Hôm nay,  

YÊU

21/06/202221:24:00(Xem: 5197)

Truyện ngắn

sad woman

Tất cả bọn họ đã bỏ về cả rồi. Phòng khách trống vắng, những điếu thuốc lạnh tanh, chén đĩa bẩn thỉu, những cái gạt tàn đầy ắp, tất cả khiến tôi buồn nôn...

 

Ủa, cái gì vậy, Marie đã bỏ quên chiếc khăn quàng đỏ thật đẹp của cô nàng kìa.

 

Một buổi tối thật vui! Mọi người đã đến đông đủ. Nhưng không thấy chàng đâu cả. Tôi đã mong mỏi, hy vọng biết bao rằng chàng sẽ đến. Tôi đã phải hầu hạ mọi người, rồi nói, rồi cười. Nhưng tôi, tôi chỉ muốn có một điều, đó là nhìn thấy mái tóc đen rối bời và tia nhìn chế giễu của chàng. Tôi tưởng tượng hình ảnh của chàng đứng tựa vào khung cửa và nói:

 

– Hình như ta quen nhau phải không?

 

Không, tôi và chàng không quen biết nhau, không, tôi không hề biết chàng, tôi không bao giờ biết chàng sẽ làm gì, sẽ nói những gì, tôi luôn hồi hộp, chờ đợi, mong muốn.

 

Những lúc chàng ở bên tôi, tôi nhảy từ ngôi sao này sang ngôi sao khác, tôi lắc lư, đong đưa trên ông trăng, tôi lượn quanh dải Ngân Hà, và từ nơi tận cùng của tâm hồn mình, cuối cùng tôi biết vì sao tôi được sinh ra. Chỉ vì như vậy thôi, để tôi mất hút trong mớ tóc của chàng, để lấy ngón tay vẽ lên mi mắt của chàng, để được chàng hôn.

 

Khi chàng không có đây, trái tim tôi tan nát, tư tưởng của tôi phủ một màu đen tối, tôi hụt hẫng vì vắng đôi tay chàng, không có bất cứ điều gì làm cho tôi nguôi ngoai sự thiếu vắng đó, trái tim tôi thổn thức đau buồn, toàn thân tôi tan biến, tôi không còn niềm vui nào nữa. Tại sao chàng không đến? Chàng biết tôi trông đợi chàng mà; lần sau cùng gặp nhau, tôi không muốn năn nỉ, nên chỉ nói:

 

– Anh sẽ ghé chứ?

 

Ôi, tại sao tôi dùng cái động từ ngu xuẩn thế nhỉ – "ghé qua " – Tôi đã tổ chức buổi tiệc này là cho chàng, để giới thiệu chàng với tất cả bạn bè của tôi! Chúng tôi đã đi lại với nhau trong suốt sáu tháng trời mà chưa ai biết mặt chàng cả!

 

Tôi muốn chàng lẫn vào thế giới của tôi, tôi muốn mọi người nhìn thấy chàng và tôi tay trong tay, tôi muốn dùng chữ "Chúng Tôi", tôi muốn vặn cổ sự cô đơn của tôi, vào ngày trong đại ấy, vào buổi tối quan trọng ấy, để mình không còn là con số lẻ nữa.

 

Hỏng bét! Suốt buổi tối hôm đó tôi có cảm tưởng như mình là con số 1 To Tướng – cô đơn, lẻ loi.

Ôi, tôi nghĩ mình là gì vậy?

 

Chàng chưa bao giờ nói tiếng yêu với tôi. Chưa bao giờ hứa hẹn tôi bất cứ điều gì. Không. Chàng nhận tôi vì tôi đã dâng cho chàng, bởi vì tôi muốn sở hữu lấy chàng trên tất cả mọi thứ, tôi cần phải biết từng hạt phân tử của làn da chàng, hơi thở của chàng, mùi hương của chàng, bởi vì với tôi, dâng cho chàng có nghĩa là chiếm lấy, chiếm lấy chàng, giữ lấy chàng trong hàng nghìn giây, một buổi yến tiếc thật sự, một sự tràn ngập về giác quan và tâm hồn, say mê, sở hữu.

 

Còn chàng thì chưa bao giờ nói điều gì, chàng chỉ thích lặng lẽ, chàng thể hiện lời nói bằng thân thể, đôi tay, đôi môi chàng. Rồi khi chàng ra đi tôi chỉ còn sự im lặng ở lại với tôi. Không có cả một cuộc gọi, không có một dấu hiệu nào, một sự lãnh đạm thật tệ hại, một bậc thầy về sự xa cách, ôi cả một nghệ thuật của sự thiếu vắng!

