Hôm nay,  

ĐẾM SAO

09/07/202217:28:00(Xem: 3576)
Tạp bút

star

Em hãy đếm những vì sao trên trời được bao nhiêu thì anh yêu em còn nhiều hơn thế nữa.
Bùi Quang Đoài (Một Câu Chuyện Tình)

- Anh về đếm hết sao trời,
Em đây kết tóc ở đời với anh.
(Ca dao)

 

Cô hàng xóm và tôi đang ngồi trên ngọn đồi cách xa thành phố, cùng ngắm nhìn những ngôi sao lấp lánh trên cao. Cô ngồi bó gối bên tôi. Chiếc váy “mini” quá ngắn, hớ hênh đến độ tôi cứ tưởng như những con "dế mèn, dế dũi" của nhà văn Tô Hoài quanh đây có thể nhẩy vào cái nơi hoang vắng thâm u ấy. Sự hớ hênh này thật chẳng thích hợp với khung cảnh nên thơ và trong sáng của đêm nay. Cô dựa đầu trên vai tôi, ngước mắt nhìn trời đếm những vì sao:

 

Một ông sao sáng

Hai ông sáng sao

Ba ông sao sáng

Bốn ông sáng sao.

 

Và cứ như thế, cô đếm không ngừng, tưởng chừng như càng đếm được bao nhiêu ngôi sao thì số lượng tình yêu của tôi dành cho cô cũng sẽ nhiều như thế.

 

Cô chợt ngừng đếm rồi quay sang nói với tôi bằng một giọng thật nũng nịu:

 

- Anh đếm đi!

 

- Đếm cái gì?

 

- Đếm sao! Đếm theo em đi.

Tôi ngập ngừng:

 

- Ừ… thì đếm!

 

Sao và sao, đâu đâu trên vòm trời cũng đều là sao cả. Có đến hàng vạn, hàng triệu, hàng ức ngôi sao đang nhấp nháy, ngôi tỏ ngôi mờ. Tôi phân vân không biết phải bắt đầu đếm từ ngôi sao nào.

. . .

Ngẫm sao con tạo xoay vần

Chờ cho đến tối dần dần mọc ra
Mọc ra vô số hằng hà
Thiên hà vạn ức biết là bao nhiêu

Trời quang sao mọc cũng nhiều

Đến khi trăng tỏ ra điều sao thưa.

. . .

(Ca dao)

 

Tôi chỉ cho cô những ngôi sao thật sáng và tôi tự đặt tên cho chúng với cái tên của những vì sao quen thuộc mà tôi đã từng nghe đến từ cái thuở xa xưa, cái thuở cô hàng xóm còn chưa ra đời.

. . .
Trên trời sao Bẩy sao Ba
Nhị thập bát tú cùng là Thất tinh

Sao Hôm chỉ mọc một mình

Sao Mai gà gáy chung tình với ai

Có Hôm mà chả có Mai
Kìa như sao Vượt chờ ai giữa trời
Nam tào, Bắc đẩu đôi nơi

Thần nông sao ấy trị vì làm ăn.

. . .

(Ca dao)


Tôi chợt nhớ tới và se sẽ hát "Bài Ca Sao" của Phạm Duy, đồng thời cũng vờ chỉ cho cô những ngôi sao có tên trong bài hát ấy. Cô nhìn tôi chớp chớp đôi mắt cảm động một cách ngờ nghệch vì cô tưởng đâu những câu tình tứ trong bài ca mà tôi đang hát là để chỉ dành riêng cho cô.

 

Sao Tua chín cái nằm kề

Thương em từ thuở mẹ về với cha

Sao Vua dăm cái nằm xa

Thương em từ thuở người ra người vào

Sao Mơ sáu cái nằm chầu
Sao Khuê mấy cái nằm đâu?
Sao Khuê mấy cái nằm dài

Thương em từ thuở tình ngoài nghĩa trong

Sao Măng năm cái nằm ngang

Thương em từ thuở mẹ mang đầy lòng

Sao Vua năm cái nằm tròn

Sao Tư bốn cái nằm vuông

Sao Hôm le lói đầu hè

Thương em từ thuở em về với ai

Sao Mai le lói ngọn cây

Thương em từ thuở về xây tình người.

