Hôm nay,  

Cà phê dĩ vãng

06/10/202221:08:00(Xem: 3660)

Truyện ngắn


ca-phe 


Thành ngồi yên lặng trong góc quán cà phê quen thuộc, phải nói là thân thuộc mới đúng. Nơi này đã chứng  kiến bao nhiêu kỷ  niệm của chàng từ thuở tóc xanh cho đến lúc phai màu. Quán đã trải qua bao đời chủ, qua bao thăng trầm của lịch sử, được sửa đi, sửa lại nhiều lần, nhưng lần nào về ngồi lại nơi này, chàng luôn có cảm tưởng như một người về lại căn nhà cũ thân thương sau bao tháng ngày nhung nhớ. Hôm nay, Thành trở lại với một tâm trạng thật buồn: Chàng vừa hoàn tất xong thủ tục li dị với Thu Hằng, cô vợ trẻ đẹp, lại có giọng hát hay như ca sĩ làm chàng  mất cả linh hồn khi lần đầu tiên gặp gỡ ở một tiêm karaoke đèn mờ trong một lần về nước bị đám bạn rủ rê đi... rửa mắt. Thành không thể quên được thời gian đó, chàng đã tả xông hữu đột, chiến đấu không mệt mỏi để đánh bại bao đối thủ vây quanh người đẹp, nhưng đối thủ nặng ký nhất (hiểu theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) lại là Thuý Lan, vợ chàng. Cuối cùng nhờ danh hiệu bác sĩ lại có phòng mạch riêng, tiền bạc dư giả, những đối thủ kia đều lượng sức mình nên lần lượt bỏ cuộc. Thuý Lan cũng đầu hàng vì biết rằng có đi hết cả thẩm mỹ viện trên thế giới này cũng chẳng thể nào kéo lại được hơn 20 tuổi xuân xanh như đám cỏ non phơi phới kia, nên đành an phận với căn nhà và số tiền bồi thường đủ sống thỏa thuê cùng con cháu đến cuối đời. Phải mất gần bốn năm năm công sức  cả về vật chất lẫn tinh thần chàng mới... ẵm được người đẹp Thu Hằng từ quán karaoke đèn mờ Việt Nam qua chốn đèn... cao áp của nước Mỹ.

 

Những giọt cà phê vẫn chậm chạp rơi đều như những giọt đắng của đời chàng. Thành lơ đãng nhìn ra ngoài đường, dòng xe cộ tấp nập. Sài Gòn của chàng đó muôn đời sống động, nhưng với chàng hình như đã chết hẳn tình thương. Chàng nghe như có cái gì đó chơi vơi, trống trải trong tâm hồn, cứ tưởng rời Mỹ về lại Việt Nam thì có thể quên đi phần nào nỗi đau và sự nhục nhã của cuộc hôn nhân ngu muội. Nhưng giờ ngồi đây, mọi việc quay lại như một cuốn phim khá rõ nét trong tâm tư của chàng. Chợt có tiếng chuông điên thoại reo, Thành uể oải nhấc máy, tiếng một gã bạn cũ rủ rê đi nghe nhạc hay đi karaoke tối nay. Vừa nghe xong, chàng đã nổi nóng cố kìm tiếng chửi nặng chỉ chực tuôn ra trong cơn giận dữ. Chàng thật không sao hiểu được có nhưng người không hề biết đau thương và liêm sỉ là gì bởi họ sẵn sàng lăn lóc từ những cuộc tình nhơ nhuốc hết quán bia đến phòng trà rồi karaoke, họ bị phụ bạc, mất trắng nhưng rồi lại lao đầu vào như những con thiêu thân vậy.

