Hôm nay,  

Giấy đi cầu

20/07/202210:30:00(Xem: 5316)

Tạp bút

dicau


Ai cũng biết giấy là một vật rất quan trọng trong cuộc sống của nhân loại. Thời xa xưa, giấy vừa quý hiếm vừa mắc, chỉ được dùng trong việc ghi chép kinh kệ trong các nghi lễ tôn giáo, và cho các văn tự trong cung đình của vua chúa. Giấy được chế tạo lần đầu tiên vào năm 105 AD trước Công Nguyên, bên Tàu,  bởi một quan thái giám tên Ts’ai Lun (1). Nhưng hôm nay, tôi chỉ xin nói đến một khía cạnh “cực kỳ” quan trọng không kém của giấy, có khi quan trọng hơn là đằng khác trong thời đại chúng ta đang sống hôm nay, là giấy vệ sinh (toilet/bathroom tissue), nói nôm na là giấy đi cầu. 


Ở các nước giàu có, văn minh, giấy vệ sinh được bày bán rất nhiều trong các tiệm hoặc các chợ bán thực phẩm; còn ở Việt Nam, giấy đi cầu cũng thừa mứa đến nỗi người dân dùng để…lau miệng trong các tiệm ăn, nhà hàng. Hầu như toàn thế giới đều không biết quý trọng giấy vệ sinh cho đến khi nhân tai Covid xảy ra, giấy vệ sinh trở nên khan hiếm; không nói ra, ai cũng biết và từng chứng kiến cảnh xếp hàng dài ở các tiệm, giành giật nhau từng cuộn giấy vệ sinh. Không khéo còn xảy ra chiến tranh vì giấy đi cầu.


Sau trận đại dịch, nhiều người bắt đầu chuyển sang xài nước để nếu bất cứ chuyện xảy ra lần nữa, họ cũng vẫn có thể giữ cho thân thể mình được sạch sẽ. Thế mới hay giấy đi cầu, sau vài ngày bỗng trở nên quý hiếm y như mấy thế kỷ trước đây lúc nhân loại vừa biết cách làm ra giấy. Họ trang bị cho các bàn cầu trong nhà bằng một loại dụng cụ được gọi là “bidet” (2), tức máy rửa phần dưới, thay cho giấy. 


Tại đất nước con cháu Thái Dương Thần Nữ, người dân đã đi trước thế giới một thời gian dài. Những lần ghé nước Nhật, ở trong các khách sạn, tôi đều có dịp sử dụng máy rửa này, thật tiện lợi vì ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa Hè. Phiền một điều là những cái nút xử dụng chỉ được viết bằng tiếng Nhật; may nhờ hồi nhỏ hay coi truyện tranh có hình, tôi cũng mò mẫm xử dụng đúng “chức năng” chùi rửa và hong khô của nó. Về lại Mỹ, tôi mua ngay 1 cái gắn trong bàn cầu nhà, xài thử để bắt kịp nền “văn hóa rửa” của Nhật Bản, để cho bằng anh và bằng em, và quan trọng hơn nữa là để khỏi lo thiếu giấy khi khan hiếm.


Thật ra bidet được sáng chế ở Pháp vào cuối thế kỷ thứ 17, không được thịnh hành cho lắm vì chỉ nhà giàu mới dám xài; nhưng lịch sử Châu Âu có ghi, vào hậu bán thế kỷ thứ 18, hoàng hậu Maria Carolina của xứ Sicily và Naples đã cho gắn bidet trong phòng tắm của nàng.


Xin trở lại đề tài chính là giấy vệ sinh. Tuy hiện nay, con người đã khôn ra và biết xử dụng cả giấy lẫn nước, nhưng có bao giờ chúng ta thắc mắc, tò mò, thời cổ đại, con người ta khi cần phải giải quyết “bầu tâm sự”, nghĩa là phải xách cuốc ra đồng hay ôm bụng chạy ra sau hè, họ xài gì để chùi khi chưa có giấy? Rồi khi có giấy, tại sao con người vẫn chưa dám xài? Ngày nay, trong các nước nghèo như các nước cộng sản và một số nước ở Châu Phi, không có tiền mua giấy, họ dùng cái khỉ khô gì để làm sạch phía dưới?