Sao Vân xa tít đầu trời

Sao Quanh cao ngất ngoài khơi

Sao Vân muôn cái mịt mùng

Thương em từ thuở ngàn trùng cách chia

Sao Quanh theo gót người đi

Thương em chỉ có trời khuya nhìn về

Sao ơi, sao hỡi buồn gì?

Sao ơi, sao hỡi buồn chi?

 

Tôi lại còn bịa ra một lô tên cho những ngôi sao mà những tên ấy chưa hề từng có ở trên cõi đời này như sao Lưu Bị, sao Quan Công, sao Trương Phi, vì thấy chúng ở gần nhau như đang diễn ra cái cảnh kết nghĩa Vườn Đào. Cô hàng xóm của tôi thì mù tịt với những cái tên trong truyện Tầu ấy nên chỉ còn biết há mồm, ngẩn tò te thán phục.

 

Cô thích thú với sự chỉ dẫn rất "nổ" của tôi, hỏi:

 

- Anh học Thiên Văn à? Sao anh biết nhiều sao thế!

 

Tôi "nổ" tiếp:

 

- Ừ, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ này. Anh không biết thì còn ai biết. Cái gì mà anh chẳng biết!

 

Cô hỏi thêm:

 

- Thế sao Chổi ở đâu?

 

- Đằng kia kìa. Tôi bâng quơ chỉ tay về hướng những ngôi sao xa tận cuối chân trời.

 

- Sao nó không giống cái chổi?

 

- Hỏi vớ vẩn! Quét xong, ông Trời cất đi rồi. – Tôi bí nên gạt ngang, cười xòa.

 

Cô cười theo rồi cứ lấy tay đấm vào đùi tôi thùm thụp:

 

- Anh nói dối nhá, anh nói dối nhá!

 

Cô nói với một giọng rất "nẫu" mà cứ cho là rất nũng nịu ngây thơ. Đợi khi cô thôi đấm, nhớ đến nhà văn Vũ trọng Phụng than thân là mình đã sinh ra vào một ngôi sao xấu, tôi giải thích thêm:

 

- Người xưa tin rằng mỗi người dưới trần gian này sẽ tương ứng với một vì sao trên trời.

 

Cô chồm lên ngắt lời tôi:

 

- Thật hả? Thế ngôi sao của em ở đâu, tên gì?

 

Tôi chỉ vào một ngôi sao rồi nói:

 

- Kia kìa, tên là sao Băng.

- Tại sao tên là sao Băng? Cô chớp chớp đôi mắt ngạc nhiên.

 

Tôi ỡm ờ trả lời:

 

- Tên Băng vì em lạnh như băng (giá) ấy!

 

- Thế ngôi sao của anh phải nóng lắm hả. Chắc nó tên là Lửa (sao Hỏa)?

 

Nói xong câu ấy, cô tự cho đó là câu nói đùa đầy dí dỏm, mặt vênh vênh đắc ý rồi phá lên cười. Tiếng cười của cô lanh lảnh vang xa làm con sóc gần đó sợ hãi chui tọt vào hang.

 

Tôi mỉm cười hóm hỉnh đáp:

 

- Không phải. Sai rồi. Ngôi sao của anh ở tít đằng xa kia kìa, tên là sao "Nổ".

 

- Sao "Nổ"? Em chưa hề nghe thấy bao giờ.

 

- Sao "Nổ" thì nhiều lắm. Mỗi sao nổ một cách.

 

Tôi nghiêm giọng, ra vẻ thầy đời, lên giọng dậy dỗ:

 

- Em không biết à? Những ngôi sao “Nổ” này cùng họ hàng gần với sao "Phét" (nói phét), gần với sao "Khoác" (khoác lác)... Thường thì những ngôi sao này rất mờ. Vì rất mờ so với những ngôi sao khác nên chúng phải nổ để mong cho mình được sáng thêm lên và được mọi người chú ý tới. Vì là sao “nổ” nên khi nổ, âm thanh của nó thường chát chúa đến đinh tai nhức óc, nhưng cũng có khi tiếng nổ chỉ lẹt đẹt vài tiếng như pháo "tép " trẻ con chơi trong ba ngày Tết. Tiếp theo những tiếng nổ thường là những sự đổ vỡ, vỡ cửa vỡ nhà hay vỡ mặt, hay còn có khi "vỡ nợ" nữa. Và cái "vỡ nợ" bẽ bàng gần nhất là những câu thường được nghe thấy liền sau tiếng nổ: "Nổ rồi mà chỉ sáng được có thế thôi à!"

