Hôm nay,  

Có Con Thỏ Ngọc…

17/09/202100:00:00(Xem: 4177)

Những suy nghĩ vặt vãnh nhân ngày Tết Nhi Đồng.

Ngày cuối tuần tôi theo đám trẻ đi rước đèn tháng Tám. Đàn em bé ca hát rộn ràng những bài hát Trung Thu của Sài Gòn ngày trước. Những cái đèn giấy đủ mọi hình dạng. Có thật nhiều đèn cá chép. Những con cá chép mập ú, tròn quay, có ngọn nến lung linh mờ ảo bên trong. Đám rước chỉ thiếu những chiếc đèn làm bằng giấy bóng kính trong suốt. Những chiếc đèn đủ sắc màu. Lũ trẻ một tay níu tay mẹ, tay bà, tay bố, tay anh, tay chị; một tay cầm khúc que ngắn với chiếc đèn treo ở đầu. Ríu rít theo chân nhau đi dọc theo đoạn đường ngắn ngủn bọc quanh ngôi chùa, dưới ánh đèn đường nhạt nhòa. Những chiếc đèn trung thu, bầy trẻ nhỏ, những câu hát quen, giọng trẻ thơ ê a đưa tôi về những ngày thơ ấu.

Chỉ thiếu một vầng trăng.

Ở Bắc Mỹ ngay cả lễ hội Tết Nguyên Đán cũng không thể tổ chức đúng vào mồng một tháng Giêng Âm Lịch. Tết Nhi Đồng cũng thế. Các em đón Tết Trung Thu vào ngày cuối tuần nên buổi rước đèn tháng Tám diễn ra dưới ánh đèn đường, bên dưới những tàng cây rậm lá. Tôi nhập bọn với bầy trẻ thơ, miệng thì thầm câu hát. Tới ngã tư, nơi những khóm lá không đan nhau, bất chợt tôi bắt gặp một mảnh trăng lưỡi liềm.

Trung Thu thời trước ở quê nhà bao giờ cũng có một khuôn trăng tròn vạnh. Và ánh trăng biếc xanh cái sắc màu huyền hoặc, làm đặm nét những hình ảnh tưởng tượng về cây đa, về chú Cuội, về Hằng Nga. Buổi rước đèn năm nay quanh sân ngôi chùa của thành phố cũng có Hằng Nga. Một cô gái mặc áo trắng thanh thoát như một nàng tiên. Nhưng thiếu chú Cuội. Không năm nào có chú Cuội. Chắc chú Cuội “cuội” quá mức nên ít người muốn mời chú chăng. Hằng Nga là một thiếu nữ xinh đẹp trong thành phố. Dường như vai đóng Hằng Nga luôn luôn lọt vào tay một người, bởi tôi thấy nét quen quen trên khuôn mặt trái soan của Hằng Nga đêm rước đèn tháng Tám với đàn em bé của cộng đồng Việt Nam bé nhỏ trong thành phố.

Có bầy em nhỏ. Có bánh Trung Thu. Có đèn nến lung linh. Có chị Hằng. Chỉ thiếu một vầng trăng.

Và thiếu con thỏ ngọc.

Những câu chuyện về Tết Trung Thu tôi thường được nghe thuở còn trẻ thơ về Hằng Nga luôn có kèm theo con Thỏ Ngọc. Thuở ấy tôi là đứa bé hay thắc mắc. Trung Thu nào tôi cũng hỏi những người lớn quanh tôi rằng tại sao chị Hằng luôn đem theo con Thỏ Ngọc mà không là con vật nào khác. Như chú chó Đốm, chú mèo mướp, chú gà trống có cái mào đỏ rực trong sân nhà; hoặc con chuột bạch, con sóc đuôi xù hay bất kỳ con vật nào khác ngoài con Thỏ Ngọc. Nhưng không người lớn nào cho tôi câu giải thích.

Những câu chuyện từ thời Chiến Quốc của nước Tàu - kể về loài Thỏ Ngọc - bảo rằng Thỏ Ngọc (của Tàu) là bạn đồng hành của Hằng Nga, thường giã thuốc trường sinh bằng chày và có bổn phận trông coi Cung Trăng. Thỏ Ngọc của Nhật và Triều Tiên thì chỉ biết giã gạo làm bánh chứ không giã thuốc trường sinh.

Còn có truyền thuyết rằng một vị “trưởng lão” ở Cung Trăng xuống thăm trần gian, cải trang thành gã ăn mày và nhờ Cáo, Khỉ và Thỏ đi tìm thức ăn cho cụ. Khỉ biết leo cây nên hái được trái cây đem về, Cáo thì biết rình bên bờ suối để bắt cá cho vị “trưởng lão”, chỉ riêng Thỏ - vì là loài ăn cỏ nên chỉ - hái được ít lá cây đem về. Lương tâm cắn rứt khiến Thỏ nhảy vào lửa tự làm món BBQ cho vị “trưởng lão”. Vị “trưởng lão” cảm động, kéo Thỏ ra khỏi đống lửa và thưởng công cho Thỏ về Cung Trăng sống với ông.

Vốn là đứa bé tò mò, hay thắc mắc, hỏi này hỏi nọ, những chuyện kể về “lý lịch” Thỏ Ngọc chỉ làm tôi tạm hài lòng trong lúc ấy. Nhưng cái thắc mắc vẫn dán lên óc như mảnh giấy nợ.

