Hôm nay,  

Hồn Xuân

28/01/202200:00:00(Xem: 2724)

 

Minh hoa Đinh Trường Chinh
Hình minh họa - Tranh Đinh Trường Chinh 

 

Kể từ “Ngày ấy”, cuộc chia biệt tới nay đã hơn 45 năm vật đổi sao dời, cụ ông cụ bà mới có dịp gặp lại nhau. Kể nhau nghe chuyện gió bấc mưa phùn, màu trăng trên bến cũ. Tình già, tình như rêu.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            
Bé gái tên Nhiên hầu bà nội đã nhiều năm nay, từ năm cô lên mười. Hầu, là phải luôn gần nội, đôi lúc đọc truyện cho bà nghe, mô tả những gì đang có trước mắt nhưng nay bà không còn nhìn thấy. Cây mai vườn nhà ngày giáp Tết nhiều hoa hay ít. Có đàn chim trời nào đang bay qua trên từng cao kia không? Tính tình bà rất hiền hòa. Hay kể chuyện xưa. Hồi ông nội là một sĩ quan quan trẻ, rất đẹp trai, hào hoa, rất thương yêu bà. Bà bảo, thuở bé, bà đã thấy đàn chim bay từ phương bắc vào nam trốn mùa lạnh, ngày đầu xuân trời quang mây tạnh, khí tiết ấm áp, chúng bay trở về phương bắc. Đại khái bà muốn biết những gì giờ đây bà chỉ cảm, chỉ nghe, chỉ ngửi được, nhưng không thể nhìn thấy được.

Bà nội nói bà mất ánh sáng vì ông nội cho bà được mù. Ông tặng bà một dịp thương nhớ không dịp nào có thể nhớ thương hơn. Một trận khóc dai dẳng, khiến đôi mắt mờ dần. Đâu ngờ nước mắt là lá chắn vĩnh cửu che cắt ánh sáng. Ông nội cũng thương bà lắm, nên trong thăm thẳm lòng ông, có món ích kỷ lạ lùng, ông muốn bà nên mù, “Em ạ, hãy thôi nhìn. Đừng nhìn gì nữa khi mỗi chúng ta người này đã mất người kia”.

Sống trong cái lịch sử quái lạ, đầy hố thẳm của Việt Nam, sự cách biệt tâm linh tình cảm giữa hai thế hệ nối nhau đã chứa đầy ly biệt. Bé Nhiên rất rối rắm mỗi khi nghe bà nội tâm sự. Cô không tiêu thụ nỗi cái biển “nỗi lòng” quá khứ của một người mất ánh sáng. Cô đang trong một thế giới riêng, vô tư trẻ trung, khó chia sẻ, hóa giải được tâm trạng của bà, tuy cô và bà có dòng máu chung.

Lại rất đỗi hoang đường, khi Nhiên nghe cha cô nói/kể/giảng giải về “Ngày ấy”, ngày đành chia biệt giữa ông bà nội của cô. Cha cô nói nhiều lắm, nhưng ông cười thật thà, không tin rằng mình nói/tả đúng cái thời sự thời cuộc đã từng diễn ra ấy. Với ông, nó như một chuyện cổ tích.

Ông tự than van “Hồi đó cha mới sáu tuổi mà, nào biết trời trăng gì”. Những đường phố, vỉa hè Sàigòn, người ta vất đầy những vũ khí, nón sắt, giày trận, những bộ quân phục màu ô liu. Quân đội Miền Nam tan rã, bỏ núi rừng rút về đồng bằng, tan nát từ đồng bằng, co cụm trong thủ đô, rồi tan bong bóng. Đường phố một trưa nắng bỗng như rực lửa, với tiếng gầm thét của đoàn xe tăng, những binh lính ốm o, da tái nhợt, bấy lâu từ sâu trong múi rừng đã xuất hiện giữa các đại lộ Sàigòn. Gấp gáp quá, dân chúng Miền Nam chẳng ai kịp buồn thảm hay tỉnh táo biện minh cho cái giây phút tuyệt vọng ấy.