 

Cô nghển cổ im lặng nghe tôi nói một cách hết sức thành khẩn, thành khẩn đến trở thành ngu ngơ, ngốc nghếch. Tay cô xoa nhẹ lên chiếc váy nơi bị muỗi đốt. Muỗi ở đây đốt đau và ngứa ngang với muỗi West Nile chết người. Hết xoa cô lại lấy hai ngón tay lúc cấu, lúc véo cho đã cơn ngứa. Có khi cô cho hẳn bàn tay vào trong để gãi. Động tác gãi của cô quá tự nhiên, tự nhiên đến độ tôi không thể trách cô tại sao lại làm như thế trước mặt một người đàn ông đứng đắn như tôi, một người vốn cầm tinh sao "Nổ".

 

Cô vẫn há hốc mồm ra chiêm ngưỡng nhìn tôi dù tôi đã ngừng nói từ lâu. Cô cứ ngẩn người ra như Từ Hải chết đứng pha lẫn nét đăm chiêu. Rồi cô nhìn lên trời cao, buông thõng một tiếng bất ngờ:

 

- Xạo!

 

- Xạo gì? Tôi trố mắt hỏi.

 

- Anh nói em cứ đếm trên trời có bao nhiêu vì sao, anh sẽ yêu em còn nhiều hơn thế nữa.

 

Tôi chưng hửng vì tôi cứ tưởng từ nẫy đến giờ cô đang lắng nghe tôi nói về những ngôi sao "Nổ". Tôi miễn cưỡng hỏi:

 

- Thế em đếm được bao nhiêu ngôi sao rồi?

 

- Được vài chục!

 

Tôi nháy mắt hỏi đùa:

 

- Thế còn chưa đủ cho em à?

 

Cô trở nên thông minh khác thường, đánh nhẹ vào cánh tay tôi cười ré lên:

 

- Anh này... nham nhở nhá... chưa đủ! Phải cả nghìn cơ!

 

Tôi không hiểu nổi chữ “nham nhở” cô dùng ở đây. Nói xong cô đứng lên vụt chạy ra xa, ngoảnh lại như chờ tôi đuổi theo sau. Tôi đứng dậy vươn vai nhìn trời cao. Tôi giật mình khi nhìn thấy một ngôi sao sáng quá. Ngôi sao ấy cứ nhìn tôi chầm chập và như trách móc tôi sao tới giờ này vẫn chưa về ăn cơm tối, bắt chờ. Tôi nhìn ngôi sao ấy, trong lòng không khỏi bối rối và có chút gì hổ thẹn. Tôi nói vọng về phía cô hàng xóm đã chạy ra xa với giọng gần như ra lệnh:

 

- Về!

 

Cô nói vọng lại:

 

- Chưa gì đã về!

 

- "Chưa gì" là chưa cái gì? Về!

 

Tôi vội rảo bước nhanh. Cô hàng xóm lật đật chạy theo sau.

 

Cô như vẫn còn ấm ức:

 

- Ngày mai anh phải đưa em lên đây đếm sao tiếp. Anh nhớ mang theo cái chăn nữa nhé, ngồi trên cỏ ngứa quá.

 

Cô chạy lên phía trước, vừa chạy vừa đưa hai tay ra sau cào gãi hai khối thịt nung núc đang tưng lên theo bước chạy.

 

Trời vẫn trong, gió vẫn thổi và những ngôi sao vẫn lấp lánh trên cao. Cô hàng xóm vẫn đổ dốc xuống đồi. Một ngôi sao xẹt ngang trời. Sao "Sa". Một ngôi sao vừa nổ tan tành. Buồn!

