Hôm nay,  

Vệ quốc

03/04/202221:16:00(Xem: 3773)

Truyện ngắn

HoaHD

 

Xứ Hoa Dương xinh đẹp và thanh bình, những cánh đồng hoa dương bạt ngàn rực rỡ một màu vàng tươi tắn, những cánh đồng lúa mì óng ả như mái tóc phụ nữ Hoa Dương. Đất đai phì nhiêu, trù phú đủ để người Hoa Dương sống sung túc an lành dưới bầu trời xanh thanh bình. Điều này đã làm cho ma vương sanh tâm đố kỵ, y thèm khát mảnh đất ấy từ lâu, y có tham vọng ngông cuồng như những tiền bối của y là phải chiếm lấy cho bằng được. Hùng ma vương nhiều lần dụ dỗ, ép buộc, đe nẹt quốc chủ Hoa Dương:

 

– Chú em với ta là một nhà, xưa nay nhận sự bảo hộ của các tiền bối nhà ta, nay chú em cũng phải quy phục ta, bằng không ta sẽ dùng vũ lực!

 

Quốc chủ Hoa Dương bình tĩnh, can trường:

 

– Chúng ta là bạn láng giềng, Hoa Dương không phải là chư hầu như ông nghĩ!

 

Ma vương cười gằn đầy nham hiểm:

 

– Chú em đừng quên, xứ sở của chú em vốn là một phần của quốc độ ta, từ xưa đến nay là phiên thuộc ta!

 

– Xin lỗi ông, đó là sự hoang tưởng và sự áp đặt cưỡng bách. Chúng tôi đã thoát ra rồi, hiện giờ chúng tôi hoàn toàn độc lập và tự chủ.

 

Hùng ma vương mặt lạnh như băng Bắc Cực, ánh mắt như lang sói, y gầm gừ:

 

– Không được phép độc lập! Chú em phải trung lập theo chiến lược của ta! Cấm chú mày giao lưu hay kết bạn với Chú Sam và bè lũ Bắc Đại Tây Dương!

 

– Thật vô lý! Chúng tôi muốn kết bạn với ai là quyền của chúng tôi, chúng tôi muốn nhập bọn với ai là quyền tự quyết của dân tôi!

 

– Chú mày dám chống ta à?

 

– Chúng tôi không chống ai cả, chúng tôi chỉ muốn sống hòa bình, sống với độc lập tự do của chúng tôi!

 

– Nếu chú mày không nghe lời ta thì hãy chuẩn bị đón đòn sấm sét!

 

*  

 

Hùng ma vương và bộ sậu khuấy động một chiến dịch phỉ báng Hoa Dương, chúng tuyên truyền sai sự thật, tung ra những thuyết âm mưu giả trá, bịa đặt những việc tưởng tượng để kết tội Hoa Dương. Cái dã tâm của Hùng ma vương quá ngông cuồng, y quyết sáp nhập Hoa Dương vào đất y, y có mộng làm đại đế và biến quốc độ của y thành đế quốc. Y đem quân áp sát biên giới Hoa Dương, không khí chiến tranh vô cùng căng thẳng, mùi sát khí từ Hồng cung lởn vởn tỏa ra khắp thế gian. Chú Sam gởi thông điệp cho Hùng ma vương:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương! Bằng không thì chúng tôi sẽ cắt nguồn máu của ông.

 

Hùng ma vương cười khinh kỉnh:

 

– Ông cắt nguồn máu của ta tức là tuyên chiến với ta, thế chiến sẽ xảy ra!

 

Chú Sam vẫn minh định:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương, nếu không sẽ bị cắt nguồn máu, sẽ bị đóng băng tài sản của ông và bộ sậu, sẽ bị cô lập hoàn toàn. Các ông chỉ có thể quanh quẩn sân nhà chứ không thể ra ngoài!

 

Nhóm Bắc Đại Tây Dương theo kế của Chú Sam, đồng lòng ủng hộ Hoa Dương. Tuy nhiên khi bị Hùng ma vương đe dọa thì bọn họ chỉ giúp Hoa Dương một chút khí tài chứ không dám cho quân đến giúp Hoa Dương. Tiếc thay Hoa Dương đã đặt trọn niềm tin vào bọn họ, quyết chí xin nhập bọn với họ, cũng vì cái lý do này mà Hùng ma vương điên tiết và tấn công Hoa Dương. Nhóm Bắc Đại Tây Dương có vẻ đông đảo và hùng mạnh nhưng thực chất có nhiều kẻ tự tư tự lợi, đã từng giao hảo với Hùng ma vương để thủ lợi, bởi thế khi có chuyện xảy ra thì không thể đi đến quyết định chung. Giờ đây nghe Hùng ma vương đe dọa: “Nếu giúp Hoa Dương ta sẽ cắt dầu, cắt khí và sẽ dùng bảo bối hạt nhân”, thế là cả nhóm xếp càng im re.