Đã 47 năm qua, cha của Nhiên, một đứa bé sáu tuổi nay đã qua năm mươi, tuổi của tri thiên mệnh, ông đã chẳng thể kể lại câu chuyện “Ngày ấy” đúng sự thật là một nhân chứng đã từng tham dự. Tuổi thần tiên, trí nhớ trong lành đã rất mực nhuộm màu mơ hoặc. Những nan vấn bí ẩn, về cái gọi rằng lịch sử, vẫn chưa hề được giải mã.

Hãy đi hỏi mọi người. Hỏi những mái đầu hôm nay trắng màu cước ở phố Bolsa, Nữu Ước, Houston. Hãy đến hỏi những phận người đang khô héo ở Sàigòn, Đà Nẵng, Nha Trang. Hỏi những trang giấy vàng ố sự thật. Tất cả sẽ nói cho nghe, “Ngày ấy” rạch ròi. Bởi, chính họ, trong suốt cuộc nội chiến Bắc-Nam, tất cả đã cùng lên sân khấu diễn tuồng. Chẳng ai là khán giả. Kịch hạ màn, chỉ họ với nhau hiểu và nhớ tuồng kịch.

Chỉ họ chia sẻ những vết thương với nhau thôi. Bình minh cho một bên. Bên còn lại, nhận lấy hoàng hôn.

Những đêm trăng còn lại, ai đó ngồi một mình. Có thể trong núi non. Có thể giữa con đường mọi người thân quen đã không còn ai.

Mọi sự đã già nua. Kẻ diễn tuồng đã lần lượt cỡi hạc bay đi, kẻ còn lại đã tay run chân yếu, mất trí nhớ. Nhưng chuyện đời chẳng bao giờ khép lại, vì mỗi mùa xuân luôn mở ra cuốn lịch mới.

**

Chiều lung. Gió đầu xuân se lạnh. Bà bảo đặt một chiếc ghế ngoài vườn cho bà ngồi.   Chừng như bà đánh hơi được mùi của núi, bà quay mặt đúng hướng núi. Tai bà rất thính, bà nghe được tiếng côn trùng xa. Nhiều đêm khuya, bà ngủ rất ngon, hơi thở đều, nhưng môi miệng bà luôn thầm thì. Nói với ai trong giấc ngủ? Giọng bà rất êm ái. Câu chuyện có đầu có đuôi, của tâm sự, tình tự. Nhiên luôn nằm cạnh bà. Nghe rất nhiều “Tâm sự trong đêm” của bà. Một đêm, khách trong giấc mơ đi rồi, bà tỉnh táo nói với Nhiên, “Xương cốt ông nội của con mùi trầm, gỗ trầm thơm”.

Mải mê cõi tục lụy, nhưng có người sống với thần tiên.

Qua một cánh đồng rộng, từ đây nhìn thấy phía Đông Trường Sơn xa xa. Núi xanh thẳm. Núi miệt mài kéo từ bắc vào nam. Mây đen nặng tầng tầng, che lấp một phần ánh mặt trời. Phần còn lại là ráng chiều le lói.

Bà nói với Nhiên:

- Con có thấy một người đàn ông, y phục màu ô liu, dáng cao lớn, đang đi vào xóm mình? Kia kìa, hình như ông đang trở về nhà.

Nhiên nhìn ra cổng, con đường đất dẫn ra cánh đồng, những bờ ruộng nước, lúa thời con gái xanh mướt, cô chẳng thấy ai. Cô nói:


- Con chẳng thấy ai bà ơi.

- Có mà! Người đang tới.

Nhiên nhìn lại lần nữa, nói với bà:

- Có mấy con cò trắng. À có chị Thám, hình như đi chợ về.

Bà nở nụ cười, nói thật tình:

- Người ấy đã vào.

Bất ngờ bà nhổm người dậy. Như chờ ôm một người. Rồi bà ôm khoảng không. Như ta ôm một ai thân thiết lâu ngày mới gặp lại nhau. Hẳn trong đôi mắt tối của bà có ai hiện hình. Một ai lung linh. Môt nhẹ tênh rưng rưng mà bao la, thứ ánh sáng hừng đông, một mặt trời sẽ có mặt.

