Hôm nay,  

Vệ quốc

03/04/202221:16:00(Xem: 3809)

Truyện ngắn

HoaHD

 

Xứ Hoa Dương xinh đẹp và thanh bình, những cánh đồng hoa dương bạt ngàn rực rỡ một màu vàng tươi tắn, những cánh đồng lúa mì óng ả như mái tóc phụ nữ Hoa Dương. Đất đai phì nhiêu, trù phú đủ để người Hoa Dương sống sung túc an lành dưới bầu trời xanh thanh bình. Điều này đã làm cho ma vương sanh tâm đố kỵ, y thèm khát mảnh đất ấy từ lâu, y có tham vọng ngông cuồng như những tiền bối của y là phải chiếm lấy cho bằng được. Hùng ma vương nhiều lần dụ dỗ, ép buộc, đe nẹt quốc chủ Hoa Dương:

 

– Chú em với ta là một nhà, xưa nay nhận sự bảo hộ của các tiền bối nhà ta, nay chú em cũng phải quy phục ta, bằng không ta sẽ dùng vũ lực!

 

Quốc chủ Hoa Dương bình tĩnh, can trường:

 

– Chúng ta là bạn láng giềng, Hoa Dương không phải là chư hầu như ông nghĩ!

 

Ma vương cười gằn đầy nham hiểm:

 

– Chú em đừng quên, xứ sở của chú em vốn là một phần của quốc độ ta, từ xưa đến nay là phiên thuộc ta!

 

– Xin lỗi ông, đó là sự hoang tưởng và sự áp đặt cưỡng bách. Chúng tôi đã thoát ra rồi, hiện giờ chúng tôi hoàn toàn độc lập và tự chủ.

 

Hùng ma vương mặt lạnh như băng Bắc Cực, ánh mắt như lang sói, y gầm gừ:

 

– Không được phép độc lập! Chú em phải trung lập theo chiến lược của ta! Cấm chú mày giao lưu hay kết bạn với Chú Sam và bè lũ Bắc Đại Tây Dương!

 

– Thật vô lý! Chúng tôi muốn kết bạn với ai là quyền của chúng tôi, chúng tôi muốn nhập bọn với ai là quyền tự quyết của dân tôi!

 

– Chú mày dám chống ta à?

 

– Chúng tôi không chống ai cả, chúng tôi chỉ muốn sống hòa bình, sống với độc lập tự do của chúng tôi!

 

– Nếu chú mày không nghe lời ta thì hãy chuẩn bị đón đòn sấm sét!

 

*  

 

Hùng ma vương và bộ sậu khuấy động một chiến dịch phỉ báng Hoa Dương, chúng tuyên truyền sai sự thật, tung ra những thuyết âm mưu giả trá, bịa đặt những việc tưởng tượng để kết tội Hoa Dương. Cái dã tâm của Hùng ma vương quá ngông cuồng, y quyết sáp nhập Hoa Dương vào đất y, y có mộng làm đại đế và biến quốc độ của y thành đế quốc. Y đem quân áp sát biên giới Hoa Dương, không khí chiến tranh vô cùng căng thẳng, mùi sát khí từ Hồng cung lởn vởn tỏa ra khắp thế gian. Chú Sam gởi thông điệp cho Hùng ma vương:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương! Bằng không thì chúng tôi sẽ cắt nguồn máu của ông.

 

Hùng ma vương cười khinh kỉnh:

 

– Ông cắt nguồn máu của ta tức là tuyên chiến với ta, thế chiến sẽ xảy ra!

 

Chú Sam vẫn minh định:

 

– Không được đụng đến Hoa Dương, nếu không sẽ bị cắt nguồn máu, sẽ bị đóng băng tài sản của ông và bộ sậu, sẽ bị cô lập hoàn toàn. Các ông chỉ có thể quanh quẩn sân nhà chứ không thể ra ngoài!