 

*

 

Mặc cho cả thế giới cảnh báo trừng phạt nhưng Hùng ma vương vẫn không đổi ý, thế rồi cái ngày đại nạn xảy ra. Hùng ma vương xua quân tràn sang Hoa Dương, bom đạn, hỏa tiển, tên lửa hành trình… dội xuống như mưa tuyết. Xe tăng bắn cả nhà thương, nhà thờ, nhà trường, nhà trẻ, nhà hát... Hùng ma vương ra lệnh:

 

– Công kích không chừa bất cứ mục tiêu nào!

 

Xứ sở Hoa Dương tan tành dưới sự tấn công tàn bạo và man rợ của quân đội ma vương. Chúng công kích suốt ngày đêm. Những thành phố vốn đẹp đẽ và bình yên giờ thành những đống đổ nát, những cánh đồng hoa dương giờ như bãi tha ma, những thị trấn an lành giờ thành bình địa. Máu người Hoa Dương nhuộm đỏ tuyết trắng, thịt xương người Hoa Dương lầy trong những đống đổ nát. Những thiếu phụ mang bầu không có chỗ sanh, những em bé không có nơi trú ngụ, cả dân tộc Hoa Dương bỗng chốc trắng tay, không còn nhà cửa, không điện ga sưởi ấm, không thực phẩm thuốc men...Một thảm cảnh mà trước đó một tuần không thể tưởng tượng ra. Hùng ma vương muốn khủng bố người Hoa Dương, muốn bẻ gãy tinh thần bất khuất của họ. Y ra lệnh tấn công bất kể dân sự hay quân sự, y muốn Hoa Dương trở thành bình địa để trả thù sự kiên cường dõng mãnh của họ. Y càng tàn ác thì người Hoa Dương càng can trường và quyết tâm hơn. Họ đoàn kết quây quanh quốc chủ để chiến đấu cho quê hương xứ sở. Họ quyết đứng thẳng chứ không chịu quỳ. Họ thấm nhuần tư tưởng:” Tự do hay là chết”.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, quân đội ma vương đông đảo, khí tài dồi dào, chúng quyết san Hoa Dương thành bình địa. Dù vậy người Hoa Dương vẫn kiên cường giữ vững thế trận của mình. Loài người khắp thế gian biểu tình chống chiến tranh, đả đảo ma vương. Loài người khắp thế gian khâm phục ngưỡng mộ quốc chủ và quân dân Hoa Dương. Họ kêu gọi quyên góp giúp người Hoa Dương, Những chiến binh tự do cũng quyết tâm đến Hoa Dương để cùng họ chống lại ma vương. Chú Sam gởi lời mời quốc chủ Hoa Dương di tản. Ông ấy khảng khái đáp:

 

– Tôi không đi đâu cả, đây là nơi của tôi!

 

Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của quốc chủ làm cho cả thế gian này cảm phục vô cùng. Quân dân Hoa Dương ủng hộ quốc chủ của mình một cách cao độ. Quốc chủ cũng không phụ lòng dân, ông ấy cởi bỏ vương bào mặc chiến bào ra chiến hào với quân dân. Quốc chủ mặc  giáp bào đi ủy lạo quân dân, viếng thăm cô nhi quả phụ. Ngay cả phu nhân xinh đẹp của ông cũng sát cánh với chồng, với quân dân Hoa Dương để chiến đấu chống quân xâm lăng. Những cô gái trẻ xinh đẹp, mắt xanh tóc vàng lẽ ra đang sống hạnh phúc với người yêu, giờ cũng xung phong ra tuyến đầu vệ quốc. Họ tổ chức lễ cưới ngay tại chiến trường. Những chuyện tình trong chiến tranh vệ quốc đẹp và bi thương hơn cả truyện cổ tích ngày xưa. Quốc chủ Hoa Dương đã tạo nên một làn sóng cảm khái tích cực trong lòng quân dân, ông đã trở thành một biểu tượng yêu nước và can trường, không chỉ người Hoa Dương yêu mến và kính phục ông ấy, người khắp thế gian cũng yêu mến và cảm phục vậy! Ông ấy và quân dân Hoa Dương đã viết nên một bản anh hùng ca mới về tinh thần yêu nước và lòng gan dạ, can trường trong cuộc chiến vệ quốc.

 

*

 

