Hôm nay,  

Chuyện Gà Tây

22/11/202117:17:00(Xem: 3222)

 

GA TAY
Gà Tây. (www.pixabay.com

 Lá đổ ào ạt, từng mảng lá rụng đồng loạt, từng bựng lá bay như đàn bướm. Trời cuối thu, mặt đất phủ đầy lá, đâu đâu cũng lá. Rừng cây đã gần trơ trọi, những khoảng trống, những thân cây như bộ xương cắm trên mặt đất cố vươn những cánh tay lên hư không. Lão Omeehar bệ vệ trong bộ lông xanh đen pha xám, mào và tích lòng thòng chảy dài. Lão nặng đến ba mươi cân Anh chứ ít sao, lúc nào cũng khệnh khạng dẫn ba mụ vợ và đàn con đi loanh quanh kiếm ăn. Ba mụ vợ nhỏ con hơn hẳn, lông cũng xỉn màu chứ không diêm dúa như lão. Khu rừng sồi cạnh đồng cỏ này là lãnh địa của lão ta, lão luôn đảo mắt canh chừng cho vợ và con. Trong lúc kéo được con giun từ trong đám mùn lá, lão chợt  nhớ ra mùa này là mùa kiếp nạn của giống nòi, cũng vào thời gian này, năm ngoái bọn người đến đây  hốt trọn cả ổ. Lão may mắn chạy thoát, sau đó mới cặp lại ba bà này và sanh ra một đám nhóc tì mới. Lão vẫn nhớ như in cái cảnh tượng kinh hoàng đó, cho nên lão cảnh giác cao độ, hễ có tiếng động hay bóng dáng bọn người là lập tức kêu toáng lên để cho cả đàn biết, tuy vẫn miệt mài kiến ăn nhưng lão không quên nhắc nhở:

- Chúng mày đừng có ham mồi mà quá mà toi mạng, hãy cẩn thận, hễ thấy bóng dáng lũ người là phải lủi ngay lập tức! Tìm chỗ kín ẩn trốn, mùa này lũ người đang săn bắt chúng ta để làm cỗ cho buổi lễ của bọn họ.

 Ba bà vợ gục gặc đầu ra vẻ hiểu chuyện, mắt ngẩng lên nhìn dáo dác một tí, miệng kêu cục cục liền cúi xuống bới tìm thức ăn ngay, xem ra lời cảnh tỉnh của lão Omeehar chẳng đủ đô để gây được sự chú ý của ba bà vợ và đàn con. Bọn chúng cứ tí tởn, đủng đỉnh chẳng chút sợ chi, có lẽ bọn chúng chưa từng đổ lệ nên hổng biết kiếp nạn thảm khốc của giống nòi.

 Lão Omeehar dẫn cả bầu đoàn thê tử đi qua một cánh rừng khác, ở đấy gặp gia đình lão Lakoonee và gia đình chú em Chatoogar. Các bà vợ lập tức xúm lại cục cục tám đủ thứ chuyện trên rừng dưới rú. Bà Cherooko, vợ cả của lão Omeehar cất giọng khào khào:

- Này các bà, ở đây có nhiều thức ăn không? Tôi bảo lão chồng tôi phải đến gần trang trại của lũ người mới có nhiều thức ăn, ở đấy lũ người làm rơi vãi nhiều kê, bắp và các loại hạt khác. Khổ nỗi lão chồng tôi nhát như thỏ đế, lão bảo chốn ấy nguy hiểm nên chẳng chịu đến đó.

 Mụ Vajero, vợ lão Lakoonee hưởng ứng:

- Bà nói đúng đấy, gần trang trại của lũ người mới có nhiều ngô, thóc rơi vãi, đến đấy tha hồ ăn. Ông nhà tôi cũng giống lão chồng của bà, lúc nào cũng sợ sệt, lão cấm ngặt cả nhà không được bén mảng đến gần trang trại.

 Mụ vajero nói xong núng nính đi một vòng rồi lại tám với bà Cherooko:

- Bộ cánh của bà năm nay đẹp đấy!

- Cảm ơn bà, có lẽ năm nay ăn uống đầy đủ nên lông cũng mướt ra. Bà thấy đấy, lão chồng tôi cứ như là con công đực, bộ lông, tích, mào của lão rực rỡ sắc màu, lão diện thấy mồ!