 

Và tôi cũng buồn cười vì thấy cô hàng xóm đã chạy xuống đến gần cuối chân đồi. Bóng dáng cô trở nên ngắn và tròn nên tôi cứ ngỡ như cô ấy đang lăn. Cũng may cô không phài là chị Doãn của nhà văn Vũ Trọng Phụng, một người đàn bà có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai, mà ngược lại, nhan sắc của cô thì lại đẹp vô cùng để cho tôi:

 

Buồn trông chênh chếch sao Mai,

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ.

(Ca dao)

 

Nguyễn Giụ Hùng

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đây là một câu chuyện có thật, đã được nhân vật chính cho phép ghi lại và phổ biến. Hiện nay, nhân vật chính đang sống ở Mỹ, bên cạnh các con cháu thành đạt và hết lòng thương yêu Cô. Ngoài chuyện kể về con đường phấn đấu đem các con sang Mỹ của một người mẹ, câu chuyện còn ghi lại nhiều chi tiết trung thực trong bối cảnh xã hội miền Nam Việt Nam ngay sau tháng Tư, 1975, cũng như tấm lòng của người dân miền Nam đối với nhau trong gian đoạn vô cùng đen tối đó.
Kỷ niệm đầu tiên của tôi liên quan đến nhà văn Mai Thảo. Những ngày mới di cư vào Nam, gia đình tôi cư ngụ tại con hẻm gần nhà thờ Huyện Sĩ. Hai đầu con hẻm nối với hai đường lớn, là đường Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Một anh bạn thân đã chỉ cho tôi một người có bóng dáng rất văn nhân, đó là Mai Thảo. Ông ta thường xuất hiện trong những buổi sáng ở đầu hẻm trên con đường có nhà in mà tôi được biết là ông đang chăm lo cho ra đời tác phẩm đầu tay của ông, đó là cuốn “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Tôi đã phải lấy tiền để dành nhỏ nhoi ra mua và nghĩ rằng nó sẽ là một kỷ niệm để đời cho mình. Tôi đọc truyện ngắn “Đêm Giã Từ Hà nội” nhiều lần, và đến nay vẫn còn nhớ mang máng câu “Tôi nhìn xuống nước sông Hồng đục ngầu như máu mà Hà nội đang ở dưới đó…”. Tôi cũng rời Hà nội như ông, cũng ngồi trong một chiếc xe vận tải lớn chở những người di cư qua cầu Long Biên trong buổi tối nửa đêm về sáng sang phi trường Gia Lâm để đáp máy bay vào Saigon.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đã có nhiều mảnh đời tang thương. Trong số đó có cô bạn thân của tôi. Thu Nguyệt là một cô gái có khiếu thơ văn. 13 tuổi đã có nhiều bài đăng trên Nguyệt san Thiếu Nhi với bút hiệu Tê Hát Nguyệt Thi. Bạn khiến cả lớp chúng tôi ngưỡng mộ. Ngày đất nước im tiếng súng, gia đình bạn từ Trại gia binh ở phi trường Đà Nẵng phải dọn ra ngoài; sống vất vưởng nhờ cậy nhà người quen. Vì không có địa chỉ cố định, ba mẹ bạn cùng đàn con 7 đứa bị xếp vào gia đình phải đi Kinh Tế Mới đợt đầu tiên của thành phố Đà Nẵng. Năm đó tôi đang học lớp 12.
Câu truyện mà tôi kể dưới đây diễn ra trên toàn miền Bắc Việt Nam từ khoảng năm 1965 tới 1972. Trong bẩy năm trời đó, hàng triệu người tham gia vào câu truyện này và là nhân chứng, vậy mà cho tới nay không một báo chí, một truyện ngắn, truyện dài nào nói đến “sự kiện lịch sử” này. Điều này làm cho tôi cứ băn khoăn suy nghĩ trong nhiều năm trời: Tại sao có những sự việc phi lý đến như vậy mà lại có hàng triệu người vui vẻ tuân theo; cho tới bây giờ đang thời kỳ “mở cửa”, tiếp xúc với “Thế giới văn minh” bên ngoài nhưng khi nghe hỏi về sự việc đó thì vẫn có rất nhiều người đồng tình với nó và cho đó là đúng, là hợp lý.
