Hôm nay,  

Cừu

24/04/202221:26:00(Xem: 3490)

Truyện ngắn

sheep

 

Những con cừu béo ụ, lông dày quắn bện từng lọn, kết thành mảng trông chúng cứ như cục bông gòn trùng trục. Suốt ngày cặm cụi quanh bãi chăn thả gặm cỏ, cả đàn có đến vài trăm con nhưng răm rắp tuân theo sự điều khiển của mấy con chó, hễ con cừu nào đi lệch ra khỏi bầy là lập tức những con chó sủa ầm ĩ. Con cừu kia dù có to bự hơn con chó cũng phải ngoan ngoãn quay lại lập tức, bằng không thì những con chó ấy sẽ cắn xé nó không thương tiếc. Đàn cừu khi thì bẻ sang tây, lúc quặt hướng đông luôn luôn đi theo hướng chỉ định của những con chó chăn cừu kia.

 

Đột nhiên con Sinobi chạy nhanh về phía trước, dẫn đàn cừu đi theo hướng bãi cỏ mới ở phía thảo nguyên. Sinobi có khứu giác nhạy bén hơn cả đàn, nó có thể đánh hơi được mạch nước ngầm, mùi cỏ non trong khi cả đàn mù tịt. Sinbio kêu gọi:

 

– Anh em ơi, chúng ta tiến về phía trước, đằng kia bát ngát cỏ non ngon lành lắm!

 

Cả đàn cừu lao nhao, rần rật chạy theo. Con Omalasikha và mấy đứa đàn em của nó lập tức phóng lên dàn hàng ngang cản đàn cừu:

 

– Thằng Sinbio làm loạn để ra vẻ anh hùng. Nó gạt bà con đó, đừng nghe lời đứa bất mãn. Nó đem cỏ non để dụ bà con theo nó để làm phản.

 

Đàn cừu khựng lại, một số rất ít ỏi len lỏi theo Sinobi, còn phần lớn dừng hẳn phân vân không biết nên theo Sinobi hay lùi lại theo lời Omalasikha. Trong lúc ấy mấy đứa đàn em của OmalaSikha to mồm sủa vào tai đàn cừu, có lúc lại cố rỉ tai to nhỏ vào những cục bông gòn hiền lành nhưng ngu muội kia:

 

– Thằng Sinbio phản động, nó ăn phải bả của tụi cừu làng bên nên phản lại ông chủ. Các bạn đừng nghe nó nói, đừng theo nó!

 

Ban đầu tụi cừu đâu có tin, bọn chúng ngờ vực những lời rỉ tai ấy, tuy nhiên bọn đàn em Omalasikha nói riết khiến lũ cừu bán tín bán nghi, thậm chí một số còn hùa theo phe Omalasikha để mạ lỵ Sinobi. Chúng bảo Sinobi mưu đồ ham làm lãnh đạo, mê cái danh hão anh hùng nên mới hướng dẫn đàn cừu ra đồng cỏ mới, bỏ bãi cỏ đã quây rào an toàn mà ông chủ đã chọn.

 

Sinobi dẫn những con cừu ít ỏi kia tiến về phía trước, chúng đi được dặm đường thì con Omalasikha cùng mấy con chó đàn em dấn lên phía đầu ngăn chặn, chúng sủa ầm ĩ:

 

– Sinobi, quay trở lại! Mầy không được đi về hướng ấy, ông chủ không cho phép.

 

Sinobi hiền lành nhưng có bản lãnh:

 

– Tại sao? Tao có quyền tự do đi đến đâu tao muốn, có quyền tìm nước và cỏ non để ăn, tìm nơi không khí trong lành để thở, tìm bạn tình để giao phối. Ông chủ không thể nhốt tao và đồng loaị của tao trong những cái chuồng hay những bãi cỏ đã bị quây rào. Các bạn cũng nên lo liệu thân mình đi là vừa, khi còn xài được thì ông chủ dùng, khi các bạn yếu rồi thì ông chủ cũng vứt các bạn đi thôi!

 

Omalasikha và đàn em cuả nó điên tiết lên:

 

– Mầy muốn làm loạn à? Mầy đã vượt qua vạch đỏ rồi đấy!

 

– Tao và những con cừu tự do không chấp nhận cái giới hạn vô lý đó!

 

– Mầy ngon! Để xem mầy cứng đầu được bao lâu!