 Miệng nói thế nhưng trong lòng mụ ta đầy sung sướng hãnh diện, chất giọng của mụ thể hiện ra tất cả, rõ ràng mụ cố khoe chồng đấy thôi! Mà sự thật cũng đúng vậy, nhờ cái mã bề ngoài ấy mà lão tán em nào là em ấy đổ, mụ mê lão cũng vì thế, rồi mụ Kaorosee và mụ Betoonar cũng mê đắm chấp nhận làm vợ bé. Một lát sau họ nhà gà tây từ các khu rừng lân cận kéo đến, một số từ các đồng cỏ cũng tụ tập lại thật đông. Lão Omeehar nhảy lên mô đất cao, dõng dạc cất tiếng:

- Này người anh em thân mến, này họ nhà gà tây chúng ta! Dòng tộc chúng ta ở đây đã bao đời, đất này của tổ tiên chúng ta truyền lại. Từ khi lũ người khám phá ra và kéo đến đây, bọn họ cướp quyền làm chủ và bách hại chúng ta. Tôi còn nhớ lời cụ tổ truyền lại, năm ấy khi lũ người kéo đến xứ sở này, bọn họ chịu không nổi mùa đông khắc nghiệt nên bỏ mạng gần hết. Những kẻ sống sót nhờ thổ dân bản địa giúp đỡ thực phẩm, chỉ cách trồng trọt và cách tồn tại, đến mùa thu năm sau, bọn họ gặt hái thu hoạch mùa màng rất đầy đủ sung túc. Bọn họ làm lễ tạ ơn trời đất, tạ ơn mùa màng, lễ vật bọn họ không chỉ là ngô, khoai tây, bí ngô… mà còn có cả thịt của chúng ta. Kể từ đó về sau, năm nào bọn họ cũng tổ chức lễ tạ ơn và cũng từ đó xảy ra kiếp nạn cho dòng tộc chúng ta. Khi lũ người đến xứ này còn ít, bọn họ săn bắt chúng ta, tuy nhiên với cái mức độ không đáng là bao, chúng ta có thể chấp nhận được, coi  như là sự hao hụt tự nhiên. Tuy nhiên khi lũ người ngày càng đông, mức độ săn bắt càng khốc liệt hơn, việc này đe dọa sự tồn tại của giống nòi, có nhiều loài đã tuyệt diệt, chẳng hạn như họ nhà bò bison. Khi họ gà tây chúng Ta trong thiên nhiên không còn nhiều nữa. Lũ người lập ra những trại nuôi gà tây, mỗi mùa lễ tạ ơn, lũ người giết đến mấy mươi triệu mạng gà tây. Bọn họ giết mấy mươi triệu mạng sống để mừng một cái lễ tạ ơn, không biết ơn ai mà chúng ta phải chịu cái nạn này?

 Lão Omeehar nói một hơi dài, không biết có chuẩn bị trước hay không mà rất trôi chảy và đầy tính thuyết phục. Lão xúc động quá nên nghẹn lời, khóe mắt lão rơi hai giọt nước trong vắt như hạt sương trên ngọn cỏ sớm mai. Phải công nhận lão nói hay quá, thật quá làm lay động cả lũ gà tây, bọn chúng rù rì rúc rích với nhau, nhiều kẻ cảm động mạnh nên mặt mày đỏ gay. Lão đệ Lakoonee cất giọng khàn khàn:

- Kiếp nạn của dòng tộc ta, mỗi năm vào mùa lễ này, mấy mươi triệu sinh mạng bị giết thịt, tại sao lũ người tạ ơn mà lại đi giết chúng ta? Xem ra cái tạ ơn này chẳng đem lại ơn mà chỉ sanh oán.

 Đám gà tây lào xào tao tác, bọn chúng ngừng tìm thức ăn, trong cái giây phút tỉnh ngộ hiếm hoi này chúng biết sợ, biết lo, biết thao thức vì giống nòi. Chỉ tiếc là khoảnh khắc thức tỉnh ngắn ngủi quá, chỉ chừng phút chốc là lập tức quên ngay. Chúng lại tiếp tục tìm kiếm thức ăn, tranh nhau ỏm tỏi, đánh nhau dữ dội. Mụ vợ lão Omeehar và một mụ gà tây xa lạ khác tru tréo giằng xé giành nhau một con giun. Mụ nào cũng cố nuốt phần nhiều hơn, chẳng ai chịu ai, trợn mắt, xòe cánh, gương móng sẵn sàng ẩu đả. Con giun đứt làm đôi, mỗi mụ nuốt một phần. Mụ Cherooko điên tiết chửi:

- Con bà nó! Mày dám giựt giun của bà à? Cà chớn là bà chơi tới bến, bà chẳng ngán con nào!