 

Chàng về lại Việt Nam, tìm sự bình yên nơi quán cà phê đầy kỷ niệm của tuổi trẻ hồn nhiên trong trắng, với một mối tình đầu thanh cao không vướng chút bụi đời. Bao lần rồi chàng đến đây, ngồi một mình cùng ly cà phê nóng mơ màng thả hồn về dĩ vãng, mỉm cười một mình, suy tư một mình và thưởng thức cảm giác yên tĩnh một minh. Nhưng lần này thì không, càng cố quên chàng càng nhớ đến THU HẰNG với sự THÙ HẰN còn in đậm trong tâm trí. Chàng đã yêu quý, chiều chuộng cô ta chỉ với ước mơ có một ca sĩ của riêng mình nên mới cất công đem cô ta sang đây. Ai ngờ, cô sửa soạn, tiêu xài xa hoa cho sắc đẹp của mình để đi hát cho kẻ khác nghe. Chàng tỏ vẻ ghen tuông thì cô ta càng làm tợn hơn nữa. Thời buổi công nghệ thông tin mà, đời nào cô chịu yên phận với một “nạn nhân” gầy gò, tuổi đời hơn cả bố mình, chi tiêu lại không rộng rãi như cô mơ ước, thế là cô tìm bạn, suốt  ngày lướt Facebook để biết thông tin về thủ tục li dị, rồi sau đó làm sao để tiếp tục được ở lại Mỹ. Sự lạnh nhạt xa cách của cô ta làm Thành điên tiết, nhưng không làm gì được. Cuối cùng bác sĩ Thành lại phải đi bác sĩ tâm lý để chữa bệnh căng thẳng thần kinh. Sau ba năm khi cô ném tờ giấy xuống bàn và hất hàm bảo Thành ký. Chàng biết thừa đó là giấy gì nhưng vẫn hỏi:

 

– Giấy gì vậy? Tại sao tôi phải ký?

 

– Giấy li dị – Cô ta lạnh lùng nói – Anh không ký cũng chẳng sao nhưng sẽ trả giá rất đắt

– Thật là con khốn nạn, đồ rác rưởi, vô liêm sỉ –  Thành hét lên uất ức.

 

Thu Hằng hiền dịu, nũng nịu thỏ con ngày nào chợt hiên nguyên hình là môt ả Hồ Ly sắc sảo và tàn độc. Cô ta chỉ tay vào mặt Thành nói từng câu như, từng mũi dao nhọn xoáy thẳng vào tim chàng đau nhói:

 

– Nè ông già ngu xuẩn kia! Uổng công cho ông ăn học thành bác sĩ nhưng cũng chẳng khác gì con bò trong mắt tôi. Ông tự soi gương coi mình là ai mà dám đem con này sang để sở hữu một mình? Ông chửi ai khốn nạn? Chính những hạng khốn nạn như ông về Việt Nam để thỏa mãn thú tính mới đẩy bọn tôi vào con đường này. Nếu các ông thực sự yêu quê  hương dân tộc sao không đi tìm những nơi dân tình lầm than mà giúp đỡ? Nếu các ông không khốn nạn thì tại sao bỏ vợ hiền con ngoan, đem tiền của nạp mạng cho bọn tôi? Nếu các ông không khốn nạn thì tại sao toàn đem tuổi trẻ của bọn tôi ra như một thú vui để đáp ứng nhu cầu dơ bẩn như những con vật? Ông và những kẻ như ông liệu có xứng đáng để bọn tôi quý trọng ăn đời ở kiếp không? Ông chửi ai vô liêm sỉ? Chính ông và những hạng người như ông làm gì có liêm sỉ nên mới lao vào chốn ăn chơi sa đọa, cưới về một người đáng tuổi con cháu ông. Đó là tình yêu hả? Liêm sỉ gì? Cái thứ liêm sỉ của ông tôi vứt ra đường chưa chắc chó nó thèm nhìn? Ông chửi ai rác rưởi? Tôi không biết bác sĩ như ông danh giá chỗ  nào? Sạch sẽ chỗ nào? Chui vào chỗ đèn mờ ông cũng là một thứ vi trùng rác rưởi mà thôi. Vì sao? Tâm ông bệnh hoạn, thân ông cũng bệnh luôn, làm gì có tình yêu trong sạch khi những người như ông ôm ấp môt người đàn bà đã qua tay biết bao người trước đó rồi. Ông mà có liêm sỉ thì đi làm từ thiện, đọc sách, đi du lịch hay tìm đến nhưng nơi tôn nghiêm thanh tinh, sống cuộc đời thanh cao. Đằng này, ông không đem tiền ra giúp đỡ những kẻ khốn cùng lại sẵn sàng chi mạnh tay cho những người như bọn tôi. Ông có biết là trước khi lăn lóc vào con đường này, bọn tôi từng là những kẻ khốn cùng không? Nếu ông và  những người như ông mà đem tiền bạc ra xây trường học, cấp phát học bổng cho học sinh nghèo, đem kiến thức dạy dỗ người hay ít ra là tấm gương trong gia đình nhỏ của mình thì đó mới gọi là: có liêm sỉ. Ông nghĩ xem, ông vừa khốn nạn, vừa vô liêm sỉ, vừa như một thứ rác rưỡi đầy vi trùng, liệu tôi có thể sống tiếp tục với ông không? Ông và những hạng người như ông lại ngu xuẩn đến nỗi nghĩ rằng tiền có thể buộc chân được bọn này sao? Ông có, người khác có nhiều hơn, còn tinh thần của ông, thế giới của ông làm sao hợp với những người cách ông cả một thế hệ, thậm chí là hai hoàn cảnh sống khác biệt. Ông chỉ biết thoả mãn nhu cầu tình, còn bọn tôi là tiền và còn nhiều thứ khác nữa, với tuổi đời như các ông thì đáp ứng được bao lâu? Đừng chửi ai, hãy tự chửi cái ngu của mình trước đã!