 

Nhóm Bắc Đại Tây Dương theo kế của Chú Sam, đồng lòng ủng hộ Hoa Dương. Tuy nhiên khi bị Hùng ma vương đe dọa thì bọn họ chỉ giúp Hoa Dương một chút khí tài chứ không dám cho quân đến giúp Hoa Dương. Tiếc thay Hoa Dương đã đặt trọn niềm tin vào bọn họ, quyết chí xin nhập bọn với họ, cũng vì cái lý do này mà Hùng ma vương điên tiết và tấn công Hoa Dương. Nhóm Bắc Đại Tây Dương có vẻ đông đảo và hùng mạnh nhưng thực chất có nhiều kẻ tự tư tự lợi, đã từng giao hảo với Hùng ma vương để thủ lợi, bởi thế khi có chuyện xảy ra thì không thể đi đến quyết định chung. Giờ đây nghe Hùng ma vương đe dọa: “Nếu giúp Hoa Dương ta sẽ cắt dầu, cắt khí và sẽ dùng bảo bối hạt nhân”, thế là cả nhóm xếp càng im re.

 

*

 

Mặc cho cả thế giới cảnh báo trừng phạt nhưng Hùng ma vương vẫn không đổi ý, thế rồi cái ngày đại nạn xảy ra. Hùng ma vương xua quân tràn sang Hoa Dương, bom đạn, hỏa tiển, tên lửa hành trình… dội xuống như mưa tuyết. Xe tăng bắn cả nhà thương, nhà thờ, nhà trường, nhà trẻ, nhà hát... Hùng ma vương ra lệnh:

 

– Công kích không chừa bất cứ mục tiêu nào!

 

Xứ sở Hoa Dương tan tành dưới sự tấn công tàn bạo và man rợ của quân đội ma vương. Chúng công kích suốt ngày đêm. Những thành phố vốn đẹp đẽ và bình yên giờ thành những đống đổ nát, những cánh đồng hoa dương giờ như bãi tha ma, những thị trấn an lành giờ thành bình địa. Máu người Hoa Dương nhuộm đỏ tuyết trắng, thịt xương người Hoa Dương lầy trong những đống đổ nát. Những thiếu phụ mang bầu không có chỗ sanh, những em bé không có nơi trú ngụ, cả dân tộc Hoa Dương bỗng chốc trắng tay, không còn nhà cửa, không điện ga sưởi ấm, không thực phẩm thuốc men...Một thảm cảnh mà trước đó một tuần không thể tưởng tượng ra. Hùng ma vương muốn khủng bố người Hoa Dương, muốn bẻ gãy tinh thần bất khuất của họ. Y ra lệnh tấn công bất kể dân sự hay quân sự, y muốn Hoa Dương trở thành bình địa để trả thù sự kiên cường dõng mãnh của họ. Y càng tàn ác thì người Hoa Dương càng can trường và quyết tâm hơn. Họ đoàn kết quây quanh quốc chủ để chiến đấu cho quê hương xứ sở. Họ quyết đứng thẳng chứ không chịu quỳ. Họ thấm nhuần tư tưởng:” Tự do hay là chết”.

Cuộc chiến ngày càng khốc liệt, quân đội ma vương đông đảo, khí tài dồi dào, chúng quyết san Hoa Dương thành bình địa. Dù vậy người Hoa Dương vẫn kiên cường giữ vững thế trận của mình. Loài người khắp thế gian biểu tình chống chiến tranh, đả đảo ma vương. Loài người khắp thế gian khâm phục ngưỡng mộ quốc chủ và quân dân Hoa Dương. Họ kêu gọi quyên góp giúp người Hoa Dương, Những chiến binh tự do cũng quyết tâm đến Hoa Dương để cùng họ chống lại ma vương. Chú Sam gởi lời mời quốc chủ Hoa Dương di tản. Ông ấy khảng khái đáp:

 

– Tôi không đi đâu cả, đây là nơi của tôi!

 

Lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí kiên cường của quốc chủ làm cho cả thế gian này cảm phục vô cùng. Quân dân Hoa Dương ủng hộ quốc chủ của mình một cách cao độ. Quốc chủ cũng không phụ lòng dân, ông ấy cởi bỏ vương bào mặc chiến bào ra chiến hào với quân dân. Quốc chủ mặc  giáp bào đi ủy lạo quân dân, viếng thăm cô nhi quả phụ. Ngay cả phu nhân xinh đẹp của ông cũng sát cánh với chồng, với quân dân Hoa Dương để chiến đấu chống quân xâm lăng. Những cô gái trẻ xinh đẹp, mắt xanh tóc vàng lẽ ra đang sống hạnh phúc với người yêu, giờ cũng xung phong ra tuyến đầu vệ quốc. Họ tổ chức lễ cưới ngay tại chiến trường. Những chuyện tình trong chiến tranh vệ quốc đẹp và bi thương hơn cả truyện cổ tích ngày xưa. Quốc chủ Hoa Dương đã tạo nên một làn sóng cảm khái tích cực trong lòng quân dân, ông đã trở thành một biểu tượng yêu nước và can trường, không chỉ người Hoa Dương yêu mến và kính phục ông ấy, người khắp thế gian cũng yêu mến và cảm phục vậy! Ông ấy và quân dân Hoa Dương đã viết nên một bản anh hùng ca mới về tinh thần yêu nước và lòng gan dạ, can trường trong cuộc chiến vệ quốc.

 

*

 

Thiên hạ xưa nay vẫn thường nói: Phật có Phật tử, ma có ma quân; nhà có hiếu tử thì cũng có nghịch tử; nước có hiền thần thì cũng có nghịch thần; xã hội có người ngay ắt cũng không ít kẻ gian. Người xứ Vệ cũng thế, đa số đều đồng cảm với người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của họ, đã có những cuộc lạc quyên ủng hộ, có những hành động chia sẻ niềm tin, công lý… Người xứ Vệ rất thấm thía với nỗi đau vong quốc, họ đã từng bị tổ tiên của Hồng xếnh xáng xâm lăng cai trị nhiều đời. Họ đã tốn bao nhiêu xương máu để giành lại độc lập tự do. Bởi vậy họ rất hiểu và thông cảm với cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương. Hoa Dương ở cạnh Hùng ma vương, họ ở sát nách Hồng xếnh xáng, cả hai quốc độ ở hai phương trời nhưng có chung một mối nguy hiểm lớn. Cả Hùng ma vương lẫn Hồng xếnh xáng đều có dã tâm xâm lăng lấn đất lập đế quốc. Cái tư tưởng cướp đất lập đế quốc là cái tư tưởng lạc hậu của thời mông muội xa xưa, ấy vậy mà nó vẫn di truyền trong huyết quản của bọn chúng. Người xứ Vệ đau với cái nỗi đau của người Hoa Dương, ủng hộ cuộc chiến vệ quốc của người Hoa Dương là vậy. Tuy nhiên cũng có một số dân Vệ lại tà tâm đi ủng hộ Hùng ma vương, bọn chúng vui vẻ hò reo khi thấy xứ sở Hoa Dương bị công kích dã man tàn bạo, chúng ăn mừng khi thấy máu người Hoa Dương đổ, chúng khen ngợi Hùng ma vương hết lời. Sứ quán Hoa Dương ở xứ Vệ tổ chức lạc quyên thì bị quan quân xứ Vệ ngăn cản và phá rối đến độ phải huỷ bỏ. Có một hèn tướng tuyên bố:

 

– Quốc chủ Hoa Dương là một thằng hề trẻ, sao dám chống lại Hùng ma vương lão luyện đầy kinh nghiệm?

 

Dân xứ Vệ chưa hết bàng hoàng và xấu hổ thì một bồi tướng khác lại phát biểu:

 

– Hoa Dương vốn là đất phiên thuộc của Hùng ma vương, sao dám tự tiện kết giao với Chú Sam và nhóm Bắc Đại Tây Dương? Bị tấn công là phải rồi!

 

Thật không biết tả sao cho hết nỗi đớn hèn bạc nhược và nhục nhã này! thân làm tướng mà có tư tưởng tôi đòi ưng khuyển như thế! Những lời phát biểu vừa thể hiện sự kém hiểu biết vừa bộc lộ rõ cái tư cách thấp kém. Người xứ Vệ thấy nhục lây vì những tay tướng Vệ này.

 

*

 

 Thiên hạ bốn bên lâu nay vẫn biết cái tình kết giao giữa Hùng ma vương và Hồng xếnh xáng, có lạ chi đâu đầu trâu mặt ngựa với nhau, mạt cưa mướp đắng một phường. Trước khi cuộc chiến Hoa Dương xảy ra. Hồng xếnh xáng bắt tay Hùng ma vương xúi:

 

– Nị cứ đánh chiếm Hoa Dương đi! Ngộ sẽ ủng hộ hết lòng, trước là cảm ơn nị ủng hộ ngộ le lưỡi bò liếm bể Đông, dẹp dân chủ Hương Cảng, đe nẹt bọn tép riu Đông Nam Á; sau thì gởi thông điệp đến Đài Loan, Vệ quốc:” Chúng mày hãy xem cái gương Hoa Dương mà liệu hồn!”