Mụ gà tây xa lạ kia cũng chẳng vừa:

- Giun nào của bà? giun của đất, của rừng, ai bắt được ăn! Bà làm gì tôi nào? Bà muốn chơi kiểu nào tôi cũng chìu!

 Cả hai mụ đều hầm hè gầm ghè nhau, những lời đầy tâm huyết của lão Omeehar vừa lọt vào tai này đã bay qua tai kia mất rồi, chẳng có chút nào đọng lại trong đầu hay trong trong tim. Mà nào chỉ có hai mụ  quên, cả bọn gà tây cũng thế thôi, xúc động một tí, tỉnh thức một tí khi nghe lời tâm huyết cảnh tỉnh nhưng quay lại kiếm mồi là lập tức quên béng ngay. Cả bọn lao vào tranh ăn, đánh nhau vì con mái, cấu xé nhau vì kẻ kia có bộ mã đẹp hơn, chơi nhau tới bến vì thằng nọ có tiếng kêu nổi trội, hạ gục nhau vì lãnh địa...Lão Omeehar lắc đầu, nào phải ai xa lạ, ngay cả vợ con lão cũng thế kia mà, lão còn ngơ ngẩn không biết xử lý sao thì chú em Chetoogar khều khều lão Omeehar và lão Lakoonee nói nhỏ:

- Kiếp nạn của dòng tộc chúng ta có phải đáng lo lắng lắm không? Tôi nghe người ta chỉ giết gà tây nuôi ở trang trại thôi mà! Lũ gà tây công nghiệp ấy nhiều vô số, không gây ảnh hưởng gì chúng ta!

 Lão Omeehar lấy đôi cánh vỗ vỗ đầu chú em:

- Chú em khờ quá, tuy lũ người giảm săn bắt gà tây tự nhiên nhưng kiếp nạn của dòng tộc vẫn nguy hiểm lắm. Còn bọn gà tây công nghiệp tuy có khác chút ít với chúng ta nhưng cũng là dòng giống, cũng là mạng sống. Lẽ nào bọn họ giết mấy mươi triệu mạng sống mà chú em cho là không quan trọng sao?



 Lão đệ Lakoonee phụ họa:

- Không phải chỉ giết thảm, ngay cả sống cũng thê thảm lắm, hàng chục triệu sinh mạng chen chúc trong những cái chuồng kín mít, ăn thức ăn công nghiệp, bị chích thuốc tăng trưởng và các loại hóa chất khác. Đời sống trong chuồng công nghiệp là một vòng tròn kín từ khi ra đời cho đến khi giết thịt, những chuồng trại ấy đích thị là địa ngục trần gian, hàng triệu con gà con sẽ được máy sàng lọc, con nào không đủ tiêu chuẩn sẽ bị xay nát làm thức ăn cho những con khác, những con đủ tiêu chuẩn cứ đứng trong chuồng, chỉ có ăn, bài tiết và chờ đủ ngày thì giết thịt.

 Lão ngưng một tí, tằng hắng rồi lại tiếp:

- Những con gà tây công nghiệp không thể sống trong môi trường tự nhiên, những đặc tính của gà tây tự nhiên đã mất gần hết rồi, chúng chỉ là những cái bị thịt ăn, thở và bài tiết. Thịt gà tây công nghiệp dành cho đại chúng, còn những thành phần giàu có hay những kẻ sành điệu thì vẫn thích thịt gà tây tự nhiên, bọn chúng sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền để săn bắt hay mua gà tây tự nhiên mà ăn.

 Trong lúc lão Omeehar, Lakoonee, và chú em Chetoogar đàm đạo chuyện tồn vong của giống nòi, lũ gà tây vẫn nhởn nhơ như chẳng có việc gì xảy ra. Bọn chúng chẳng quan tâm gì đến tiền đồ hay vận mệnh của họ nhà gà tây, có không ít kẻ còn cười cợt chế giễu. Thằng Umeka bĩu môi:

- Lo bò trắng răng, cứ vui chơi hưởng thụ đi, chuyện ấy cứ để bọn người lo. Làm gì có chuyện tuyệt diệt, còn chuyện lũ gà tây công nghiệp lại càng chẳng đáng quan tâm, bọn ấy không cùng đẳng cấp với chúng ta.