 

Nói xong, con Omalasikha xua đàn em vào cắn xé Sinbio. Những con cừu đi theo Sinobi cũng bị đàn chó chăn cừu cắn xé dã man. Chân Sinobi bị thương, nó không thể đi được nữa, những con cừu cùng đi cũng thương tích đầy mình, bộ lông trắng của chúng đã loang lổ máu đỏ. Omalasikha và bọn chó chăn cừu vô cùng tí tửng, chúng đã làm việc vượt quá mong đợi của ông chủ. Chúng tru lên những lời man rợ khoái trá khi thấy Sinobi bị thương tích nặng nề nằm trên mặt đất, cả bọn hí hửng kéo lui về với đàn cừu đang ở gần trang trại. Ánh mắt Sinobi buồn vô hạn, nó thương thân nó, nó thương lũ cừu khờ khạo đến mê muội kia. Nó thừa biết nếu lũ cừu xông lên thì dư sức đạp bẹp dí thằng Omalasakhi và bọn đàn em của nó. Những con cừu béo ụ kia chỉ cần ép những cái mông của chúng thôi là đủ giết chết con Omalasikha, ấy là chưa nói đến cú húc như trời giáng kia.  Tiếc là lũ cừu không biết điều ấy, suốt ngày chỉ biết tranh nhau nắm cỏ mà ông chủ quẳng cho. Lũ cừu quên mất thân phận bị chăn dắt, chúng đâu có biết rằng chúng chỉ cần đứng sát vào nhau mà tiến tới thì những con chó chăn cừu chẳng làm gì được chúng. Sinobi đau lắm, đau vì vết thương thì ít mà đau trong tâm thì nhiều, trong đầu nó bao nhiêu giả thuyết giá mà, tiếc thay… Nó biết đi đầu một đàn cừu là khốn khổ và dễ mang vạ vào thân. Dẫn đầu đàn cừu không bằng đi theo đuôi một con trâu rừng. Sinobi muốn dẫn đàn cừu đi đến bãi cỏ non nhưng rồi lại bị chính cừu trong đàn húc nó, mắng chửi nó. Nhiều đứa dửng dưng nhưng cũng có đứa còn ganh tỵ cho là nó muốn làm đầu đàn.

Sinobi nằm đấy nếm mùi thương đau, cái đau thể xác có thể giết chết nó nhưng cái đau tinh thần mới làm cho nó suy sụp. Đàn cừu không ngừng cãi cọ và cắn xé nhau, chúng húc nhau tranh giành nẳm cỏ trong khi cả một đồng cỏ non phía trước thì không thấy. Chúng nó quên khấy đi chuyện cứ vài ngày ông chủ lại xẻ thịt một con cừu để ăn và giết rất nhiều những con cừu khác để bán thịt; rồi cứ vài tháng thì đè cả bọn chúng xuống xén trụi lông. Thịt cừu là thức ăn khoái khẩu của ông chủ và những người làm cho ông chủ, thịt và lông của chúng là nguồn thu nhập quan trọng của tập đoàn chăn cừu.

 

Hôm qua thằng Antony vừa được ông chủ mướn vào làm. Nó vừa xén lông vừa cai quản đám thợ cạo lông cừu lâu nay. Cai quản thì nó gắt gao và được việc lắm nhưng xén lông thì tay nghề nó còn non yếu. Nó cạo lông cừu quá vụng về làm cho lũ cừu kêu toáng lên, lũ cừu nháo nhác khiến cho ông chủ ngồi trong văn phòng bực mình, bước ra. Ông chủ cười khẩy:

 

– Antony, mày ngu quá! Hãy học cách xén lông mà tao đã dạy cho mầy, phải xén sao thật sát da nhưng đừng để lũ cừu ngu xuẩn kêu toáng lên.

 

Thằng Antony cười giả lả, mặt hướng về ông chủ:

 

– Thưa ông chủ, tại lũ cừu lắm mồm. Tôi xén lông cũng sạch hết ráo chứ có chừa lại tí nào đâu, chỉ có chút xíu rách da chảy máu mà chúng làm ầm ĩ.

 

– Đồng ý là mày xén cũng sạch nhưng phải làm sao cho chúng nó đừng kêu chí chóe như thế, mầy có thể dùng nhiều cách kể cả rọ mõm hay may miệng chúng nó lại.

 

– Vâng, tôi sẽ làm theo lời ông chủ.

 

– Mà này Antony, mầy cũng đừng quên cho con Omalasakhi và mấy con chó chăn cừu kia ăn đấy nhé! Chúng nó giữ đàn cừu đi đúng lộ trình, không có con Omalasakhi và lũ chó chăn cừu ấy thì tao cũng không thể nào đủ sức giữ bầy cừu này!

