Hôm nay,  

Cà phê dĩ vãng

06/10/202221:08:00(Xem: 3644)

Truyện ngắn


ca-phe 


Thành ngồi yên lặng trong góc quán cà phê quen thuộc, phải nói là thân thuộc mới đúng. Nơi này đã chứng  kiến bao nhiêu kỷ  niệm của chàng từ thuở tóc xanh cho đến lúc phai màu. Quán đã trải qua bao đời chủ, qua bao thăng trầm của lịch sử, được sửa đi, sửa lại nhiều lần, nhưng lần nào về ngồi lại nơi này, chàng luôn có cảm tưởng như một người về lại căn nhà cũ thân thương sau bao tháng ngày nhung nhớ. Hôm nay, Thành trở lại với một tâm trạng thật buồn: Chàng vừa hoàn tất xong thủ tục li dị với Thu Hằng, cô vợ trẻ đẹp, lại có giọng hát hay như ca sĩ làm chàng  mất cả linh hồn khi lần đầu tiên gặp gỡ ở một tiêm karaoke đèn mờ trong một lần về nước bị đám bạn rủ rê đi... rửa mắt. Thành không thể quên được thời gian đó, chàng đã tả xông hữu đột, chiến đấu không mệt mỏi để đánh bại bao đối thủ vây quanh người đẹp, nhưng đối thủ nặng ký nhất (hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) lại là Thuý Lan, vợ chàng. Cuối cùng nhờ danh hiệu bác sĩ lại có phòng mạch riêng, tiền bạc dư giả, những đối thủ kia đều lượng sức mình nên lần lượt bỏ cuộc. Thuý Lan cũng đầu hàng vì biết rằng có đi hết cả thẩm mỹ viện trên thế giới này cũng chẳng thể nào kéo lại được hơn 20 tuổi xuân xanh như đám cỏ non phơi phới kia, nên đành an phận với căn nhà và số tiền bồi thường đủ sống thỏa thuê cùng con cháu đến cuối đời. Phải mất gần bốn năm năm công sức  cả về vật chất lẫn tinh thần chàng mới... ẵm được người đẹp Thu Hằng từ quán karaoke đèn mờ Việt Nam qua chốn đèn... cao áp của nước Mỹ.

 

Những giọt cà phê vẫn chậm chạp rơi đều như những giọt đắng của đời chàng. Thành lơ đãng nhìn ra ngoài đường, dòng xe cộ tấp nập. Sài Gòn của chàng đó muôn đời sống động, nhưng với chàng hình như đã chết hẳn tình thương. Chàng nghe như có cái gì đó chơi vơi, trống trải trong tâm hồn, cứ tưởng rời Mỹ về lại Việt Nam thì có thể quên đi phần nào nỗi đau và sự nhục nhã của cuộc hôn nhân ngu muội. Nhưng giờ ngồi đây, mọi việc quay lại như một cuốn phim khá rõ nét trong tâm tư của chàng. Chợt có tiếng chuông điên thoại reo, Thành uể oải nhấc máy, tiếng một gã bạn cũ rủ rê đi nghe nhạc hay đi karaoke tối nay. Vừa nghe xong, chàng đã nổi nóng cố kìm tiếng chửi nặng chỉ chực tuôn ra trong cơn giận dữ. Chàng thật không sao hiểu được có nhưng người không hề biết đau thương và liêm sỉ là gì bởi họ sẵn sàng lăn lóc từ những cuộc tình nhơ nhuốc hết quán bia đến phòng trà rồi karaoke, họ bị phụ bạc, mất trắng nhưng rồi lại lao đầu vào như những con thiêu thân vậy.

