo, Khỉ và Thỏ đi tìm thức ăn cho cụ. Khỉ biết leo cây nên hái được trái cây đem về, Cáo thì biết rình bên bờ suối để bắt cá cho vị “trưởng lão”, chỉ riêng Thỏ - vì là loài ăn cỏ nên chỉ - hái được ít lá cây đem về. Lương tâm cắn rứt khiến Thỏ nhảy vào lửa tự làm món BBQ cho vị “trưởng lão”. Vị “trưởng lão” cảm động, kéo Thỏ ra khỏi đống lửa và thưởng công cho Thỏ về Cung Trăng sống với ông.

Vốn là đứa bé tò mò, hay thắc mắc, hỏi này hỏi nọ, những chuyện kể về “lý lịch” Thỏ Ngọc chỉ làm tôi tạm hài lòng trong lúc ấy. Nhưng cái thắc mắc vẫn dán lên óc như mảnh giấy nợ.

Cho đến khi lớn hơn một chút, trong đầu bớt tin chuyện chú Cuội, Hằng Nga và con Thỏ Ngọc; đêm trăng tròn nhất trong năm, tôi không còn nhìn đăm đăm lên khung trăng tròn vành vạnh để nhận diện hình dáng con Thỏ Ngọc (dầu cây Đa của chú Cuội vẫn còn trên ấy), thì tôi phát hiện ra một điều khiến tôi tin rằng mình đã tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi vì sao chị Hằng cứ phải đem theo con Thỏ Ngọc.

Vì sao Hằng Nga cứ phải dẫn theo con Thỏ Ngọc? Bạn có câu trả lời không?

Ngày tôi mới lớn (thế kỷ trước lận) thường nghe người lớn thì thầm với nhau hai chữ “thử thỏ”. Và khi nghe nói trong xóm có ai mới “thử thỏ” xong, thì sớm muộn gì trong khu xóm ấy cũng được nghe tiếng khóc oe oe của một em bé sơ sinh.

Lục lại lịch sử y khoa thời kỳ ấy, người ta sẽ đọc được rằng trong nước tiểu của phụ nữ mang thai có nội tiết tố (hormone) hCG mà nguyên tên là Human Chorionic Gonadotropin, đại khái chất này được tiết ra từ lá nhau (placenta) người phụ nữ có thai, có tác dụng tạo nên sự phát triển của buồng trứng. Vì vậy khi nghi ngờ có thai, người ta lấy nước tiểu người phụ nữ ấy chích vào con thỏ cái, khoảng năm ngày sau, nàng thỏ tội nghiệp ấy bị giết để lấy buồng trứng đặt lên kính hiển vi quan sát. Nếu buồng trứng nàng thỏ phát triển mạnh nghĩa là trong nước tiểu người phụ nữ ấy có hCG, nghĩa là nàng ấy có thai.

Với cô gái và những người thân của cô thì đó có thể là tin vui hay tin buồn tùy trường hợp, nhưng với họ hàng nhà thỏ thì đó là tin buồn. Thời kỳ ấy không có biết bao nhiêu nàng thỏ bị hy sinh. Và một trong những mục đích mà người ta nuôi thỏ chắc là như thế.

Từ đó tôi hiểu vì sao Hằng Nga luôn luôn phải mang theo con Thỏ Ngọc.

Bây giờ tôi không còn và cũng không có cơ hội ngắm trăng rằm tháng Tám. Trăng ở Bắc Mỹ bị ánh đèn đô thị xóa nhòa. Và giờ giấc công việc làm ăn cũng không cho phép thảnh thơi chờ trăng lên đúng đêm Trung Thu để nghe từ ký ức vẳng ra câu hát: “Muốn lên cung trăng, cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang.”

Tuy nhiên tôi vẫn vẩn vơ nghĩ ngợi chuyện chị Hằng và những con Thỏ Ngọc.