Giờ nói chuyện bên Tây trước: khi chưa có giấy, người cổ La Mã và Hy Lạp ngày xưa xài một cây gậy, một đầu được quấn bông gòn hay miếng bọt bể, sau khi xài xong, ngâm đầu gậy vào thùng nước, rửa xong đem phơi khô để xài cho lần tới. Họ gọi cây gậy này là Tersorium. Năm 850 trước Công Nguyên, hai thày trò nhà thơ Hy Lạp Homer hay đi rong ruỗi trên đường, khi mắc đại tiện, họ xài cái gì để chùi? Homer là một đại thi hào mù, ông là tác giả thiên trường thi nổi tiếng “The Odyssee” được truyền tụng đến bây giờ. Theo truyền thuyết, trong túi đồ đeo bên vai của chú tiểu đồng đi theo hầu, lúc nào cũng có vài viên đá cuội dành cho việc đại tiện của chủ mình. Nếu hơi nhám, xài 3 viên, còn trơn láng, xài 4 viên. Nhiều nhà sử học kết luận, đế quốc La Mã cũng chấp nhận thời đó người dân đều xài đá cuội hay miếng giẻ từ quần áo cũ, được giặt sạch sau mỗi lần dùng.


Châu Âu thời Trung Cổ, thời các hiệp sĩ, vua quan, và dân thường. Họ xài gì khi cần đi “trút bầu tâm sự”? Ngoài xài nước là thứ không phải lúc nào cũng sẵn một bên, các chàng kỵ sĩ, quân lính trên đường ra mặt trận, họ phải xài một cành cây nhỏ hơi cong ở một đầu, hoặc lá cây, rơm, cỏ khô hay một cục đất khô, còn sang hơn một chút là miếng rong rêu phơi khô vì thứ này mịn và êm ái hơn nhiều.


Thời Phục Hưng bên Pháp: vua chúa và giới thượng lưu, mỗi khi “đi việc cần” , họ đi đâu, xài vật liệu gì để chùi? Nhà xí của họ hình dáng ra sao? Thời này văn minh hơn, giấy đã bắt đầu phổ biến nhiều nhưng vẫn rất đắt đỏ vì hầu hết chỉ được xài trong văn tự cung đình và trong văn chương, thi phú và hội họa cho giới thượng lưu. Thời hoàng đế Napoleon, người giàu đã dám xài giấy, loại giấy xài rồi, có chữ viết bị bỏ đi, họ chỉ vò cho nó mềm để chùi. Còn dân nghèo vẫn phải xài giẻ rách, chùi rồi giặt lại xài tiếp cho đến khi nào tả tơi thì thôi. 


Có truyền thuyết ghi chép rằng trong triều đình Pháp còn xài dây thừng. Trong nhà vệ sinh của hoàng gia lúc nào cũng có 1 sợi dây thừng treo toòng teng kế bên dành cho việc đi ngoài. Khi xong việc đại quan trọng, người ta chỉ cần lòn dây thừng qua giữa hai chân, rồi kéo tới kéo lui như chơi đàn violon vậy. Quả là “đại tiện…lợi”. Họ không thích thay dây mới: đức vua xài xong, đến hoàng hậu, rồi các triều thần. Người ta giải thích vì việc này tượng trưng cho vua tôi một dạ một lòng, trung thành và chí tình với nhau. Nhưng tôi ngờ rằng họ không thay vì lý do “nhạy cảm” như các vị “tủ lạnh” trong nước hay nói; dây cũ thì trơn tru, kém độ ma sát, còn dây mới thì nhám nhúa, coi bộ hơi thốn dữ đa. Cứ tưởng tượng một tờ giấy nhám còn mới, độ nhám số 80 hay số 120 mà chà vào nơi nhạy cảm thì phải biết, còn xót xa hơn cả một mùa Đông tê tái. 


 blank

 Ghế bồn cầu xài trong cung điện Versailles, Pháp.

blank 

Bidet được dùng trong thế kỷ 18 Châu Âu.


Bây giờ nói về giấy vệ sinh bên ta mà 3 nước lớn và văn minh tiêu biểu như Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản.


blankblank

Hình trái: Bàn cầu của Từ Hy thái hậu bên Tàu; Hình phải:  Chugi, thẻ tre của Nhật Bản thời chưa xài giấy.


Thời cổ bên xứ Phù Tang, hoàng gia và triều thần, các Samurai và quý tộc đều xài Chugi vì chưa có giấy. Chugi là những thanh gỗ hay thanh tre dùng để quẹt phía dưới sau khi giải tỏa xong “bầu tâm sự”. Nó trở nên thịnh hành vì rẻ và rửa lại xài tiếp, nói theo ngôn ngữ trong nước là xài “liên hoàn”, có nghĩa là cứ xài đi xài lại, càng xài càng bóng và càng êm. Họ đã xài Chugi trong cả ngàn năm mà vẫn chưa bao giờ lỗi thời. Chỉ những gia đình vua chúa, quyền quý mới biết xài giấy vào thế kỷ thứ 7 sau công nguyên.