 

Chàng về lại Việt Nam, tìm sự bình yên nơi quán cà phê đầy kỷ niệm của tuổi trẻ hồn nhiên trong trắng, với một mối tình đầu thanh cao không vướng chút bụi đời. Bao lần rồi chàng đến đây, ngồi một mình cùng ly cà phê nóng mơ màng thả hồn về dĩ vãng, mỉm cười một mình, suy tư một mình và thưởng thức cảm giác yên tĩnh một minh. Nhưng lần này thì không, càng cố quên chàng càng nhớ đến THU HẰNG với sự THÙ HẰN còn in đậm trong tâm trí. Chàng đã yêu quý, chiều chuộng cô ta chỉ với ước mơ có một ca sĩ của riêng mình nên mới cất công đem cô ta sang đây. Ai ngờ, cô sửa soạn, tiêu xài xa hoa cho sắc đẹp của mình để đi hát cho kẻ khác nghe. Chàng tỏ vẻ ghen tuông thì cô ta càng làm tợn hơn nữa. Thời buổi công nghệ thông tin mà, đời nào cô chịu yên phận với một “nạn nhân” gầy gò, tuổi đời hơn cả bố mình, chi tiêu lại không rộng rãi như cô mơ ước, thế là cô tìm bạn, suốt  ngày lướt Facebook để biết thông tin về thủ tục li dị, rồi sau đó làm sao để tiếp tục được ở lại Mỹ. Sự lạnh nhạt xa cách của cô ta làm Thành điên tiết, nhưng không làm gì được. Cuối cùng bác sĩ Thành lại phải đi bác sĩ tâm lý để chữa bệnh căng thẳng thần kinh. Sau ba năm khi cô ném tờ giấy xuống bàn và hất hàm bảo Thành ký. Chàng biết thừa đó là giấy gì nhưng vẫn hỏi:

 

– Giấy gì vậy? Tại sao tôi phải ký?

 

– Giấy li dị – Cô ta lạnh lùng nói – Anh không ký cũng chẳng sao nhưng sẽ trả giá rất đắt

– Thật là con khốn nạn, đồ rác rưởi, vô liêm sỉ –  Thành hét lên uất ức.

 

Thu Hằng hiền dịu, nũng nịu thỏ con ngày nào chợt hiên nguyên hình là môt ả Hồ Ly sắc sảo và tàn độc. Cô ta chỉ tay vào mặt Thành nói từng câu như, từng mũi dao nhọn xoáy thẳng vào tim chàng đau nhói:

 

– Nè ông già ngu xuẩn kia! Uổng công cho ông ăn học thành bác sĩ nhưng cũng chẳng khác gì con bò trong mắt tôi. Ông tự soi gương coi mình là ai mà dám đem con này sang để sở hữu một mình? Ông chửi ai khốn nạn? Chính những hạng khốn nạn như ông về Việt Nam để thỏa mãn thú tính mới đẩy bọn tôi vào con đường này. Nếu các ông thực sự yêu quê  hương dân tộc sao không đi tìm những nơi dân tình lầm than mà giúp đỡ? Nếu các ông không khốn nạn thì tại sao bỏ vợ hiền con ngoan, đem tiền của nạp mạng cho bọn tôi? Nếu các ông không khốn nạn thì tại sao toàn đem tuổi trẻ của bọn tôi ra như một thú vui để đáp ứng nhu cầu dơ bẩn như những con vật? Ông và những kẻ như ông liệu có xứng đáng để bọn tôi quý trọng ăn đời ở kiếp không? Ông chửi ai vô liêm sỉ? Chính ông và những hạng người như ông làm gì có liêm sỉ nên mới lao vào chốn ăn chơi sa đọa, cưới về một người đáng tuổi con cháu ông. Đó là tình yêu hả? Liêm sỉ gì? Cái thứ liêm sỉ của ông tôi vứt ra đường chưa chắc chó nó thèm nhìn? Ông chửi ai rác rưởi? Tôi không biết bác sĩ như ông danh giá chỗ  nào? Sạch sẽ chỗ nào? Chui vào chỗ đèn mờ ông cũng là một thứ vi trùng rác rưởi mà thôi. Vì sao? Tâm ông bệnh hoạn, thân ông cũng bệnh luôn, làm gì có tình yêu trong sạch khi những người như ông ôm ấp môt người đàn bà đã qua tay biết bao người trước đó rồi. Ông mà có liêm sỉ thì đi làm từ thiện, đọc sách, đi du lịch hay tìm đến nhưng nơi tôn nghiêm thanh tinh, sống cuộc đời thanh cao. Đằng này, ông không đem tiền ra giúp đỡ những kẻ khốn cùng lại sẵn sàng chi mạnh tay cho những người như bọn tôi. Ông có biết là trước khi lăn lóc vào con đường này, bọn tôi từng là những kẻ khốn cùng không? Nếu ông và  những người như ông mà đem tiền bạc ra xây trường học, cấp phát học bổng cho học sinh nghèo, đem kiến thức dạy dỗ người hay ít ra là tấm gương trong gia đình nhỏ của mình thì đó mới gọi là: có liêm sỉ. Ông nghĩ xem, ông vừa khốn nạn, vừa vô liêm sỉ, vừa như một thứ rác rưỡi đầy vi trùng, liệu tôi có thể sống tiếp tục với ông không? Ông và những hạng người như ông lại ngu xuẩn đến nỗi nghĩ rằng tiền có thể buộc chân được bọn này sao? Ông có, người khác có nhiều hơn, còn tinh thần của ông, thế giới của ông làm sao hợp với những người cách ông cả một thế hệ, thậm chí là hai hoàn cảnh sống khác biệt. Ông chỉ biết thoả mãn nhu cầu tình, còn bọn tôi là tiền và còn nhiều thứ khác nữa, với tuổi đời như các ông thì đáp ứng được bao lâu? Đừng chửi ai, hãy tự chửi cái ngu của mình trước đã!