 

Thế rồi Hùng ma vương xua quân xâm lăng Hoa Dương, thiên hạ ngỡ Hồng xếnh xáng sẽ gởi tiền của, khí tài hay quân binh đến giúp, nào ngờ y án binh bất động. Hùng ma vương sa lầy kêu cứu, y cũng giả tảng làm lơ, thế thì hai năm rõ mười rồi nhé! Y là kẻ là ngư ông, để mặc cò ngao tranh nhau mà thủ lợi. Y không giúp Hùng ma vương, một phần để cho Hùng ma vương yếu đi thì y đỡ phải lo, một phần sợ Chú Sam trừng phạt. Hồng xếnh xáng là một con cáo già ma mãnh đầy thủ đoạn, chơi với y thì chỉ có bị thương cho đến chết. Thiên hạ bao nhiêu người đã chết vì y, đã mất đất vì y! Tình bạn giữa y với Hùng ma vương chẳng khác gì kẻ cắp với bà già, chung lưng mở gian hàng nhưng kẻ nào cũng gian và muốn dìm hàng của nhau, bắt tay nhau nhưng cũng sẵn sàng diệt nhau để độc xưng bá.

 

Cuộc chiến trên xứ sở Hoa Dương quá tàn khốc. Người Hoa Dương đơn độc chống lại bạo quyền, họ chiến đấu vì xứ sở, chiến đấu dũng mãnh đẩy lùi được những đợt tấn công dã man của quân đội Hùng ma vương. Cái giá phải trả cho độc lập tự do quá đắt. Máu người Hoa Dương đã đổ ra, những thành phố thành bình địa, những đồng hoa dương tan nát dưới đạn bom. Xác người Hoa Dương lầy trong băng giá, hàng triệu người phải tỵ nạn ly hương. Bầu trời xanh ám muội khói súng...Người Hoa Dương vẫn đứng vững, không một chút sờn lòng nhụt chí. Người Hoa Dươgn đang chiến đấu cho độc lập tự do của họ, chiến đấu cho cả công lý của thế gian này, một cuộc chiến vệ quốc hào hùng.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 04/22)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.
“Mày có vợ hồi nào vậy?” chưa kịp chào, mẹ đã ném ra câu hỏi bất ngờ. Tôi lặng thinh. Cục nghẹn trong cổ họng. Tiếng mẹ đã khàn nhưng nghe vẫn quen, vẫn gần gũi, nhưng đặm chút ngạc nhiên và thấp thoáng chút phiền muộn. Hệt như lần hỏi tôi mười mấy năm trước rằng Sao con trốn học. Đường dây điện thoại chợt kêu ù ù, như thể có máy bay hay xe vận tải cơ giới hạng nặng chạy qua chỗ mẹ đứng. Cũng có thể tại tai tôi ù. Tôi cũng không chắc lắm. Giọng nói mẹ chìm vào khối tạp âm hỗn độn. Mẹ lặp lại câu hỏi trong tiếng động cơ rì rầm. Rồi tất cả im vắng bất ngờ. “Hở con?” Mẹ nói.
Bê, con trai của Mẹ, đã theo Mẹ đến giảng đường từ thuở còn trong bụng Mẹ. Suốt thời gian đại học của Mẹ, Bê có nhiều đóng góp khác nhau theo từng thời kỳ. Khi Mẹ làm bài kiểm tra môn Đầu Tư và Tài Chính trong lục cá nguyệt đầu tiên, Bê mới ba tháng tuổi. Mẹ nhẩm tính, bài thi một tiếng rưỡi, đi về từ nhà đến trường thêm một tiếng rưỡi. Như vậy, Bê phải xa Mẹ ít nhất ba tiếng đồng hồ. Mẹ biết tính Bê, mỗi hai tiếng đồng hồ Bê oe oe đòi bú sữa Mẹ. Bê xấu đói lắm, đòi mà không được, Bê nhăn nhó um sùm. Ngày hôm đó, dì Thành đến giữ Bê. Dì Thành rất hồi hộp. Dì chưa có em bé, chẳng biết phải làm sao cho đúng ý Bê. Mẹ thi xong, phóng ra xe về nhà. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ xa Bê đã hơn ba tiếng đồng hồ. Giờ này Bê chắc Bê đã thức giấc. Hy vọng Bê chịu khó nhâm nhi món trà thảo dược cho trẻ sơ sinh trong khi chờ Mẹ về. Thời đó chưa có điện thoại di động. Bởi vậy, có lo cũng để bụng, chứ Mẹ chẳng biết làm sao. Mẹ ba chân bốn cẳng chạy ba tầng lầu. Vừa đến cửa đã nghe tiếng Bê khóc ngằn ngặt.
