Hôm nay,  

Tiếng hát tạ ơn

19/11/202211:36:00(Xem: 3628)
Truyện

nghde
Tranh Nghiêu Đề.

 


Dù xa xôi cách trở đến đâu, điều ước mơ duy nhất là mong gặp lại Chị. Tôi biết, ở một góc trời nào đó, Chị cũng thường nhớ và ao ước như tôi. Đời sống, chợt có những ra đi biền biệt không ngờ, như một tiếng hát vút bay, rồi mất tăm trong gió.

 

Tuổi nhỏ tôi quấn quít, líu lo bên nhà Chị nhiều hơn với Mẹ. Chị giải dùm tôi những bài toán khó, sửa lại những câu văn ngớ ngẩn và còn giúp tôi nhớ tên nhiều nhân vật trong những bài sử dài lê thê…

 

Giọng nói Chị vừa dìu dặt, vừa ấm áp. Đặc biệt Chị hát rất hay, khi hát cổ Chị ngước cao với mắt nhìn chìm đắm. Chị đẹp, nhan sắc óng ánh của một loài chim quí, Chị học Văn Khoa khi tôi còn lẽo đẽo lớp tám. Tôi nhỏ xíu trong lứa tuổi nhõng nhẽo dễ thương, Chị bao dung cười khi tôi lằng nhằng vòi vĩnh.

 

Nhân vật Chị yêu thương. Tài hoa, đẹp, và bạt mạng. Tôi thích Anh, một phong cách giang hồ mỗi lần ngồi với guitar, đàn theo tiếng Chị hát. Khán giả duy nhất là tôi, rưng rưng bên dòng nhạc mơ màng. Những giấc mộng của tôi như đã mơ hồ vói theo cùng tiếng hát mênh mang, vời vợi… Tôi hát theo và nhận ra giọng mình cũng ngân vang, thanh thoát. Không hát về Chú Cuội, Hằng Nga. Tôi mê nhạc Phạm Duy với những lời ngọt ngào, xa vắng. Đôi khi Anh cũng nương tiếng đàn theo giọng hát non nớt, bé bỏng của tôi và Chị thường khen như một lời khuyến khích.

 

Lên tới lớp mười, Ba Mẹ bắt tôi ở nhà học với một cô giáo dạy kèm, thay vì tìm cớ sang nhà Chị, lo đàn hát và tíu tít vui chơi nhiều hơn bài vở. Chúng tôi chỉ còn gặp nhau mỗi ngày cuối tuần và đặc biệt, tôi rất ít được gặp Anh, bởi Anh không tới nhà Chị những ngày chủ nhật.

 

*

 

Khi thấy Anh đứng trước cổng trường, tôi vui mừng chạy tới, cứ như mình chờ đợi đã từ rất lâu.

Anh nói muốn đưa tôi về. Chẳng thắc mắc, tôi vén vạt áo dài ngồi nghiêng trên Vespa và véo von cười nói. Lạ lùng, chúng tôi không hề nhắc tên Chị. Lần thứ hai, rồi thứ ba và những lần sau nữa… Anh chờ tôi trước cổng trường đã thường xuyên mỗi ngày. Tạo cho tôi một thói quen, ngồi học mà chỉ mong cho thời gian mau hết, mong giờ nghe tiếng chuông tan.Tôi bắt đầu điệu đà, xoa lên môi chút son nhạt, đ̣ể khi gặp Anh, mắt tôi cùng môi hồng cười vui, lúng liếng. Những ngày mưa, trong lớp học nhìn ra sân trường, gió thổi tung bay ngàn lá rụng. Tôi cầu mưa ngưng rơi, hay chỉ còn chút mưa nho nhỏ, để tôi sẽ úp mặt mình sát vào lưng Anh, trốn ướt. Rất khó định nghĩa về tình cảm của Anh và tôi là gì? Lập luận như một sự bao che cho cả hai, tôi nghĩ Anh xem tôi như một cô em bé nhỏ.