Và tôi lan man nghĩ về giải đất quê hương bỏ lại sau lưng. Ở đó trăng chắc cũng chẳng còn sáng như trăng mấy mươi năm về trước. Những cô Hằng Nga Việt Nam bây giờ không cần ôm theo con Thỏ Ngọc. Thỏ Ngọc mất việc làm. Thỏ Ngọc không còn phải hy sinh tính mạng cho cái lý tưởng không mấy cao quý của con người. Và những cô Hằng Nga ở đất nước Việt Nam bây giờ trở thành những nạn nhân của lối sống có (gần như) đủ thứ nhưng thiếu đi cái phần đạo đức. Các cô Hằng Nga xứ Việt trở thành nạn nhân trong bản tin tôi đọc được trong Ngày Dân Số Thế Giới (11 tháng Bảy 2018), rằng “Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á và là một trong 5 quốc gia có tình trạng phá thai nhiều nhất thế giới, chỉ sau Trung Cộng và Nga!”

Và điều nổi bật là phần lớn các thiếu nữ đến các cơ sở hợp pháp giúp phá thai là những người dưới 20 tuổi. Còn biết bao nhiêu vụ phá thai vụng trộm, mà những sinh linh xấu số - ngoài cái bào thai vô tội kia - nhiều khi còn là chính cô gái chẳng may làm mẹ, chứ không còn là những con thỏ (Ngọc) của một thời xa xưa.

Bây giờ khoa học tiến bộ, những que thử thai bán đầy trong các nhà thuốc tây, nên tôi không phải ngậm ngùi tội nghiệp những nàng thỏ (Ngọc) phải đổi mạng mình để con người tìm ra lời giải đáp cho việc làm của họ, tuy nhiên tôi lại thấy tội nghiệp những cô Hằng Nga đất Việt biết chừng nào.