Khi chơi những bản nhạc hay, Khang khóc theo giai điệu. Mước mắt chảy, tay kéo tình xuống lên, thân hình diệu dẻo theo cảm hứng. gần như mê cuồng, không biết mình là ai. Tôi cảm nhận được cái hay xuất thần nhưng không hiểu. Khang nói: -- “Cậu Út biết không, cái hay của âm nhạc làm cho lòng sung sướng nhưng cái đẹp của âm nhạc làm cho hồn cảm động. Khi món quà quá lớn, quá sức yêu, không thể cười, chỉ có thể khóc.” Tôi nghĩ, những lúc như vậy, Khang không chơi đàn, mà múa với hồn oan.
Tôi làm việc giữ xe cho một casino ở ngoại ô Toronto, gọi là parking attendant. Đó là nghề mà thanh niên ít chịu làm, phần vì lương thấp, mức tối thiểu, hồi đó 5 đồng một giờ, nhưng lý do chính là vì nó buồn. Bãi đậu xe nằm dưới hầm tối, không nhìn thấy người qua lại, nếu ở ngoài trời cũng sau lưng nhà cao tầng. Không ai làm chỗ đậu xe ở khung cảnh xinh đẹp, nơi ấy dành cho hàng quán. Đi học ban ngày, tôi làm thêm ban đêm là việc thích hợp, có thể thỉnh thoảng ngồi học bài. Nhân viên trong phiên gác trước tôi là cô gái bằng tuổi hoặc cùng lắm lớn hơn một hai tuổi, nhưng không hiểu sao cô vẫn có thói quen gọi tôi là em và xưng chị.
Anh cho xe dừng lại nơi góc đường rồi đi bộ về phía căn nhà. Tuyết đang rơi dầy đặc trắng xóa cả bầu trời, đúng là một White Christmas như nhiều người mong muốn. Những ánh đèn màu trang hoàng trước sân các nhà nhấp nháy vui tươi như đang mừng đón Chúa Hài Đồng giáng trần. Anh bước lên bậc thềm gỗ, bước rón rén đến cửa sổ nhìn qua tấm rèm mỏng, hơi giật mình sựng lại khi thấy ba mẹ con cô ấy đang dọn bữa ăn đêm Noel. Hẳn là họ vừa đi lễ về, anh thầm nghĩ. Nhìn đứa con trai mười ba tuổi và đứa con gái mười một tuổi giúp mẹ sắp xếp bày biện thức ăn trên bàn, anh thoáng chút xúc động và an tâm vì các con đã lớn, có thể đỡ đần mẹ trong nhiều việc nhà, anh cũng thấy bớt đi mặc cảm tội lỗi của mình.
Chuyện xảy ra trên một chuyến xe Greyhound. Xe đò Greyhound có vẽ con chó sói xoải cẳng phi nước đại bên hông là thứ nối liền các thành phố bên Mỹ và Canada. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng ngự trên những chuyến xe xuyên liên bang này. Tôi cũng đã từng xuôi ngược với Greyhound. Từ Montreal qua Washington D.C. thăm bạn bè dân thủ đô nước Mỹ như các ông Dzương Ngọc Hoán, Nguyễn Tường Đằng. Từ Vancouver qua Portland thăm ông Từ Công Phụng. Từ Seattle về Vancouver sau khi cưỡi du thuyền đi Alaska thăm mấy chú gấu tuyết. Nói như vậy để thấy tôi cũng có chút kinh nghiệm khi chen vai thích cánh cùng những người không có hoặc ngại lái xế riêng.