 Một đám đông ồn ào hưởng ứng, thằng Umeka được thể càng hung hăng hơn, nó kêu gọi:

- Anh em ơi, tội gì chúng ta không hưởng thụ ăn chơi cho sướng đời, đời có bao nhiêu đâu? Những chuyện bao đồng cứ để lão già Omeehar và những kẻ như lão ấy lo!

 Thằng Umeka dứt lời, đám choi choi, những lão sồn sồn, mấy em chân dài móng đỏ… hò reo rần rần:

- Chúng ta sống phải hưởng thụ ăn chơi cho đã đời, chuyện dòng tộc, lãnh địa có người khác lo.

 Bọn chúng tụ thành nhóm theo sở thích rồi kéo ra bìa rừng giao phối, ăn giun dế ,hạt cỏ… Đám  theo thằng Umeka đi rồi, số còn lại tuy nhiều hơn nhưng lừng khừng chẳng nghe theo lão Omeehar nhưng cũng chẳng chấp nhận lời thằng Umeka. Cái đám đông này rất bạc nhược và dễ lung lay, khi nghe lời hùng biện của lão Omeehar thì cho là đúng nhưng khi gặp lời xảo biện của thằng Umeka thì cũng cho là phải, Chuyện dòng tộc, lãnh địa tuy có biết đến nhưng chỉ với vài con giun, nắm hạt kê là lập tức quên béng ngay thôi, sẵn sàng đấu đá nhau chí tử để giành những cái món bé tí đó. Lão Omeehar kiên nhẫn, chờ lắng xuống một chút, lão lại lên tiếng, giọng lão trầm lắng hơn, pha chút ngậm ngùi: 

- Lũ người buồn cười thật! Chúng ta đang sống tự do ở trong rừng, chẳng gây hại ai ấy thế mà bọn họ săn đuổi chúng ta, giết chúng ta để ăn thịt, bọn họ kháo nhau thịt gà tây tự nhiên ngon hơn gà tây công nghiệp. Có một điều mỉa mai hơn hết, mỗi năm họ bắt một kẻ to nhất và đẹp nhất trong chúng ta để đem về dinh quốc chủ làm lễ tha mạng. Đời sao tréo ngoe? Kẻ làm hại đi tha tội cho kẻ bị hại, chúng ta có tội tình gì để được quốc chủ tha mạng?

 Đám đông lại hưởng ứng vỗ cánh phành phạch làm cho đám lá khô dưới chân xào xạc bay tan tác. Chúng đồng thanh gào to:

- Chúng tôi có tội tình gì? Chúng tôi chẳng cần ai tha mạng, hãy để chúng tôi sống tự do!

 Cánh rừng rụng hết lá nên trống trải, tiếng gào của chúng theo gió bay đi thật xa, lan qua đồng cỏ, men theo sông suối, tỏa đến cả những vùng vốn quanh năm thâm u vì lá rừng. 

 Buổi sáng ngày lễ tạ ơn, dinh quốc chủ trang hoàng thật đẹp, đầy đủ sắc màu gợi nhớ một mùa màng bội thu. Dinh quốc chủ cũng như mọi nơi khác của xứ sở này, tất cả đã sẵn sàng cho mùa lễ cuối năm. Trước sân dinh quốc chủ, một chú gà tây to béo và trắng muốt, đuôi xòe tròn như nan quạt, mào tích dài lòng thòng đỏ tươi. Chú gà tây đang chờ quốc chủ ra làm lễ tha mạng. Cánh phóng viên, nhà báo của các cơ quan truyền thông đã túc trực đông đảo, những nhân viên an ninh và phục vụ đi lại lăng xăng tíu tít. Chú gà tây tròn xoe mắt nhìn, dường như chú ta cảm nhận có việc chi đó sắp xảy ra nhưng chú ta không biết là việc gì. Chú ta là kẻ may mắn hơn mấy mươi triệu đồng loại của chú trong mùa lễ này. Chú sẽ được quốc chủ tha mạng, hình ảnh chú sẽ được người ta phát lên trên truyền thông, trên mạng xã hội. Cả thế giới đều thấy chú may mắn khi được quốc chủ tha mạng. Một sự kiện không thể thiếu trong mùa lễ này của xứ sở. Chú không thể nào biết được, ngoài sân thì lễ tha mạng cho chú rất trang trọng nhưng cũng lúc ấy trong đại sảnh, trên bàn tiệc có mấy kẻ đồng loại của chú đã bị quay vàng ươm, đang chờ quốc chủ và bộ sậu làm lễ tha mạng xong sẽ vào khai tiệc. Chú quả thật may mắn, bị bắt từ rừng đem về dinh để làm lễ tha mạng. Cả thế giới loài người thấy chú được tha mạng trong khi mấy mươi triệu đồng loại của chú bị chết thảm, bị quay trong những cái lò nướng hiện đại hoặc bị hầm nhừ trong những cái nồi tân tiến mà chẳng ai thấy biết. Chú được tha mạng mừng lễ tạ ơn, đồng loại chú bị giết thịt cũng vì lễ tạ ơn.