 

Thiên hạ bắt đầu những xúc cảm bằng mắt, qua dáng vẻ hấp dẫn, đẹp bên ngoài. Có khi rung động bởi thính giác, để xao xuyến, nhớ hoài một giọng nói êm đềm, trìu mến.

 

Với tôi, là những mùi hương.

 

Tôi đã chợt nhớ thiết tha chút mồ hôi trên áo Anh nồng nồng, mằn mặn. Khi chiếc xe lao đi, chợt ngưng lại gấp gáp, mũi tôi chúi vào lưng áo Anh. Là khi tôi bàng hoàng nhận biết điều mê đắm.

Tôi tránh gặp Chị mỗi cuối tuần bởi mặc cảm nói dối. Dù tôi chẳng làm gì sai trái, chỉ thích được ngồi sau lưng Anh, thở với hương thơm từ lưng áo âm ẩm ướt, ngai ngái chút mê man như có ẩn chứa nhiều điều bí mật. Khứu giác, một tín hiệu chân thực, tín hiệu không cần tiếng nói, tín hiệu tuyệt vời, dù lặng câm.

 

Anh nói với tôi đã chẳng còn gặp Chị. Không vớ vẩn hỏi tại sao, nhưng lờ mờ tôi đoán thủ phạm phải chính là mình.Thoáng chút ân hận, biết Chị đang mong chờ Anh trong khổ đau, buồn bã. Tôi nghĩ sẽ tránh mặt, tự hứa không bao giờ gặp lại Anh nữa. Nhưng tôi cứ quấn quít theo gió sau lưng áo Anh, cùng với hương nồng quen thuộc. Tôi đã áp sát tóc trên áo, để đêm về mê muội, hít hà trên tóc chút thơm tho còn vương vất.

 

Hôm Chị sang nhà thăm Ba Mẹ. Tôi ngờ ngợ chút xấu hổ, nhưng vẫn vờ líu lo. Chị hẹn gặp tôi chiều mai, trong buổi họp bạn ngày Chị mãn khóa.

 

Với chiếc áo đầm đẹp, vàng óng ả. Tôi rực rỡ, yêu kiều nhất giữa rất đông bạn bè của Chị. Anh không đến. Tôi vui ngấm ngầm, điều mà sau này tôi ân hận, vì hiểu ra mình là con bé vừa đành hanh, vừa độc ác. Có ai đó đàn theo tiếng hát Chị, tiếng hát vút cao chan hòa với chút nắng bên ngoài. Chới với, tôi nhận ra mình đang nhớ tiếng đàn cũ. Anh không có đây, nhưng tưởng như Anh ngồi đó cùng Chị và tôi, với tiếng đàn óng ánh và ngạt ngào theo tiếng hát. Chỉ mấy tuần thôi, Chị và tôi đã không ngồi với nhau, từ khi Anh đưa đón tôi trước cổng trường. Mới đó, mà sao tôi đã nhìn chị như lạ lẫm, dửng dưng?

 

Chị thông minh, nhạy bén. Không nói ra, nhưng tôi hiểu Chị biết hết vì sao Anh đã chẳng còn đến chơi nhà.

 

*

 

Mùa hè, mùa của líu lo không đèn sách. Nhưng mùa hè đã lê thê dài của tôi năm đó. Là mùa của đợi chờ, bởi nhận ra mình đã chớm biết nhớ nhung. Mùa hè, Anh không còn dịp đón tôi trước cổng trường. Tôi loanh quanh đếm ngày, đếm tháng. Chín mươi ngày, sao mà dài như chín mươi năm.