Đầu bà nghiêng qua một bên, như nghiêng mặt chờ người kia áp cái má vào, làn da ấm lâu ngày tưởng đã lạc loài nhau. Bà vỗ vỗ bàn tay vào khoảng không, như ta thân mật vỗ lưng người kia khi tha thiết ôm nhau. Thế giới tối tăm bà đã thoắt dựng một hình người. Một thiết kế hoang đường.

- Em chờ mình lâu quá.

Không nghe ai nói gì, vì Nhiên chẳng thấy ai bên bà. Chỉ nắng chiều và núi xa xanh màu chàm. Bà quàng cánh tay mặt vào khoảng  không, như ta choàng qua vai âu yếm một người. Giọng bà rất buồn:

- Gần em chút nữa.

Bà ngửi không gian. Bà nói nhỏ nhẹ. Nhiên nghe rõ, Da của ông nội mùi nhang khói. Nhiên bắt đầu sợ hãi, nhưng quả thật cô nghe rõ mùi trầm thơm, thoảng trong gió.

Bà ra dấu bảo Nhiên đứng dậy, nhường chiếc ghế cho ông ngồi.

Núi phía trời tây hãy còn le lói ánh chiều.

“Em vẫn thường thấy mình về trong giấc ngủ khuya khoắt, cơn mơ đầy nắng. Rồi mình vội bỏ đi. Sao mà bỏ em. Vì sao cuộc đời chỉ còn ý nghĩa trong những giấc chiêm bao”.

Chừng có ai nói gì đó. Trong khoảng chiều im vắng. Bà lắng tai nghe. Lời trong lá rụng, trong cành trúc lay, trong nắng mềm. Những lời an ủi bà. Những nhắc nhở kỷ niệm. Hỏi bà cái tình thế, cái hoàn cảnh vợ con còn nơi trần thế. Chừng như được dịp tỏ tình, bà tuôn trào tâm sự.

Bọn họ đã đến. Chúng ta phải ra đi. Anh bỏ biệt em từ lúc đồn lũy tan bóng nước. Con chúng ta  ra khỏi trường, vì bị đuổi học. Tài sản còn sót lại của chúng ta lần lượt ra đi, đến chỗ chợ trời, để con cái có miếng ăn. Những vật vô tri hóa ra nó có đường vận mệnh làm ta nhớ nhung. Soạn mấy bộ vét cùng những vật kỷ niệm của anh như đồng hồ, ống vố, những đôi giày hàng hiệu, bỗng nhớ nhung những ngày phép, anh diện vào, anh đưa em đi tiệc tùng khiêu vũ. Dưới ánh đèn màu, anh đẹp lắm, một người chồng luôn hào hoa. Tưởng anh chẳng bao giờ cũ. Bây giờ anh không còn trên cõi đời để được cũ dần mòn. Chẳng còn anh để rệu rạo bên em lẩm cẩm. Hết gì ăn rồi. Em xếp chiếc áo cưới cùng mấy chiếc áo dài, nó ra đi, tới chỗ bụi bặm nơi lề đường chợ trời. Em lột chiếc nhẩn cưới, chao ơi là tủi lòng. Nó đang biến thành bo bo, bột mỳ Liên xô, khoai sắn.

Buồn nhất ngày em thu dọn cái bàn thờ. Bán bộ lư đồng, chiếc lư nhang sứ đồ cổ. Bán cái tủ thờ gỗ quý nạm xa cừ Nhị thập tứ hiếu. Em khóc vùi. Xưa kia em quỳ bên anh cúi lạy tổ tiên, Lễ gia tiên trong ngày cưới. Nay đành đoạn đề một bọn cùi đày, so bì giá cả. Nhà trống trơn. Mọi thứ ra đi. Đó cũng là giai đoạn cuối cùng của ánh sáng trong đôi mắt em. Ánh  sáng bỏ em. Ngày tưởng niệm một năm anh Ra-đi, thì em không còn thấy gì nữa.