 

Tất cả những cảm xúc đó thật tôi không thể nào chịu đựng nổi, quá sức to lớn, chúng mang tôi đi xa quá, vì sau đó tôi không thể nào trở lại như trước được nữa, tôi không biết phải hiện hữu như thế nào, tôi không biết phải có cử chỉ động tác nào nữa, không biết chữ nào nữa, và tất cả mọi thứ khác đều như những hải đảo thật xa xôi.

 

Tiếng chuông ngoài cửa vang lên. A, đúng rồi, Marie, và khăn quàng của cô ta.

 

Mái tóc đen rối bời, tia nhìn chế giễu, đứng tựa vào khung cửa.

 

Trên nền trời màu xanh sẫm như biển, chị Hằng tròn vo, sáng chói, đang nháy mắt nhìn tôi.

 

– Constance Delange

(tháilan dịch)

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hồi trước cứ mỗi lần Tết đến là tôi đều chọn một ngày đầu năm để “ngày xuân khai bút”, viết xuống tâm tư suy nghĩ của mình. Làm như lúc này là lúc tôi để ý đến thời gian, tuổi tác, chuyện xưa và những kỷ niệm, những dự định tương lai…hơn bao giờ hết. Sau biến cố 75 và di cư sang Mỹ thì những ngày đầu năm âm lịch không còn là cái mốc để tôi “ôn cố tri tân”nữa . Tháng 4, đúng ra là ngày 30 tháng 4 mới là ngày tôi dừng lại, ngược dòng thời gian về qúa khứ hay nghĩ đến những ngày trước mặt…
Tấm dzé số em tặng thằng chủ để mừng sinh nhựt nó. Chỉ có một đồng. Để tiết kiệm em còn hổng ghi thêm Encore tốn thêm một đồng nữa. Chỉ cần một đồng thôi. Nói là em cheap, em cũng chịu nhưng chi tiền cho người ngoài thì chi nhiều thấy tiếc. Chủ nó đã giàu thấy mồ tổ rồi. Dzì dzậy năm nào em cũng mua tấm dzé số một đồng kèm theo một tấm thiệp chúc mừng. Chuyện trúng số chỉ là chuyện ầu ơ dzí dzầu. Bởi anh nghĩ coi, cái đức của em, cứ giả sử như có cái thứ gọi tên là “cái đức” đi, nhưng là dzé số của nó, dzậy thì nếu trời muốn cho em trời cũng chả cho tấm dzé ấy trúng độc đắc được, còn nếu như là đức của nó thì tấm dzé ấy cũng hổng thể trúng dzì là tấm dzé em chọn. Em nghĩ dzậy đó, hổng biết có đúng hôn. Anyway. Mắc mớ gì phải lo.
. . . Hồi Sinh. Trạng thái từ cõi chết trở về với sự sống. Từ lụi tàn trở mình thành mạch sống sinh sôi. Từ huyễn mộng rũ tan lớp sương mù quá khứ để hòa mình vào dòng thực tại tuy ngổn ngang bời bời nhưng thơm ngát mùi cà phê mới pha buổi sáng và rực rỡ những đóa hoa nhiều mầu sắc trong khu vườn vừa mới thức dậy. Một khoảnh khắc hồi sinh, đôi khi cũng đủ để đem lại ý nghĩa cho mảng đời đầy ắp những truân chuyên.
Nhìn lịch giật mình, ngày tháng trôi nhanh quá, mới đó đã đến tháng tư đen. Từ khi bị dịch Vũ Hán tôi không được đi dự ngày buồn 30 tháng Tư năm 2020, năm nay với tình hình này chắc ban tổ chức cũng khó thực hiện. Dù vậy nhưng ký ức tôi sống dậy mãnh liệt những ngày tháng ấy ...
“Ba! Ba cho con treo lá cờ để tưởng niệm ngày ba mươi tháng Tư?’ Ông gật đầu: “Ừ, con treo đi! Bé Tú, phụ cô Tư nghen con! Chắc chắn, sẽ có những người đi đường dừng lại và hỏi chúng ta nhiều câu khó trả lời. Nhưng các con đừng ngại. Hãy giải thích cho họ hiểu. Đây là lá cờ di sản đáng hãnh diện của người Việt chúng ta.”
Lẽ ra nàng cũng muốn yên thân sau khi đất nước thống nhất một mối. Nhưng số cô truân chuyên, năm 76 đậu vào ĐHSP ban Anh Văn, học chỉ được nửa năm thì nhận được tờ quyết định cho nghỉ học vì lý lịch bằng giấy pelure xanh mỏng tanh mà thay đổi một phận người. Cô không bỏ cuộc, về lại địa phương miệt mài đi lao động rồi sang năm thi lại CĐSP AV, xong hai năm học nàng cũng không được bổ nhiệm vì lý lịch. Biết không còn đất dung thân trên chính quê hương mình nên cô và các em đã mơ đến một phương trời xa.
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.