Cho đến khi lớn hơn một chút, trong đầu bớt tin chuyện chú Cuội, Hằng Nga và con Thỏ Ngọc; đêm trăng tròn nhất trong năm, tôi không còn nhìn đăm đăm lên khung trăng tròn vành vạnh để nhận diện hình dáng con Thỏ Ngọc (dầu cây Đa của chú Cuội vẫn còn trên ấy), thì tôi phát hiện ra một điều khiến tôi tin rằng mình đã tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi vì sao chị Hằng cứ phải đem theo con Thỏ Ngọc.

Vì sao Hằng Nga cứ phải dẫn theo con Thỏ Ngọc? Bạn có câu trả lời không?

Ngày tôi mới lớn (thế kỷ trước lận) thường nghe người lớn thì thầm với nhau hai chữ “thử thỏ”. Và khi nghe nói trong xóm có ai mới “thử thỏ” xong, thì sớm muộn gì trong khu xóm ấy cũng được nghe tiếng khóc oe oe của một em bé sơ sinh.

Lục lại lịch sử y khoa thời kỳ ấy, người ta sẽ đọc được rằng trong nước tiểu của phụ nữ mang thai có nội tiết tố (hormone) hCG mà nguyên tên là Human Chorionic Gonadotropin, đại khái chất này được tiết ra từ lá nhau (placenta) người phụ nữ có thai, có tác dụng tạo nên sự phát triển của buồng trứng. Vì vậy khi nghi ngờ có thai, người ta lấy nước tiểu người phụ nữ ấy chích vào con thỏ cái, khoảng năm ngày sau, nàng thỏ tội nghiệp ấy bị giết để lấy buồng trứng đặt lên kính hiển vi quan sát. Nếu buồng trứng nàng thỏ phát triển mạnh nghĩa là trong nước tiểu người phụ nữ ấy có hCG, nghĩa là nàng ấy có thai.

Với cô gái và những người thân của cô thì đó có thể là tin vui hay tin buồn tùy trường hợp, nhưng với họ hàng nhà thỏ thì đó là tin buồn. Thời kỳ ấy không có biết bao nhiêu nàng thỏ bị hy sinh. Và một trong những mục đích mà người ta nuôi thỏ chắc là như thế.

Từ đó tôi hiểu vì sao Hằng Nga luôn luôn phải mang theo con Thỏ Ngọc.

Bây giờ tôi không còn và cũng không có cơ hội ngắm trăng rằm tháng Tám. Trăng ở Bắc Mỹ bị ánh đèn đô thị xóa nhòa. Và giờ giấc công việc làm ăn cũng không cho phép thảnh thơi chờ trăng lên đúng đêm Trung Thu để nghe từ ký ức vẳng ra câu hát: “Muốn lên cung trăng, cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang.”

Tuy nhiên tôi vẫn vẩn vơ nghĩ ngợi chuyện chị Hằng và những con Thỏ Ngọc.

Và tôi lan man nghĩ về giải đất quê hương bỏ lại sau lưng. Ở đó trăng chắc cũng chẳng còn sáng như trăng mấy mươi năm về trước. Những cô Hằng Nga Việt Nam bây giờ không cần ôm theo con Thỏ Ngọc. Thỏ Ngọc mất việc làm. Thỏ Ngọc không còn phải hy sinh tính mạng cho cái lý tưởng không mấy cao quý của con người. Và những cô Hằng Nga ở đất nước Việt Nam bây giờ trở thành những nạn nhân của lối sống có (gần như) đủ thứ nhưng thiếu đi cái phần đạo đức. Các cô Hằng Nga xứ Việt trở thành nạn nhân trong bản tin tôi đọc được trong Ngày Dân Số Thế Giới (11 tháng Bảy 2018), rằng “Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á và là một trong 5 quốc gia có tình trạng phá thai nhiều nhất thế giới, chỉ sau Trung Cộng và Nga!”

Và điều nổi bật là phần lớn các thiếu nữ đến các cơ sở hợp pháp giúp phá thai là những người dưới 20 tuổi. Còn biết bao nhiêu vụ phá thai vụng trộm, mà những sinh linh xấu số - ngoài cái bào thai vô tội kia - nhiều khi còn là chính cô gái chẳng may làm mẹ, chứ không còn là những con thỏ (Ngọc) của một thời xa xưa.

Bây giờ khoa học tiến bộ, những que thử thai bán đầy trong các nhà thuốc tây, nên tôi không phải ngậm ngùi tội nghiệp những nàng thỏ (Ngọc) phải đổi mạng mình để con người tìm ra lời giải đáp cho việc làm của họ, tuy nhiên tôi lại thấy tội nghiệp những cô Hằng Nga đất Việt biết chừng nào.

Hôm nay đã gần cuối tháng Chín, nghĩa là Tết Trung Thu đã gần kề. Còn vài đêm nữa, trăng sẽ tròn. Đêm trăng tròn nhất trong năm (từ nhỏ tôi đã được người ta bảo như thế), xin chúc Bạn một cái Tết Trung Thu có con trăng rất tròn, có những chiếc bánh rất ngon (bánh dẻo, bánh thập cẩm), có lồng đèn đủ sắc màu… rộn ràng trong trí nhớ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.