 

Thằng Antony luôn mồm vâng dạ, thật ra nó cũng thừa biết và đang làm những gì ông chủ muốn, tuy nó làm công thôi nhưng quyền lợi ông chủ ban cho nó cũng từ đàn cừu mà ra. Ông chủ Liar còn có biệt danh Reval, tướng người phốp pháp, nọng cổ như diềm áo của bọn quý tộc, bụng bự như con cừu có bầu, mặt mày lúc nào cũng quạu đeo, nhìn ai cũng thấy là kẻ trộm. Ông chủ Liar không tin ai cả, ngay cả vợ con của y, với thằng Antony và con Omalasikha thì ông chủ dùng nhưng không ít lần cười gằn với thằng trợ lý:

 

– Thằng Antony và lũ chó chăn cừu kia chỉ là công cụ, khi còn xài được thì cũng nên ban cho tụi nó chút ân huệ để buộc nó vào tròng, khi không còn xài được thì chúng nó không bằng một con cừu chết giẫm.

 

Ngày nào Reval cũng ăn thịt cừu, khi thì nướng, lúc thì quay hoặc ninh nhừ… Ông chủ không thể sống nếu thiếu thịt cừu. Y thừa hưởng đàn cừu từ cha của mình là ông Navaro. Navaro vốn xuất thân là tay trộm cừu khét tiếng trên thảo nguyên Karuolia, từ một tay trộm cừu ông ấy cùng đàn em lừa đảo cướp đoạt toàn bộ lũ cừu ở thảo nguyên và nghiễm nhiên trở thành ông chủ. Sau khi Navaro chết thì Liar thừa hưởng đàn cừu nối nghiệp làm ông chủ.

 

Ông chủ Liar là một tay xén lông cừu vào hạng cao thủ, lưỡi dao của ông ấy cắt cổ con cừu nhanh đến độ máu đã chảy mà con cừu chưa hay biết cổ đã bị cắt, đến khi chúng toan mở miệng kêu thì đã muộn mất rồi.  Còn khi y xén lông thì không sót một sợi nào và chẳng có con này kêu ca vì chúng chẳng hay biết lông đã bị cạo. Ông chủ còn có biệt tài nữa có thể mổ cừu ở giữa đàn cừu mà lũ cừu hoàn toàn không biết ông chủ có thể làm thế! Trước Sinobi thì cũng đã có nhiều con đầu đàn đã bị ông chủ giết thịt. Lông cừu được xén sẽ biến thành những chiếc xe sang trọng đắt tiền mà ông chủ sưu tập, những biệt thự xa hoa lộng lẫy, những con số rất lớn trong các tài khoản nhà băng, những cuộc ăn chơi mát trời ông địa. Thịt cừu xuất khẩu đổi lấy tiền và ông chủ dùng tiền lại mua thịt những cô bé chỉ đáng tuổi con cháu của ông ấy, tất nhiên cả tiền chi trả cho thằng Antony và đám tay chân cũng như tiền nuôi tụi chó chăn cừu Omalasakhi cũng từ thịt cừu. Ông chủ và bọn đàn em sống phè phỡn từ thịt cừu và lông cừu mà lũ cừu vẫn không biết, ngày ngày húc nhau để tranh nắm cỏ khô, đánh nhau ầm ĩ để giành một con cái. Lũ cừu cảm ơn ông chủ đã cho chúng ăn cỏ khô và uống nước trong những cái máng và chúng xem con Omalasikha với mấy con chó chăn cừu kia như người bảo hộ cho chúng.

 

Sinobi nằm một mình ở đấy, gần đấy còn vài con cừu theo nó cũng bị thương tích đầy thân. Nó ngước nhìn mấy con cừu ấy đầy vẻ cảm thán vì những gì phải chịu đựng. Ở phía xa xa phía bãi chăn thả, bầy cừu đã rẽ đi hướng khác theo sự dẫn dắt của Omalasakhi và lũ chó chăn cừu. Sinobi cảm nhận nó sẽ chết nhưng không hề hối tiếc. Nó đã làm hết mình để đưa đàn cừu ra bãi cỏ ngoài bìa rừng, nơi ấy cỏ non, nước mát và quan trọng hơn cả là lũ cừu có thể vào rừng tự do không còn phải quay về chuồng. Nó ước muốn tự do cho đàn cừu nhưng lực bất tòng tâm, đàn cừu không thể vượt qua cái tánh cừu của chúng Sinobi đã nhiều lần từ chối tự phóng thích mình. Không dưới ba lần, bọn dê núi và những con cừu rừng bảo nó hãy về nơi hoang dã, nơi ấy sống tự do không còn bị chăn dắt bởi lũ chó chăn cừu, không còn bị thằng Antony xén lông hay bị ông chủ giết thịt. Nó cũng toan đi nhưng vì thương lũ cừu nên không nỡ đi một mình. Nó muốn đưa cả đàn cừu cùng đi và bây giờ nó gánh hậu quả như thế này. Dê núi Ryobi đã bảo nó:

 

– Mày phải tự giải thoát cho mày, mày không thể giải thoát cho đàn cừu khi chúng nó không muốn. Chúng đã quen với lối sống chăn dắt, chúng thích thú khi bị xén lông. Chúng không biết là ông chủ và bọn chó chăn cừu đã cầm tù đời chúng, thậm chí chúng còn cảm ơn  nữa kìa!