Có truyền thuyết hoàng gia Nhật cũng xài cánh của con ve sầu. Cánh ve cứng và giòn, nên người hầu phải ngâm trong nước ấm 3 ngày mới đem ra dùng được. Phương cách này có điều lợi là cánh ve sầu trong suốt nên có nhìn thấu qua để biết hoàng tộc có bị bệnh đàng dưới như táo bón, kiết lỵ, hoặc có bị  “Tào Tháo rượt” hay không? Điều này rất dễ dàng cho các ngự y chẩn và chữa bệnh cho hoàng gia.


Còn anh hàng xóm khổng lồ 4 tốt, 16 chữ vàng kế bên, thời xưa xài cái gì? Vào thời Tam Quốc khoảng năm 220-280, trong sách Tư Tri Thông Giám có viết rằng người Tàu cũng xài một thanh gỗ hay thanh tre được vuốt theo hình cái thẻ, gọi là Xí Trù (廁籌).


Thời xưa không có giấy vệ sinh, người xưa dùng cái gì ? – Triết học đời sống

Xí trù: Thẻ tre đi cầu ngày xưa bên Tàu.


Thời Phật Giáo còn sơ khai, sau khi Đức Phật đã nhập Niết Bàn cả trăm năm rồi, các đệ tử mới ghi chép lại trong Tì Ni Mẫu Kinh, lời Đức Phật dạy khi đi nhà xí, ta phải đem theo thẻ tre và cỏ khô đến trước nhà xí, ta phải búng ngón tay 3 lần để người bên trong biết có người đang ở bên ngoài chờ đến phiên. Khi xong, nếu không có thẻ tre thì không được chà lên vách, ván, hay cột của nhà xí. Không được dùng đá, đất nhuyễn, cỏ tươi, lá cây mềm, hay các loại cây lạ. Chỉ được xài gỗ, tre, hay cỏ lau làm thành thẻ tre dài nhất một gang tay, ngắn là 4 lóng tay. Cái nào xài rồi, không được để lẫn lộn với thẻ sạch. Qua chuyện này, chúng ta biết người Ấn Độ đã đi trước người Tàu trong việc xử dụng thẻ tre trong việc vệ sinh cá nhân.


Dù người Tàu đã sáng chế ra giấy từ năm 105, nhưng giấy vẫn là một món hàng quý và đắt, là một trong văn phòng tứ bửu gồm Bút, Nghiên, Giấy, Mực. Giấy cũng được dùng trong việc thờ tự và là một phương tiện giao tiếp với trời đất thần linh bằng cách viết chữ trên đó, đốt tờ giấy để dâng lên thần thánh. Vì vậy, đối với người Tàu, giấy vẫn là một thứ linh thiêng và quý hiếm.

Lúc hoạn quan Nguyễn An xây Tử Cấm Thành năm 1420, không hề có bất cứ một cầu tiêu hay nhà xí nào trong khuôn viên. Người hầu phải khiêng những thùng gỗ chất thải, đi theo một lối đi riêng, sau khi hoàng gia xài xong, họ xịt nước hoa để khử mùi.  Khi Càn Long lên ngôi (1711-1799), ông mới cho xây 3 nhà xí trong cung điện của mẹ mình, có giấy chùi đầy đủ kèm theo.


Người Ấn Độ dạy cho người Tàu cách dùng thẻ tre trong một thời gian rất lâu; rồi đến con cháu Thành Cát Tư Hãn mới chỉ cho người Tàu cách thay que bằng giấy khi họ chiếm toàn cõi Trung Hoa. Người Mông Cổ vốn không đặt nặng vấn đề tín ngưỡng nên không coi trọng giấy trong việc thờ phượng. Theo Nguyên Sử, phần liệt truyện của Du Tôn Huy Nhân Dụ Thánh hoàng hậu, có ghi: nàng Bá Lam Dã Khiếp Xích, khi còn là vợ của thái tử, sống rất hiếu thuận với mẹ chồng, tức mẹ của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt; nàng thường dùng má của mình để thử độ mịn màng của giấy trước khi đưa cho Chiêu Duệ Thuận Thánh hoàng hậu dùng trong việc vệ sinh cá nhân. 

Thời nhà Minh, trong sách sử cuốn 50, có ghi về một cơ quan chuyên lo việc về giấy đi cầu trong cung đình được gọi là Bửu Sao Ty. Đến thời nhà Thanh, có nhiều sử sách có viết về việc dùng giấy đi cầu. Trong truyện Hồng Lâu Mộng, giữa thế kỷ thứ 18, đời Càn Long, nhà Thanh, hồi thứ 41, có đoạn tả cảnh  lão Lưu bất giác thấy bụng sôi sùng sục, bèn hét một a hoàn lấy cho mấy tờ giấy, rồi định cởi quần ra. Mấy người gần đó vừa cười vừa quát to: “Chỗ này không đi được đâu!”. Rồi sai một bà già đưa lão Lưu đi về hướng Đông Bắc. Đưa lão Lưu đến nơi, bà già vội lẩn đi nơi khác. 