 

Cả bầu trời như tối sầm ngay trước mặt mỗi khi Thành chợt nhớ lại những lời nói độc địa kinh hoàng của người đẹp karaoke ngày  nào. Chợt cả quán cà phê bừng lên như có ánh nắng đầu  xuân bừng chiếu vì Thành thấy có hai phụ nữ vừa bước vào, người phụ nữ đứng tuổi đi trước có một khuôn mặt quen quen mà có lẽ cả đời chàng không bao giờ quên được.Thành bật gọi:

 

– Mỹ Hạnh !

 

Cô giật mình quay lại nhìn chàng đăm đăm rồi reo lên mừng rỡ:

 

– Anh Thành! Phải là anh không?

 

Trước sự ngạc nhiên của người phụ nữ trẻ đi cùng, cô kéo ghế ngồi ngay cạnh Thành tíu tít thăm hỏi. Chàng cũng vui mừng quá đỗi nên cứ ngẩn ngơ tưởng như đang nằm mộng. Mỹ Hạnh, hoa hậu trong lớp ngày xưa, một thời hoa bướm tươi đẹp với những ngày dối bố mẹ đi học thêm để hẹn hò cùng nàng. Rồi những đêm đưa nàng về, Thành đứng thật lâu dưới đường ngước nhìn lên khung cửa sổ vẫn còn ánh đèn như lời nhắn nhủ: Em vẫn chờ anh! Sau ngày mất nước, cả hai cũng mất liên lạc với nhau. Căn biệt thự của gia đình nàng bị tịch thu, bố đi học tập cải tạo, anh trai chết trận, chị dâu nghe nói cũng chết vì sinh khó đứa con thứ hai hay là do chị buồn quá nên chết? Cả gia đình nàng tan tác. Thành may mắn vẫn học tiếp đại học rồi tốt nghiệp vài năm sau đó. Dòng đời đưa đẩy Thành tình cờ nhìn thấy Mỹ Hạnh ngồi trước quầy bán thuốc lá nhỏ, bên cạnh là một đứa bé xinh xắn nhưng có vẻ gầy guộc vì thiếu ăn. Chàng định tiến lại nhưng rồi ngập ngừng, cuối cùng thì ngoảnh mặt đi thẳng với trái tim tan nát vì thương cảm mà chẳng giúp được gì. Mỹ Hạnh đã có chồng, chàng phải chấp nhận sự thật cay đắng này, nhưng chàng cũng cảm thấy an ủi vì ít ra trong thời buổi khó khăn đó, nàng cũng có nơi nương tựa. Quay sang cô gái đi cùng, Mỹ Hạnh nói:

 

– Anh còn nhớ bé Thanh Ly không? Nhỏ con đầu của anh Hưng anh trai của em đó.