 

– Tao biết, nhưng tao không nỡ nhìn đàn cừu từng ngày bị xén lông và bị giết thịt, tao cố gắng làm hết sức mình.

 

– Mày có biết là mày đang đem sinh mạng ra đùa với ông chủ và lũ chó chăn cừu? Con Omalasikha sẽ cắn chết mày, hoặc có khi đàn cừu nghe lời ông chủ sẽ húc mầy. Đàn cừu thích được chăn dắt cũng như lũ gà vịt thích cái chuồng của chúng. Mày không thể đem núi rừng hoang dã ra nói với chúng được. Chúng không nghe, không tin và không bao giờ muốn biết. Đàn cừu chỉ biết có sự chăn dắt và gà vịt chỉ biết cái chuồng của chúng. Mày còn nhớ con gà trống Kalioda? Nó đội mào đỏ tươi, mặc bộ lông sặc sỡ, mang cặp cựa bén nhọn trông nó rất oai phong hùng dũng cứ như là một chiến binh, ấy vậy mà tệ hại vô cùng. Khi gà rừng Tadoobi gáy gọi nó lên rừng, ở đó sống tự do bay nhảy, ngày ăn bông cỏ uống nước suối trong, tối ngủ trên cành cây, bình minh gáy vang rừng… đời như thế là nhất thiên hạ. Những tưởng Khalioda sẽ theo Tadoobi đi ngay, nào ngờ nó không nghe mà còn quay lại chửi: “Đồ ngu, hoang dã vậy có gì hay mà ca ngợi? Tao ở trong chuồng có chủ cho ăn uống, có chó bảo vệ khỏi cáo chồn, sáng cửa chuồng mở, tối đóng lại… Ông chủ tốt như thế, sao lại bỏ chủ lên rừng? Tao khômg nghe lời rừng rú của mày đâu!”. Sinobi, mầy còn nhớ chăng? Lũ người thường bảo nhau “Làm tớ người khôn hơn làm thầy đứa dại”, là vậy.

 

Gà rừng Tadoobi không thuyết phục được gà trống Khalioda nên bỏ đi, chẳng bao lâu sau thì gà trống Khalioda đá độ bị thua và bị ông chủ giết thịt làm món xé phay để nhậu cho hả giận.

 

Sinobi giọng thiểu não:

 

– Tao biết, chính mắt tao thấy ông chủ cầm hai chân gà trống Khalioda quật vào tường, sau đó thì giao cho thằng Antony làm thịt. Tao thấy tiếc thay cho nó, nếu nó nghe lời gà rừng Tadoobi thì đời nó đã không chết thảm và vô ích như vậy. Lẽ ra giờ này nó đang ở trên rừng gáy vang giữa trảng tranh bên suối. Nó đã quen chuồng trại nên không sao hiểu được cuộc sống nơi rừng xanh núi thẳm, nơi đất rộng trời cao.

 

Sinbio bị gãy hai chân, nó không thể chạy được, cổ nó bị vết thương rất nặng vì hàm răng sắc bén của con Khalioda, máu vẫn còn ri rỉ. Sinobi nằm đó nó ngước nhìn bầu trời xanh, thỉnh thoảng hướng mắt về cánh rừng xanh thẫm đằng xa, nơi ấy đỉnh ngọn núi thiêng Freedom cao sừng sững như cái đích  cho những con cừu nào muốn về với rừng hoang dã thiên nhiên. Sinobi yếu dần, nó cảm nhận cái chết đang đến từ từ, từng tế bào đang lạnh đi, hơi thở dường như hụt vì phổi nó đang cạn dưỡng khí. Sinobi biết chắc nó sẽ chết, nếu không chết vì vết thương thì thằng Antony cũng sẽ kéo nó về mà giết thịt thôi. Nó không muốn chết, nó chưa thể chết lúc này, nghĩ vậy nó ráng hít hơi thở thật sâu, trườn về phía trước, khi cử động, vết thương làm cho nó đau thấu tận óc, từng tế bào như bị nghiền xay. Nó nghỉ một tí rồi lại cố lết, cứ như thế nó lết về hướng rừng xanh, nơi ấy ngọn núi Freedom cao vút, đỉnh núi như chạm đến mây trời.  Nó cố gắng một cách phi thường để vượt được một quãng đường khá xa. Nó đến được bìa rừng, nó đã nằm dưới bóng chiều chênh chếch của ngọn núi. Một lần nữa nó quay đầu nhìn lại hướng điền trang thấy đàn cừu và lũ chó chăn cừu đã quá xa và mờ nhạt.

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 04/22)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.