Hai chữ giang hồ không mấy xa lạ trong đời sống của mỗi người đều thường đề cập trong thơ, văn, điện ảnh… và cũng là câu nói thường tình với cá nhân, nhóm người trong xã hội. Tác phẩm Thủy Hử ban đầu là Giang Hồ Khách Truyện, sau lấy tên là Thủy Hử vì “căn cứ địa” Lương Sơn là vùng đầm, hồ nên Thủy Hử (bến nước). Truyện nầy qua bản dịch của La Thần và Á Nam Trần Tuấn Khải, gồm 3 cuốn, năm 1973, sau đó với Tử Vi Lang nên rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Trong truyện Thủy Hử của của nhà văn Thi Nại Am (1296-1372) ở Trung Hoa vào triều Nguyên-Mông (1295-1368), kể về câu chuyện của Tống Giang triều nhà Tống, nổi dậy kéo theo “giang hồ hảo hán” gồm 108 người đến núi Lương Sơn. Gọi là anh hùng Lương Sơn Bạc.
Ở Sơn Tây, tôi là khách lạ nhưng mang tâm trạng sâu đậm như người trở về nguồn cội. Đầu tiên tôi tìm mua tấm bản đồ tỉnh lỵ nhưng không ai bán, họ chỉ dẫn địa điểm Thành Cổ rồi theo 4 hướng Đông Tây Nam Bắc của hình vuông ấy là sẽ tìm ra mọi nơi. Hướng Nam đối diện với phố Quang Trung còn gọi là Cửa Tiền, Cửa Hậu ở hướng Bắc có phố Lê Lợi và nếu đi thẳng đến cuối đường sẽ gặp sông Hồng, hướng Đông là Cửa Tả nhìn ra chợ Nghệ và cuối cùng hướng Tây hay Cửa Hữu có phố Ngô Quyền.
Buổi sáng cuối tuần, mùa đông chớm về với những cụm mây xám nhạt, lơ lửng trôi trên bầu trời California, không khí se se lạnh, tôi và Hoàng ngồi ngoài hàng hiên quán Coffee Lovers của Thành phố Hoa vàng nhìn trời hưu quạnh. Bên hai ly cà phê sữa nóng và dĩa bánh Patechaud, Hoàng nói chậm dãi, nhỏ nhẹ, kể cho tôi nghe về quê ngoại của Hoàng thời niên thiếu.
Theo thông lệ trước đây, hằng năm vào đầu tháng 9, CVKer 65 Bok Thân có tổ chức buổi tiệc gây quỹ cho địa phận Kontum. Năm nào Bok Thân cũng thành công mỹ mãn, gởi về quê nhà nhiều số tiền lớn lao dùng cho các hoạt động bác ái của địa phận. Sau dịch cúm Tàu phù, kinh tế trì trệ, dân chúng cũng ngại đám đông nên Bok Thân phải uyển chuyển tổ chức 2 năm một lần; lần này là Đêm Tình Thương lần thứ Sáu.
Memphis là thành phố lớn của tiểu bang Tennessee, nổi tiếng là một trong những cái nôi của dòng nhạc Blues & Jazz của nước Mỹ. Cách đây 4 năm, tôi lái xe đến thăm Memphis chỉ để được nghe nhạc Blues “nguyên chất” tại B.B King’s Blues Club, một trong những “việc đáng làm trong đời” đối với những người mê nhạc Jazz. Nghe nhạc Jazz ở Memphis sẽ thấy được dòng nhạc như chảy trong huyết quản của người da đen ở Miền Nam Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 10 năm nay, tôi trở lại thành phố Memphis, nhưng đó không phải là đích đến của chuyến đi. Memphis có phi trường chỉ cách Tu Viện Mộc Lan khoảng hơn một tiếng lái xe. UH, một cô bạn đồng tu đã từng cùng học với một vị thầy, cùng sinh hoạt trong một nhóm Phật tử ở Quận Cam California được chấp nhận vào ni đoàn, làm lễ xuống tóc xuất gia tại Mộc Lan. Tôi cùng một nhóm bạn nhận lời mời đến dự sự kiện trọng đại của một đời người này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.