 

Thành à lên một tiếng rồi vui vẻ nói:

 

– Trời ơi! Anh nhớ chứ, nhưng ngày xưa bé Ly mới được hai, ba tuổi gì đó. Thấm thoát mà đã hơn 40 năm qua rồi.

 

Mỹ Hạnh thở dài buồn buồn:

 

– Vâng! Mới đó mà đã hơn 40 năm rồi.Hồi đó, nhà em còn lại bốn người: hai mẹ con em, bé Ly và thằng Hùng, con út của anh Hưng, tội nghiệp nó, mới sinh ra đã mồ côi cha mẹ. Có thời gian từ kinh tế mới về, em tá túc nhờ bên ngoại bé Ly, vừa bán cà phê, thuốc lá, vừa trông cháu. Thời gian đó, em nhớ đến anh, rồi chợt nghĩ nếu như anh nhìn thấy, chắc anh tưởng là em đã có gia đình.

 

Vì ngồi khuất trong góc, ánh đèn của quán cà phê lại mờ nên Mỹ Hạnh không để ý nét mặt của Thành. Lời tâm  sự của nàng làm Thành choáng váng, tiếng kêu trời tắt nghẽn trong tim, chàng tự biết dù có trách mình đến đâu thì cũng quá muộn rồi. Mỹ Hạnh hình như cũng quá xúc động khi nhắc đến thời gian đó, nàng lấy khăn chậm nước mắt. Cả ba cùng  im lặng một lúc, cô cháu gái tên Ly giờ mới tham gia câu chuyện khi Thành chuyển sang đề tài khác cho Mỹ Hạnh bình tĩnh lại:

 

– Tội nghiệp hai chị em Ly quá! Hồi đó không có cô và bà nội chắc…

 

Ly bùi ngùi nói:

 

– Vâng! Cô Hạnh như mẹ của hai chị em con vậy, cô thương bố mẹ con mất sớm nên hết lòng lo cho tụi con. Cô hy sinh cả chuyện tình cảm nhận lời lấy chú Ký Tàu để được đi theo diện bán chính thức. Nhưng chú Ký Tàu cũng tốt lắm, chú xoay xở cho hai chị em con đi theo luôn, bà nội không chịu đi vì còn chờ tin ông nội.

 

– Cái gì? Ký Tàu? Phải thằng béo, mắt hí hồi xưa theo em rồi cứ đem tiệm vàng nhà nó ra khoe không? – Thành bất mãn hỏi.

 

Mỹ Hạnh ngượng ngùng cúi đầu im lặng, cô cháu gái lại lên tiếng:

 

– Chú cũng qua thời kỳ khó khăn đó mà, người ta đem tình yêu ra cân ngang với sổ gạo. Bản năng sinh tồn, tình gia đình, nhân nghĩa, trách nhiệm khiến cô Hạnh của con cũng như bao người khác phải có những quyết định mà khi còn danh giá nằm mơ cũng không nghĩ đến. Với lại, chú Ký đến bây giờ vẫn đối xử rất tốt với cô và tụi con lắm.