Gió không có hình hài nhưng gió có chiều ngang chiều dọc, gió chạy vút một đường dài. Từ trước mặt ra sau lưng. Gió đóng mộc trong trí nhớ.

Bà đưa một bàn tay vào không vuốt mặt người chồng lâu năm được gặp nhau. Bàn tay dịu dàng. Cái vuốt nhẹ âu yếm. Khuôn mặt trường niên buồn bã của bà bỗng tươi hẳn ra, qua nụ cười. Chừng như đây là đúng lúc ta lột hết cõi lòng cho gió mây.

Cái khoảng không ấy là hy vọng đời bà. Khoảng trống ấy là nơi gặp gỡ của tình yêu.

Anh ngồi đi. Ông ngồi trên chiếc ghế con bé Nhiên vừa đứng dậy nhường chỗ. Người ông gầy nhưng thanh thoát, dáng vẽ một tiên ông.

-Mình từ thiên đường trở lại?

-Không, bọn anh ở gác lửng của thiên đường, nơi trung chuyển.

-Ừa, thằng con của chúng mình nó cũng phải ở đảo châu Á hơn một năm mới tới Mỹ.

Ông bất ngờ thở ra. Bà hỏi:

- Ôi đã tới được chốn thiên đàng mà các anh còn những người buồn bã, thất chí, sầu muộn ư, mình ơi!

- Em ạ, người Mỹ H.O gốc Việt hôm nay chẳng biết tâm tình tâm huyết họ vui buồn ra sao, chứ thiên thần gốc Việt bọn anh hôm nay toàn một thảm trạng nhai lại. Ựa cái nỗi lòng đắng cay, nhai hoài mãi cái quá khứ khó tiêu. Không là loài nhai lại cũng loài gặm nhấm. Một đời bận rộn gặm nhấm, đục khoét chính đời mình.

**

Trong hơi chiều, trong mây cao, trong tiếng núi xa vọng lại, bà sờ mặt vai chồng. Bà lục tìm những vết thương. Xưa kia lửa đã cháy trên da thịt này.
Bà nói với khoảng trống:

- Mình đã “Rời khỏi chốn này” sau những  loạt đạn cuối cùng ở đồn lũy Xuân Lộc. Hôm nhận được tin buồn em tìm đến nơi nhận mình về, lo việc sau cùng, nhưng giữa chừng thì đường sá đầy ngập người chạy loạn. Mọi người khuyên em nên trở về, nơi đó không còn ranh giới đồn lũy gì, tất cả đã tan tành. Ngược chiều, giáp mặt em, là những xe tăng, đại pháo, binh lính chân mang dép, mình áo chàm, tay lăm le ngọn súng.

Trông họ khá đơn giản, nghèo nàn và khổ hận. Các anh đã thua trận vì đoàn quân này. Họ thắng các anh vì các anh là những Con Người.

Họ đã gởi trước vào đây những “Đoàn quân em bé”. Chết như đang trong giấc ngủ, giữa các đường phố Miền Nam. Trên ngực các em có xâm hàng chữ “Sinh Bắc tử Nam”. Có em chết lõa lồ, háng non tơ chưa một sợi lông măng. Bầy thiên thần ấy đi hàng tiền phong, phụng hiến cho những cuộc mở đường. Họ đã thắng các anh vì xem những em bé kia không phải là con người.

Bà ôm cái khoảng không, đã nhuốm màu hoàng hôn. Đôi mắt không còn ánh sáng của bà trông rất tội nghiệp. Tâm sự dài lắm. Niềm đau, bao kỷ niệm màu máu bầm, những hy vọng bong bóng nước, bấy lâu đã hành hạ bà.