Ngày đầu khởi hành từ làng Mangkang, đoàn người vừa đi vừa lạy được hai mươi dặm, cứ mỗi bảy bước là một lạy, mọi người lạy dài xuống đất, để cả đầu, mình tay chân chạm đất. Họ lạy với tất cả tâm thành tôn kính đức Phật. Chị Zesay có bầu nhưng vẫn lạy như mọi người, cô bé Ceba mới mười hai tuổi, con gái của Tenzin cũng lạy như mọi người.
Năm 1620 xa xưa con tầu Mayflower đã chở các gia đình người Anh từ Anh Quốc vượt Đại Tây Dương đến châu Mỹ để tìm đất hứa. Ngày nay con tầu này cũng đưa chúng tôi rời khỏi VN để đi tìm một vùng đất hứa như vậy. Chúng tôi đi trong Tháng Tư nên tên tàu April Flower được khai sinh từ đó
Bằng ngôn ngữ không chủ từ, bằng câu kệ không đầu đuôi, tôi cố thuyết phục bệnh nhân rằng chết không phải là chọn lựa thích hợp, rằng đâu đó trên thế gian này vẫn còn một người yêu thương cô hơn yêu thương chính mình, rằng trong những thứ con người có được, không gì quý bằng mạng sống. Tôi nói cho một mình tôi nghe. Tôi kể chuyện mẹ tôi. Tôi kể chuyện cha tôi. Tôi kể chuyện em gái tôi. Tôi kể chuyện nửa đêm tôi quýnh quáng lại nhà người bệnh. Con mắt đứa bé đã đứng tròng, chân tay co giật từng hồi. Muộn lắm rồi. Nhưng người mẹ khóc lóc nài van. Chích cho cháu mũi thuốc hồi sinh. Hay thuốc gì cũng được. Miễn là có chích. Biết đâu cháu nó lại không chết. Mũi kim nhọn ánh lên dưới ánh đèn dầu trong đêm tăm tối. Vậy mà thằng bé lại sống, cô Thắm biết không. Bây giờ cô Thắm biết thằng bé ấy đang làm gì không. Nó học y tá. Nhà nó nghèo không vào trường y được nhưng nó nhất định làm y tá để cứu người. Cô gái vẫn nằm nghiêng quay mặt vào tường. Lạnh băng tượng gỗ. Đôi vai khẽ chuyển động như v
Lão Honda Accord đã quá già, hơn hai trăm ngàn dặm rồi chứ ít sao. Lão đã gắn bó với cậu chủ mười mấy năm nay. Ngày mới về với cậu chủ, lão còn mới toanh, cậu chủ cưng như trứng hứng như hoa, một tí trầy xước trên thân lão cũng đủ làm cậu chủ đau lòng, mỗi tuần cậu chủ tắm rửa đánh bóng lão… Ấy vậy mà giờ cậu chủ chẳng ngó ngàng gì đến lão nữa, lão già và trở nên xấu xí, đôi khi còn giở chứng nữa.
Bất cứ ai sống trên đời, không nhiều thì ít, đều có những kỷ niệm đặc biệt vui buồn in sâu trong tâm trí. Một trong những kỷ niệm này cũng là khi mình từng được lãnh nhận những món quà xem như những kỷ vật tinh thần vô giá được lưu trữ từ đời này đến đời nọ cho con cháu sau này.
Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Đông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa.
Đăng lại nhớ chuyện con chó bơi qua sông trong một truyện ngắn của sư Giới Đức. Con chó ở chùa nghe chuông, ăn cơm chay, quanh năm quấn quýt với thầy. Một hôm kia nó nghe mùi thịt nướng bên kia sông nên bơi qua bên ấy, bơi đến giữa giòng thì nghe tiếng sư phụ gọi nên bơi quay về, gần tới bờ thì lại thèm mùi thịt nướng nên lại bơi ngược qua sông, cứ như thế nó bơi qua bơi lại đến khi kiệt sức thì chết đuối giữa giòng.
Tôi vẫn tin rằng tương lai một dân tộc, một đất nước sẽ khá hơn khi những công dân trẻ tuổi đặt câu hỏi này cho bản thân. Bởi vì những bạn trẻ đã tự vấn như vậy sẽ không để cho cuộc sống quí giá của mình trở nên lãng phí.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.