 

Mỹ Hạnh nhìn cô cháu gái, cái nhìn ngụ ý đừng nói nữa. Thành chọt cảm thấy lòng mình thoải mái lạ lùng, những nặng nề đè nặng tâm tư bao tháng ngày qua chọt tan biến. À thì ra là thế! Cô gái vừa dùng chữ gì nhỉ BẢN NĂNG SINH TỒN. Ngày đó chàng đã làm được gì cho nàng mà bây giờ có  quyền trách móc? Nếu ngày xưa chàng thành hôn với Mỹ Hạnh biết đâu bây giờ cô lại đứng ở vị trí của Thuý Lan không chừng. Chàng nhìn kỹ lại người mình đã từng yêu say đắm, thời gian đã in hằn dấu ấn lên dáng người đẫy đà, khuôn mặt dù có trang điểm kỹ đến đâu, chàng cũng đoán được bộ mặt thật khi phấn son trôi mất. May mà nàng bây giờ là bà chủ lớn có nhà hàng, tiệm vàng, mấy căn nhà cho thuê, lấy chàng chắc gì ngày nay được sung túc đến thế. Nhưng tình cũ không rủ cũng đến, Thành biết cả hai đều còn dư âm ngày cũ, thậm chí rất nồng nàn, ngày xưa thì còn lễ giáo, sợ dư luận nên không dám tiến xa hơn… một cái nắm tay, bây giờ còn gì nữa cho nhau thì cho nhanh lên kẻo tình non sắp muộn rồi.

 

Ánh đèn đường bật sáng, câu chuyện đã tàn, Thành xin số điện thoại và địa chỉ khách sạn của hai cô cháu. Lúc bắt tay và nhìn thẳng (vì lúc đầu cô cháu  ngồi ngang nên cả buổi nói chuyện chàng không nhìn rõ). Chàng sững sờ nhận ra cô chính là hình ảnh sống động của Mỹ Hạnh  ngày xưa. Trong chiếc áo đầm trắng muốt, kiểu cách đơn giản nhưng lịch sự, trang nhã, mái tóc đen huyền, khuôn mặt không dấu vết của thẩm mỹ viện. Thành cứ nghĩ nếu cô thay chiếc áo đầm bằng tà áo dài trắng thì một dĩ vãng đẹp đẽ xa xưa sẽ hiện ra  trước chàng như bao lần chàng từng mơ khi trở lại quán cà phê này. Lúc chia tay, Mỹ Hạnh nhắn nhủ rằng cô về kỳ này không có chồng đi theo vì ông bận trông coi cửa tiệm. Lời thì thầm và ánh mắt tình tứ của Mỹ Hạnh không qua khỏi tia nhìn tinh tế của cô cháu gái. Thành thoáng thấy hình như cô lắc đầu thở dài, hành động đó làm chàng nhớ đến bài học LIÊM SỈ mà Thu Hằng dạy cho ngày nào. Chàng ngượng ngùng né tránh sự kề cận lộ liễu của người yêu cũ bằng cách giả vờ hỏi:

 

– Anh muốn mời hai cô cháu mai cùng đi ăn sáng, nhưng Ly chắc phải xin phép ông xã.

 

– Con bé này làm em mệt vì nó lắm, ai đời vợ chồng thôi nhau mười mấy năm rồi mà cứ tỉnh bơ ở không như vậy – Mỹ Hạnh than thở.

 

Thành thầm nghĩ: “Chứ ai như bà cô nó, chồng còn sờ sờ ra đấy mà đã có manh tâm rước giặc vào nhà rồi“. Chàng biết tinh thần mình đang dao động dữ dội, cơ hội dồn nén của mấy chục năm qua đã đến lúc được giải toả. Có nên một lần nữa đạp lên LIÊM SỈ để thoả cơn dục vọng không? Gã Ký Tàu kia không sao biết được, vả lại gã đã chiếm hữu người đẹp của chàng mấy chục năm rồi còn gì. Chợt con chó nhỏ của ông chủ quán cà phê chậm rãi lách mọi người đi qua, Cô cháu gái của Mỹ Hạnh mỉm cười chỉ nó:

 

– Con chó dễ thương quá! Nó là chó mà biết  LIÊM SỈ cố tránh không động vào ai để người ta không chửi.

 

Thành lặng người, lẫn lộn trước mắt chàng là Mỹ Hạnh và Thu Hằng chập chờn. Xa xa là Thanh Ly như một vầng sáng trắng mơ màng huyền ảo giữa đêm đen.

 

Ngọc Thanh Thi

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.