Bà gục vào vai người không bóng người. Nước mắt chảy dòng. Bà nói “Cảm ơn mình lau nước mắt cho em. Ôi mình còn giữ chiếc lau kỷ niệm này ư?”
Không gian bày biện những nghi ngờ. Trăng đã lên. Nhiên thấy bà nội trắng hếu. Bộ áo quần bà ba lụa trắng. Mái tóc trắng. Trời đầy ánh trăng. Mây màu trăng. Nhiên lạnh. Mùi xương cốt ông nội thoảng mùi thơm gỗ trầm. Không gian rỗng trống bỗng mọc ra xương cốt. Những xương khổ hạnh như lũ cây mọc trên đá.
 
Thị Trần Giữa Đàng,
Đêm cuối năm Tây lịch 2021. 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Gái muộn chồng thì thậm khổ/ Trai muộn vợ cũng thậm khổ/ Mây trên trời thì kéo xuống/ Gió ngoài biển thì thổi vô...
Đại Quan họ Đỗ, quê cha đất tổ ở Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình, một vùng núi non hùng vĩ, sơn thủy hữu tình nhưng nghèo. Ninh Bình là vùng đất hẹp, người đông cho nên đất đai quý hơn vàng. Tổ tiên bao đời sống bằng nghề nông, đổ mồ hôi nước mắt trên vài mẫu ruộng, sống chết với ruộng đồng nhưng cuộc đời vẫn không khá.
Gần 2 thập niên quen biết, học hỏi và làm việc cùng Thầy. Mới thấy sự tận tụy, miệt mài của Thầy, nhất là những khi dịch kinh điển. Tuổi cao mắt mờ và không rành máy tính, Thầy viết bằng tay, dò từ chữ với kính rọi phóng đại. Rồi nhờ người đánh máy, rồi Thầy dò lại, v.v… Nghiệp làm sách, trong đó có những tập kinh của Thầy dịch, có lần Thầy gởi tiền lì xì tặng "người thiết kế sách" và nhắc anh chàng tội nghiệp, bảo rằng "dẫu có hư, nhưng không hỏng", hãy thương yêu đùm bọc nhau và làm việc cho Phật giáo. Thầy là một số ít vị Tăng lữ xem việc ấn bản những kinh kệ, sách vở văn hoá Phật giáo là quan trọng và thường khuyến tấn. Thầy, một con người khiêm cung, hiền hoà và mẫu mực.
Alphonse Daudet (13/5/1840 - 16/12/1897) là một nhà văn Pháp và là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng. Ông sinh ra ở Nîmes (thuộc miền Nam nước Pháp). Ông bắt đầu viết văn từ năm 14 tuổi, đến năm 18 tuổi Alphonse ra thi tập "Những Người Đàn Bà Đang Yêu" (Les Amoureuses, 1858) và được đón nhận ngay. Độc giả Pháp đặc biệt yêu mến ông qua các tiểu thuyết "Thằng Nhóc Con" (Le Petit Chose), gần như là thiên hồi ký của thời niên thiếu đau khổ của chính mình mà đôi khi cũng được ví với nhân vật trong tác phẩm "David Copperfield" của đại văn hào Charles Dickens của Anh. Những năm sau ông viết nhiều tiểu thuyết cũng thành công không kém, qua các đề tài xã hội của một nước Pháp dân chủ thay thế cho chế độ quân chủ. Cho đến cuối đời, Daudet dao động từ niềm vui thẳng thắn (Nhân vật huyền thoại Tartarin de Tarascon) đến sự mỉa mai như quất mạnh (Numa Roumestan), hoặc nỗi u sầu bệnh hoạn nhất.
Đôi tay, cánh tay, thân mình của anh bê bết máu, Anh đã men theo hàng rào kẽm gai suốt mười cây số mà không thể luồn bên dưới rào được. Anh cũng không hề thấy một nơi nào có kẽ hở để lách qua. Nhưng mà ở ngay phía bên kia, chỉ cách chừng năm mươi phân thôi, ở bên trên những vòng dây có gai nhọn hoắt làm rách toạc mọi thứ, một thế giới khác sẽ hiện ra, nơi đó nhà cửa không đổ sụp xuống, nơi đó đàn bà, trẻ con không lẩn trốn như thú vật, và đàn ông thì không còn sợ hãi, không còn chịu cảnh đói rách lạnh rét nữa.