 

Cả bầu trời như tối sầm ngay trước mặt mỗi khi Thành chợt nhớ lại những lời nói độc địa kinh hoàng của người đẹp karaoke ngày  nào. Chợt cả quán cà phê bừng lên như có ánh nắng đầu  xuân bừng chiếu vì Thành thấy có hai phụ nữ vừa bước vào, người phụ nữ đứng tuổi đi trước có một khuôn mặt quen quen mà có lẽ cả đời chàng không bao giờ quên được.Thành bật gọi:

 

– Mỹ Hạnh !

 

Cô giật mình quay lại nhìn chàng đăm đăm rồi reo lên mừng rỡ:

 

– Anh Thành! Phải là anh không?

 

Trước sự ngạc nhiên của người phụ nữ trẻ đi cùng, cô kéo ghế ngồi ngay cạnh Thành tíu tít thăm hỏi. Chàng cũng vui mừng quá đỗi nên cứ ngẩn ngơ tưởng như đang nằm mộng. Mỹ Hạnh, hoa hậu trong lớp ngày xưa, một thời hoa bướm tươi đẹp với những ngày dối bố mẹ đi học thêm để hẹn hò cùng nàng. Rồi những đêm đưa nàng về, Thành đứng thật lâu dưới đường ngước nhìn lên khung cửa sổ vẫn còn ánh đèn như lời nhắn nhủ: Em vẫn chờ anh! Sau ngày mất nước, cả hai cũng mất liên lạc với nhau. Căn biệt thự của gia đình nàng bị tịch thu, bố đi học tập cải tạo, anh trai chết trận, chị dâu nghe nói cũng chết vì sinh khó đứa con thứ hai hay là do chị buồn quá nên chết? Cả gia đình nàng tan tác. Thành may mắn vẫn học tiếp đại học rồi tốt nghiệp vài năm sau đó. Dòng đời đưa đẩy Thành tình cờ nhìn thấy Mỹ Hạnh ngồi trước quầy bán thuốc lá nhỏ, bên cạnh là một đứa bé xinh xắn nhưng có vẻ gầy guộc vì thiếu ăn. Chàng định tiến lại nhưng rồi ngập ngừng, cuối cùng thì ngoảnh mặt đi thẳng với trái tim tan nát vì thương cảm mà chẳng giúp được gì. Mỹ Hạnh đã có chồng, chàng phải chấp nhận sự thật cay đắng này, nhưng chàng cũng cảm thấy an ủi vì ít ra trong thời buổi khó khăn đó, nàng cũng có nơi nương tựa. Quay sang cô gái đi cùng, Mỹ Hạnh nói:

 

– Anh còn nhớ bé Thanh Ly không? Nhỏ con đầu của anh Hưng anh trai của em đó.