Hôm nay đã gần cuối tháng Chín, nghĩa là Tết Trung Thu đã gần kề. Còn vài đêm nữa, trăng sẽ tròn. Đêm trăng tròn nhất trong năm (từ nhỏ tôi đã được người ta bảo như thế), xin chúc Bạn một cái Tết Trung Thu có con trăng rất tròn, có những chiếc bánh rất ngon (bánh dẻo, bánh thập cẩm), có lồng đèn đủ sắc màu… rộn ràng trong trí nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào cuối tháng 5 vừa qua, tôi lại có dịp quay trở về lại mái trường xưa, để tham dự buổi lễ ra trường của một cháu gái Cynthia Ngô, được lãnh nhận bằng Tiến Sĩ Luật Khoa, tại Đại Học Oklahoma City University (OCU), mà tôi là người đỡ đầu (God Father) khuyến khích cho cháu này theo học ngành luật khoa, cũng tại ngôi trường trước kia tôi học.
Dù bạn chưa từng đến Huế, nhưng đã từng nghe tiếng địa danh này qua hai câu hò quen thuộc: Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương... ..
Đây là chuyện tình yêu xưa, xa xưa lắm rồi, nhưng dư âm vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến thế hệ chúng ta hôm nay… hình như con người sống nương tựa rất nhiều vào tình yêu… tình yêu cho con người nhiều ý nghĩa thiêng liêng, nhiều gia vị đậm đà đáng sống. Nếu hỏi tại sao là vậy, thì thưa rằng bên cạnh tình yêu và cuộc mưu sinh, ta còn có những gì? Bầu cử ư, bầu cử đã qua rồi, ngã ngũ rồi, không còn gì để bàn nữa. Nhưng nếu bạn muốn theo dõi hậu bầu cử, đó cũng là ưu điểm, coi thế sự cuộc đời sẽ diễn tiến ra sao những ngày sắp tới. Trước mắt, bên cạnh, xung quanh còn vây phủ đe dọa đầy chiến tranh tàn khốc hủy diệt đe dọa sự sống còn của nhân loại bằng những vũ khí của khoa học hiện đại tân tiến, cộng với lòng ác độc của tham vọng, của chính trị không phương giải quyết.
Một người bạn nói với tôi rằng có những bài thơ hoặc những đoạn văn nằm hoài trong đầu của mình từ hồi còn nhỏ, nên khi được nhắc tới thì tự động tuôn ra. Tôi thấy có lý. Mỗi khi có dịp nói chuyện với ai về lòng biết ơn, tôi cứ như theo quán tính, chia sẻ một bài thơ ngày xưa tôi học ở bậc Tiểu Học. Không hiểu vì sao! Vì mình có tính hoài cổ? Hay vì đầu óc tuổi nhỏ dễ khắc ghi? Hay vì đây là bài học bắt buộc trong sách giáo khoa? Hay chỉ đơn giản là vì bài thơ có lời lẽ giản dị mà sâu sắc?
Nắng đã tắt từ lâu. Trời đen thẫm bên ngoài. Mùa đã về qua những chiếc lá vàng rơi rải rác theo những câu thơ trong những tạp chí văn chương của thành phố. Mùa thu nằm co trên trang giấy. Heo may lẩn quẩn đầu môi những kẻ gạ tình. Không có mùa thu ngoài đời sống ở nơi này. Hơi nóng vẫn râm ran không khí. Bên ngoài vắng gió. Trong này, chiếc quạt trần lờ lững quay. Và cuộc đối thoại nhì nhằng mãi chẳng đi đến đâu.
Đi dạo trong công viên Vigelandsanlegget, trời rét căm căm. Bỗng dưng, tôi nghe tiếng nhạc réo rắt. Một nhạc công phong cầm ngồi giữa băng tuyết, đang chơi bài Sóng Nước Biếc. Thật là tình cờ kỳ diệu. Mới hôm qua, hôm kia, ở Đức, khi chậm chân nghe nhạc công chơi phong cầm ở nhà ga, trí tôi lao xao nhạc điệu bài Sóng Nước Biếc. Bươn bả chạy nhanh cho kịp giờ xe, tôi tiếc, định bụng hôm nào thuận tiện sẽ đến yêu cầu. Hôm nay, ở Oslo, tôi được nghe Waves of the Danube của nhà soạn nhạc người Lỗ-Ma-Ni, Iosif Ivanovici. Lời Việt Sóng Nước Biếc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương thật tuyệt vời. Trong cái lạnh cắt da, giữa công viên rộn ràng du khách, tôi mơ màng.
Bạn bè hay nói tôi khó chịu từ khi còn nhỏ, như ngẫu hứng ghé nhà người bạn học nào đó trên đường đi học về. Dĩ nhiên tuổi nhỏ đâu có tính trước chuyện gì, nhưng khi tôi cảm thấy không tiện ở lại thì tôi tự ý ra về và chưa bao giờ hiểu được cảm giác đó từ đâu đến để tôi có quyết định trái ý bạn bè, mang tiếng khó chịu.
Tôi ở đâu mà tôi đến đây | Ngày xưa ai đứng ở chỗ này | Hạt sương Trời khóc ngàn năm trước | Sao còn ướt trên lưng bàn tay (tmt)
Thành phố ven quốc lộ cách đó năm cây số, trong khách sạn nhỏ, Hồng chờ người yêu đến hẹn. Đã muộn gần một ngày. Từ hồi hộp sung sướng chuyển sang lo lắng nghi ngờ, giờ đây, thất vọng hoàn toàn xâm chiếm với cảm giác rủ liệt.Trước khi rời Sài Gòn, Dũng nhắn tin cho nàng, sau đó biệt tích. Không ai trả lời điện thoại. Hồng đã viết thư để lại cho Ali, giải thích sự ra đi. Vì mẹ, nàng lấy Ali, vì tình, nàng theo Dũng. Không thể quay trở về.
Mục đích duy nhất của chúng tôi muốn viết bài này, là chỉ để thuật lại và chia sẻ cho các độc giả đọc những lời tâm sự từ đáy lòng của ông bạn chí thân cao niên này của chúng tôi, về nỗi buồn đơn độc, đêm ngày ông ra vô căn nhà ở của ông, cũng chỉ thấy có một thân một mình ông thôi.
Buổi chiều ra cổng nghĩa trang, nắng thu vàng còn đậu lại ngang tường đất thánh, những cây hạt dẻ lá đỏ lá vàng vẫn như đứng đó để chào tạm biệt, mười cây vẫn đó không thiếu một cây.
Có thể nói không ngoa, rằng bầu cử Tổng Thống Mỹ được cả thế giới quan tâm, huống chi Canada là hàng xóm kế bên, hỏi sao không “hot”?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.