Thiên hạ xưa nay vẫn thường nói: Phật có Phật tử, ma có ma quân; nhà có hiếu tử thì cũng có nghịch tử; nước có hiền thần thì cũng có nghịch thần; xã hội có người ngay ắt cũng không ít kẻ gian. Người xứ Vệ cũng thế, đa số đều đồng cảm với người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của họ, đã có những cuộc lạc quyên ủng hộ, có những hành động chia sẻ niềm tin, công lý… Người xứ Vệ rất thấm thía với nỗi đau vong quốc, họ đã từng bị tổ tiên của Hồng xếnh xáng xâm lăng cai trị nhiều đời. Họ đã tốn bao nhiêu xương máu để giành lại độc lập tự do. Bởi vậy họ rất hiểu và thông cảm với cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương. Hoa Dương ở cạnh Hùng ma vương, họ ở sát nách Hồng xếnh xáng, cả hai quốc độ ở hai phương trời nhưng có chung một mối nguy hiểm lớn. Cả Hùng ma vương lẫn Hồng xếnh xáng đều có dã tâm xâm lăng lấn đất lập đế quốc. Cái tư tưởng cướp đất lập đế quốc là cái tư tưởng lạc hậu của thời mông muội xa xưa, ấy vậy mà nó vẫn di truyền trong huyết quản của bọn chúng. Người xứ Vệ đau với cái nỗi đau của người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương là vậy. Tuy nhiên cũng có một số dân Vệ lại tà tâm đi ủng hộ Hùng ma vương, bọn chúng vui vẻ hò reo khi thấy xứ sở Hoa Dương bị công kích dã man tàn bạo, chúng ăn mừng khi thấy máu người Hoa Dương đổ, chúng khen ngợi Hùng ma vương hết lời. Sứ quán Hoa Dương ở xứ Vệ tổ chức lạc quyên thì bị quan quân xứ Vệ ngăn cản và phá rối đến độ phải huỷ bỏ. Có một hèn tướng tuyên bố:

 

– Quốc chủ Hoa Dương là một thằng hề trẻ, sao dám chống lại Hùng ma vương lão luyện đầy kinh nghiệm?

 

Dân xứ Vệ chưa hết bàng hoàng và xấu hổ thì một bồi tướng khác lại phát biểu:

 

– Hoa Dương vốn là đất phiên thuộc của Hùng ma vương, sao dám tự tiện kết giao với Chú Sam và nhóm Bắc Đại Tây Dương? Bị tấn công là phải rồi!

 

Thật không biết tả sao cho hết nỗi đớn hèn bạc nhược và nhục nhã này! thân làm tướng mà có tư tưởng tôi đòi ưng khuyển như thế! Những lời phát biểu vừa thể hiện sự kém hiểu biết vừa bộc lộ rõ cái tư cách thấp kém. Người xứ Vệ thấy nhục lây vì những tay tướng Vệ này.

 

*

 

 Thiên hạ bốn bên lâu nay vẫn biết cái tình kết giao giữa Hùng ma vương và Hồng xếnh xáng, có lạ chi đâu đầu trâu mặt ngựa với nhau, mạt cưa mướp đắng một phường. Trước khi cuộc chiến Hoa Dương xảy ra. Hồng xếnh xáng bắt tay Hùng ma vương xúi:

 

– Nị cứ đánh chiếm Hoa Dương đi! Ngộ sẽ ủng hộ hết lòng, trước là cảm ơn nị ủng hộ ngộ le lưỡi bò liếm bể Đông, dẹp dân chủ Hương Cảng, đe nẹt bọn tép riu Đông Nam Á; sau thì gởi thông điệp đến Đài Loan, Vệ quốc:” Chúng mày hãy xem cái gương Hoa Dương mà liệu hồn!”

 

Thế rồi Hùng ma vương xua quân xâm lăng Hoa Dương, thiên hạ ngỡ Hồng xếnh xáng sẽ gởi tiền của, khí tài hay quân binh đến giúp, nào ngờ y án binh bất động. Hùng ma vương sa lầy kêu cứu, y cũng giả tảng làm lơ, thế thì hai năm rõ mười rồi nhé! Y là kẻ là ngư ông, để mặc cò ngao tranh nhau mà thủ lợi. Y không giúp Hùng ma vương, một phần để cho Hùng ma vương yếu đi thì y đỡ phải lo, một phần sợ Chú Sam trừng phạt. Hồng xếnh xáng là một con cáo già ma mãnh đầy thủ đoạn, chơi với y thì chỉ có bị thương cho đến chết. Thiên hạ bao nhiêu người đã chết vì y, đã mất đất vì y! Tình bạn giữa y với Hùng ma vương chẳng khác gì kẻ cắp với bà già, chung lưng mở gian hàng nhưng kẻ nào cũng gian và muốn dìm hàng của nhau, bắt tay nhau nhưng cũng sẵn sàng diệt nhau để độc xưng bá.

 

Cuộc chiến trên xứ sở Hoa Dương quá tàn khốc. Người Hoa Dương đơn độc chống lại bạo quyền, họ chiến đấu vì xứ sở, chiến đấu dũng mãnh đẩy lùi được những đợt tấn công dã man của quân đội Hùng ma vương. Cái giá phải trả cho độc lập tự do quá đắt. Máu người Hoa Dương đã đổ ra, những thành phố thành bình địa, những đồng hoa dương tan nát dưới đạn bom. Xác người Hoa Dương lầy trong băng giá, hàng triệu người phải tỵ nạn ly hương. Bầu trời xanh ám muội khói súng...Người Hoa Dương vẫn đứng vững, không một chút sờn lòng nhụt chí. Người Hoa Dươgn đang chiến đấu cho độc lập tự do của họ, chiến đấu cho cả công lý của thế gian này, một cuộc chiến vệ quốc hào hùng.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 04/22)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.