 Dinh quốc chủ thật tưng bừng, thật vui nhộn rộn ràng. Chú bé kenny J, con trai quốc chủ đến bên chú gà tây sắp được tha mạng. Chú bé ôm lấy gà tây vỗ về:

- Cậu may mắn lắm đấy, lát nữa thôi, ba tớ sẽ tha mạng cho cậu. Cậu hãy về đồng cỏ rừng hoang sống vui vẻ nhé!

 Chú bé vuốt bộ lông trắng muốt mướt rượt của gà tây, chú mân mê cái tích dài tòng ten của gà tây không chán. Mái tóc vàng hoe của chú bé cạ cạ vào bộ lông trắng gà tây sao mà hài hoài và đẹp đến lạ lùng. Chợt chú bé nắm tay lão trợ lý thân cận của quốc chủ lắc lắc:

- Tại sao chỉ tha mạng cho mỗi con gà tây này mà không tha mạng cho những con gà tây khác?

 Lão trợ lý cười với Kenny.

- Không được, nếu tha mạng cho hết thì lấy gì ăn để mừng lễ tạ ơn?

 Chú bé vẫn không chịu:

- Chúng ta có thể ăn khoai tây, bánh mì, cháo kê, bí ngô… và nhiều món khác nữa!

- Không thể được! Truyền thống chúng ta là lễ tạ ơn phải ăn gà tây.

- Mình tạ ơn sao lại phải ăn chúng? Chúng hiền lành và dễ thương thế kia mà.

- Khi tổ tiên chúng ta đến đất này, chúng ta đã ăn khoai tây, bánh mì và gà tây để sống sót và giờ đã là truyền thống.

- Chúng ta giết chúng để ăn thịt sao lại làm lễ tha mạng chúng?


 Lão trợ lý đuối lý, không biết nói thế nào cho chú bé thông, vả lại y cũng bận rộn với trách nhiệm của y, phải hoàn tất những khâu cuối chuẩn bị cho quốc chủ ra làm lễ tha mạng gà tây. Lão ta chốt hạ:

- Cháu muốn biết thì hãy gõ vào google để tìm hiểu thêm nhé! Chú đang đang bận cho buổi lễ, không có thời gian để trò chuyện với cháu, hẹn gặp cháu sau nhé!

 Nói xong lão rảo bước đi ngay, chú bé vẫn quyến luyến bên con gà tây không muốn rời, cái khoảnh khắc cảm thông của chú bé vô tình lọt vào ống kính của máy chụp hình và máy quay phim của đám phóng viên, chẳng mấy chốc hình ảnh này tràn ngập khắp các màn ảnh trên toàn thế giới, mạng xã hội cũng dậy sóng theo hình ảnh này, cái hình ảnh ngây thơ, trong sáng và nhân bản trở thành tin nóng nhất của chương trình thời sự, có vô số lời bình và bấm nút yêu thích trên mạng xã hội. Các gia đình ăn tiệc mừng lễ tạ ơn, vừa ăn thịt gà tây vừa tấm tắc khen ngợi hình ảnh chú bé con ôm chú gà tây được tha mạng trong buổi lễ tạ ơn.


TIỂU LỤC THẦN PHONG 

Ất Lăng thành, 11/21

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
Ngày xưa rất xa xưa, ở vùng quê thôn dã, người dân sống giản dị, đơn sơ, mộc mạc; người ta trồng tỉa những vườn rau cải, vườn ngô, vườn cà… lấy hoa lợi để sống. Thường thường có chim chóc kiếm ăn đến phá phách, dãi dãi, mổ mổ những hạt mới ươm trồng hay những nụ hoa mới ra, chúng ăn, với con người trồng tỉa lấy hoa lợi là chúng nghịch ngợm và phá hoại, ăn khín. Mới đầu chúng đến một vài con, sau rủ nhau đến nhiều hơn, cả nhà cả đàn chim chóc… và người gia chủ trồng tỉa phải tìm cách bảo vệ hoa màu của họ, nguồn sống của họ.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.