Viết về đủ các thời kỳ, cách thức các nước trên thế giới xài giấy đi cầu mà không viết về thời văn minh đỉnh cao đi thụt lùi của người và của chế độ cộng sản sau năm 1975, sẽ là một thiếu sót lớn lao trong lịch sử Việt Nam thời cận đại. Cái thời mà người người, nhà nhà, ngoại trừ mấy mấy “ngài tủ lạnh” cao cấp và gia đình họ, dân đen, ai nấy đều phải “tư duy sâu”, “phát huy sáng kiến”, tận dụng và “cải thiện” tối đa phương tiện có được trong thiên nhiên, ngoài nước sông, nước giếng, nước hồ, ai nấy lo bứt lá cây mềm, xui tận mạng mới hái lầm lá Poison Ivy, xài lá chuối khô mà phải đúng lá chuối xiêm phơi một nắng cho nó mịn màng; nếu đang ở ngoài ruộng thì bờ cỏ non, xanh mềm như nhung là tuyệt vời nhất, xong việc, cọ bàn tọa lên bờ cỏ êm ái, thì cảm giác còn mê ly hơn lý tưởng cộng sản gấp vạn lần.


Riêng tôi lúc đó đang phá rẫy trồng đậu và bắp ở trong rừng nên có dư dả vật liệu cho việc “đi đồng”. Tôi phơi khô và tích trữ cùi bắp và vỏ trái bắp rất nhiều, cả một kho. Ai thiếu thốn, tôi không biết, tôi chỉ biết tôi dư thừa “giấy đi cầu” cho riêng bản thân tôi, lại còn có dư để tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội mà không cần đến cái thứ giấy “Kiss Me” của bọn tư bản giãy chết. 


Một lần tôi từ trên rẫy về thăm nhà, chở theo về một ít nông sản trồng được ở rừng về cho gia đình. Tôi bắt gặp đứa em gái từ trong nhà xí bước ra, trên tay cầm một tập thơ Tố Hữu trong tủ sách của tôi, chỉ còn lam nham vài tờ. Thấy tôi, mặt nó tái xanh, thất thần và hoảng sợ; còn tôi giật mình, đau nhói trong tim, không phải tiếc tập thơ mà vì thương em gái mình. Từ một đứa bé gái quen sống ở thị thành, không biết khổ là gì, nay phải xài cái thứ giấy màu nâu nhám nhúa, thô ráp, lòng tôi quặn đau vì thương em.


Chiều hôm đó, một bà ve chai đi ngang nhà, rao bán giấy vụn cân ký cho người ta gói hàng, tôi kêu vô và thấy mấy chồng báo Nhân Dân, một cuốn Tư Bản Luận, vài cuốn sách về chủ nghĩa cộng sản đóng bìa da mạ vàng còn mới tinh do nhà xuất bản Chính Trị Sự Thật in ra còn thơm mùi mực, giá rẻ rề. Tôi mua hết cả gánh cho bà ra về được nhẹ nhàng. Bà cho hay, nếu cần thêm, bà còn cả đống sách mới nguyên, còn ràng giây cẩn thận, cũng do những nhà xuất bản nhà nước mới in xong, chưa ráo mực, bà sẽ gánh đến bán cho tôi, giá rất phải chăng. Tôi vui vì đã có một quyết định đúng lúc và tôi tự hứa không để gia đình mình phải xài cùi bắp do tôi mang về. 


Có lẽ do sống khá lâu trong xứ thiên đường nên bà xã tôi có cái tật đầu cơ tích trữ, kể cả tích trữ giấy đi cầu, nhờ vậy trong thời đại dịch, chúng tôi chưa bao giờ thiếu giấy. Bây giờ lại có thêm bidet hỗ trợ thì tôi chẳng còn phải lo chi việc giấy…tờ. Dầu sao qua những thăng trầm lịch sử của giấy đi cầu, tôi cũng rút ra được kinh nghiệm sống: trong cái khó, nó ló cái khôn; ở trong nước thì trong cái khó, nó ló cái gian. Nếu không có cả hai thứ cần thiết là giấy và bidet, tôi vẫn sống khỏe bằng chính đôi tay của mình, bằng những cái mình tự có khi phải trả lời tiếng gọi thiên nhiên của cơ thể mình mà người Mỹ vẫn nói với đùa với nhau một cách dí dỏm và văn hoa khi con người phải “answer nature’s call”, be ready. 

    

blank

Giấy đi cầu Việt Nam thời XHCN.


Nguyễn Văn Tới (LT)

(7/2022)


Chú thích:


https://en.wikipedia.org/wiki/Cai_Lun

https://en.wikipedia.org/wiki/Bidet

https://www.travelchinaguide.com/attraction/beijing/are-there-toilets-inside-forbidden-city.htm

Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.