Thế mà giờ đây, tôi mất đi khứu giác và vị giác, nghĩa là tôi chẳng ngửi được mùi hương của hoa, của ly cà phê, của người đẹp sức nước hoa Baccarat đắt tiền bước ngang qua; tôi cũng chẳng nếm được thức ăn ngon, mất đi cái sung sướng thưởng thức món sơn hào hải vị trong nhà hàng. -- Tùy bút của một nạn nhân Covid-19. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Đã hẳn thân phận con người quả là nhục nhã khi chỉ có thể im câm thúc thủ trước mọi sự định đoạt, nhào nặn của Định Mạng và Ngẫu Nhiên, nhưng nếu được những thế lực vô tâm này xếp bày cho trúng số thì cũng không tệ lắm. Hỡi ông lão bán vé số, hởi anh phu hốt rác, đừng chết, đừng tuyệt vọng trước giờ xổ số!
Tôi bước ra cửa, vì biết không giành nổi với mấy bà đang chết mê chết mệt thằng bé con và thầm mỉm cười. Mới hôm kia, bà nào cũng hăng máu đả đảo hải tặc rất quyết liệt, tưởng như không có gì cản nổi, mà bữa nay ôm cưng thằng… con hải tặc quên trời đất, mà câu nào cũng có chữ “cha mày, cha mày” thiệt là âu yếm, đáng yêu làm sao!
Vào ngày 22 tháng 7 năm 2011, cánh hữu cực đoan Anders Breivik đã đặt một quả bom ở thủ đô Oslo, giết chết tám người, trước khi tiến đến hòn đảo Utoya nhỏ bé, nơi hắn rình rập và bắn chết 69 người, phần lớn là thành viên thiếu niên thuộc cánh thanh niên của Đảng Lao động.
Bây giờ cô Laura mới hiểu ra một điều đơn giản mà sung sướng hạnh phúc cho cả đôi bên, thà mỗi tháng cô gởi 200 đô về Việt Nam nuôi má là xong bổn phận báo hiếu lại còn được tiếng giúp đỡ gia đình anh trai vì họ ăn ké vào những đồng tiền đó và thỉnh thoảng cô gởi riêng cho nhà anh Hiền chút tiền họ mừng vui và mang ơn cô biết bao nhiêu.
Chỉ đơn giản có thế. Và họ đi cùng chuyến. Ghe không lớn lắm. Sáu mươi mấy người chen chúc nhau dưới hầm. Tiếng máy khậm khoạc inh tai. Được một ngày một đêm thì máy nóng, tỏa khói mịt mù. Bầy người giúi đầu vào nhau, tay quạt liên hồi, miệng nhào nháo những cơn ho. Tài công tắt máy, chờ cho nguội bớt. Gặp cơn bão nhiệt đới. Sóng cao như những ngọn đồi. Chiếc ghe lắc đám dân vượt biên chồng chất trong khoang như lắc những con xúc sắc trong lòng đĩa. Cơn bão lắng dần, người nằm vùi cả lên nhau. Người con gái co quắp một xó. Người thanh niên co ro một xó khác, lẫn lộn giữa những thân người xa lạ. Ướt át, nhớp nhúa, hôi hám nồng nặc. Tàn cơn bão, biển lặng, sóng êm. Dưới ánh sáng lờ mờ của hầm tàu, người thanh niên nhìn quanh, toàn những khuôn mặt lạ. Cô gái tỉnh dậy, tròn mắt nhìn người đàn ông không quen mà cô đang nằm úp trên ngực anh ta. Cô luống cuống chống tay ngồi dậy. Chân tay nhơm nhớp chất bài tiết. Nhìn quanh. Toàn những người lạ. Mãi, hai người mới nhìn thấy nhau.
Đoản thiên của một nhà văn Pháp Mone Dompnier, do Thái Lan chuyển ngữ. Lần đầu đến với Việt Báo, xin trân trọng iới thiệu.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.