 

Thành à lên một tiếng rồi vui vẻ nói:

 

– Trời ơi! Anh nhớ chứ, nhưng ngày xưa bé Ly mới được hai, ba tuổi gì đó. Thấm thoát mà đã hơn 40 năm qua rồi.

 

Mỹ Hạnh thở dài buồn buồn:

 

– Vâng! Mới đó mà đã hơn 40 năm rồi.Hồi đó, nhà em còn lại bốn người: hai mẹ con em, bé Ly và thằng Hùng, con út của anh Hưng, tội nghiệp nó, mới sinh ra đã mồ côi cha mẹ. Có thời gian từ kinh tế mới về, em tá túc nhờ bên ngoại bé Ly, vừa bán cà phê, thuốc lá, vừa trông cháu. Thời gian đó, em nhớ đến anh, rồi chợt nghĩ nếu như anh nhìn thấy, chắc anh tưởng là em đã có gia đình.

 

Vì ngồi khuất trong góc, ánh đèn của quán cà phê lại mờ nên Mỹ Hạnh không để ý nét mặt của Thành. Lời tâm  sự của nàng làm Thành choáng váng, tiếng kêu trời tắt nghẽn trong tim, chàng tự biết dù có trách mình đến đâu thì cũng quá muộn rồi. Mỹ Hạnh hình như cũng quá xúc động khi nhắc đến thời gian đó, nàng lấy khăn chậm nước mắt. Cả ba cùng  im lặng một lúc, cô cháu gái tên Ly giờ mới tham gia câu chuyện khi Thành chuyển sang đề tài khác cho Mỹ Hạnh bình tĩnh lại:

 

– Tội nghiệp hai chị em Ly quá! Hồi đó không có cô và bà nội chắc…

 

Ly bùi ngùi nói:

 

– Vâng! Cô Hạnh như mẹ của hai chị em con vậy, cô thương bố mẹ con mất sớm nên hết lòng lo cho tụi con. Cô hy sinh cả chuyện tình cảm nhận lời lấy chú Ký Tàu để được đi theo diện bán chính thức. Nhưng chú Ký Tàu cũng tốt lắm, chú xoay xở cho hai chị em con đi theo luôn, bà nội không chịu đi vì còn chờ tin ông nội.

 

– Cái gì? Ký Tàu? Phải thằng béo, mắt hí hồi xưa theo em rồi cứ đem tiệm vàng nhà nó ra khoe không? – Thành bất mãn hỏi.

 

Mỹ Hạnh ngượng ngùng cúi đầu im lặng, cô cháu gái lại lên tiếng:

 

– Chú cũng qua thời kỳ khó khăn đó mà, người ta đem tình yêu ra cân ngang với sổ gạo. Bản năng sinh tồn, tình gia đình, nhân nghĩa, trách nhiệm khiến cô Hạnh của con cũng như bao người khác phải có những quyết định mà khi còn danh giá nằm mơ cũng không nghĩ đến. Với lại, chú Ký đến bây giờ vẫn đối xử rất tốt với cô và tụi con lắm.

 

Mỹ Hạnh nhìn cô cháu gái, cái nhìn ngụ ý đừng nói nữa. Thành chọt cảm thấy lòng mình thoải mái lạ lùng, những nặng nề đè nặng tâm tư bao tháng ngày qua chọt tan biến. À thì ra là thế! Cô gái vừa dùng chữ gì nhỉ BẢN NĂNG SINH TỒN. Ngày đó chàng đã làm được gì cho nàng mà bây giờ có  quyền trách móc? Nếu ngày xưa chàng thành hôn với Mỹ Hạnh biết đâu bây giờ cô lại đứng ở vị trí của Thuý Lan không chừng. Chàng nhìn kỹ lại người mình đã từng yêu say đắm, thời gian đã in hằn dấu ấn lên dáng người đẫy đà, khuôn mặt dù có trang điểm kỹ đến đâu, chàng cũng đoán được bộ mặt thật khi phấn son trôi mất. May mà nàng bây giờ là bà chủ lớn có nhà hàng, tiệm vàng, mấy căn nhà cho thuê, lấy chàng chắc gì ngày nay được sung túc đến thế. Nhưng tình cũ không rủ cũng đến, Thành biết cả hai đều còn dư âm ngày cũ, thậm chí rất nồng nàn, ngày xưa thì còn lễ giáo, sợ dư luận nên không dám tiến xa hơn… một cái nắm tay, bây giờ còn gì nữa cho nhau thì cho nhanh lên kẻo tình non sắp muộn rồi.

 

Ánh đèn đường bật sáng, câu chuyện đã tàn, Thành xin số điện thoại và địa chỉ khách sạn của hai cô cháu. Lúc bắt tay và nhìn thẳng (vì lúc đầu cô cháu  ngồi ngang nên cả buổi nói chuyện chàng không nhìn rõ). Chàng sững sờ nhận ra cô chính là hình ảnh sống động của Mỹ Hạnh  ngày xưa. Trong chiếc áo đầm trắng muốt, kiểu cách đơn giản nhưng lịch sự, trang nhã, mái tóc đen huyền, khuôn mặt không dấu vết của thẩm mỹ viện. Thành cứ nghĩ nếu cô thay chiếc áo đầm bằng tà áo dài trắng thì một dĩ vãng đẹp đẽ xa xưa sẽ hiện ra  trước chàng như bao lần chàng từng mơ khi trở lại quán cà phê này. Lúc chia tay, Mỹ Hạnh nhắn nhủ rằng cô về kỳ này không có chồng đi theo vì ông bận trông coi cửa tiệm. Lời thì thầm và ánh mắt tình tứ của Mỹ Hạnh không qua khỏi tia nhìn tinh tế của cô cháu gái. Thành thoáng thấy hình như cô lắc đầu thở dài, hành động đó làm chàng nhớ đến bài học LIÊM SỈ mà Thu Hằng dạy cho ngày nào. Chàng ngượng ngùng né tránh sự kề cận lộ liễu của người yêu cũ bằng cách giả vờ hỏi:

 

– Anh muốn mời hai cô cháu mai cùng đi ăn sáng, nhưng Ly chắc phải xin phép ông xã.

 

– Con bé này làm em mệt vì nó lắm, ai đời vợ chồng thôi nhau mười mấy năm rồi mà cứ tỉnh bơ ở không như vậy – Mỹ Hạnh than thở.

 

Thành thầm nghĩ: “Chứ ai như bà cô nó, chồng còn sờ sờ ra đấy mà đã có manh tâm rước giặc vào nhà rồi“. Chàng biết tinh thần mình đang dao động dữ dội, cơ hội dồn nén của mấy chục năm qua đã đến lúc được giải toả. Có nên một lần nữa đạp lên LIÊM SỈ để thoả cơn dục vọng không? Gã Ký Tàu kia không sao biết được, vả lại gã đã chiếm hữu người đẹp của chàng mấy chục năm rồi còn gì. Chợt con chó nhỏ của ông chủ quán cà phê chậm rãi lách mọi người đi qua, Cô cháu gái của Mỹ Hạnh mỉm cười chỉ nó:

 

– Con chó dễ thương quá! Nó là chó mà biết  LIÊM SỈ cố tránh không động vào ai để người ta không chửi.

 

Thành lặng người, lẫn lộn trước mắt chàng là Mỹ Hạnh và Thu Hằng chập chờn. Xa xa là Thanh Ly như một vầng sáng trắng mơ màng huyền ảo giữa đêm đen.

 

Ngọc Thanh Thi

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Buổi sáng, bầu trời trong xanh, khi mặt trời bắt đầu trải những tia nắng màu mật ong lấp lánh trên những phiến đá cẩm thạch còn ướt sương đêm; ngôi đền Parthenon, khu di tích cổ Acropolis, thành phố Athens, Hy Lạp, với mấy hàng cột đá đứng im lìm mang một vẻ trầm tư u mặc. Dường như thời gian chỉ tạm dừng để người lữ khách thơ thẩn bước chân ngắm nhìn, đắm chìm, và lắng nghe câu chuyện thần thoại của phế tích vang vọng về từ hằng ngàn năm trước.
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.