 

Một chiều mưa rơi rắc, nỗi nhớ Anh thiết tha đã dẫn đưa tôi tới Chị. Tôi muốn nhìn ra, muốn tìm thấy bóng Anh, vẫn chìm khuất đâu đó trong phòng học nhỏ quen thuộc. Cây guitar như buồn rầu, khô héo bên góc tủ sách. Nó nhớ vòng tay Anh, nhớ tiếng hát Chị ngân nga trác tuyệt, và nhớ cả lời hát tôi ngây thơ, vụng dại. Chúng tôi không nhắc gì về những ngày tháng cũ. Những kỷ niệm mới đó, không lâu nhưng sao như đã trôi xa, đã mất tăm theo cùng với mùa hè chờ đợi của tôi. Và… cùng những âu sầu của Chị.

 

Tiếng hát Chị chợt cất cao, vời vợi đắng cay và nghe như tiếng mưa rơi trên những khóm hoa rũ rượi ướt trước hiên nhà.

 

... Chủ nhật nào ta im hơi

Vì đợi chờ không nguôi ngoai

Bước chân người nhớ thương

Đến, khi đã rất muộn

Trước quan tài, mờ khói hương…

(Rezso Seress, Sombre Dimanche; PhạmDuy).

 

Bồi hồi, tôi lăn sà trong lòng Chị như những năm còn học lớp tám. Chị hát mà nước mắt đầm đìa rơi trên tóc tôi. Tay Chị hiền hòa đan trong mái tóc tôi dài, ướt và rối rắm. Tôi cũng khóc, khóc như nhớ thương ai, và khóc với những nghẹn ngào, cùng muôn vàn ăn năn, xa xót. Qua tiếng hát Chị, tôi hiểu ra rằng, không phải chỉ vì mùa hè. Mà chính vì lòng tôi đã chợt thoát theo cùng tiếng hát nhân ái, và cùng với giọt nước mắt Chị bao dung.

 

Rồi tôi sẽ phải chôn giấu hết những nhớ nhung, chìm đắm.

 

Chút mùi hương mà tôi đã mê muội, mơ màng, sẽ phải lặng bay theo mùa hè, phải  biến mất tăm theo cùng với gió. Nằm trong lòng Chị, ấm ức khóc vùi theo tiếng hát. Tôi quyết định sẽ xin Ba Mẹ đổi trường cho mùa học tới.

 

*

 

... Chủ nhật nào ta im hơi

Vì đợi chờ không nguôi ngoai

 

Cuối cùng, Chị lập gia đình. Tôi theo chồng.

 

Chúng tôi, đã chẳng ai “im hơi”. Chẳng ai đã dại dột “tắt thở” chỉ vì chút nhớ mong, trông đợi.

 

*                                                                                

 

Đã bao năm, từ khi rời bỏ quê hương đến sống tại California, chưa bao giờ tôi bỏ sót, không tổ chức cùng gia đình ngày đặc biệt: Thanksgiving. Với tôi đó là dịp để bày tỏ chút ân tình, lòng cảm tạ với những ân sủng, đã được ban phát cho bởi đất trời, và lòng tử tế của muôn phương.

Giữa gia đình trong một party rất trang trọng của lễ Tạ Ơn, bạn bè đã lắng nghe tiếng hát tôi, hát như để nhớ tới, để TRI ÂN một quá khứ.

 

Ở nơi nào xa xăm, Chị có nghe tôi hát đêm nay? Trong một Thanksgiving với ngàn ánh nến lung linh, và đầm ấm. Tiếng hát tôi mong manh gửi theo gió những lời xưa, cùng với niềm ăn năn của thời bé thơ, vụng dại. Khi cất cao tiếng hát, tôi ngậm ngùi nhớ tiếng hát Chị. Tiếng hát dạt dào lòng nhân ái. Nước mắt ngày xưa, giọt nước mắt từ bi, ướt đẫm trên tóc tôi, hòa với lời nhạc buồn tê tái, “Sombre Dimanche”, sẽ chẳng bao giờ tôi có thể quên.

 

Cho dù tất cả đã trôi xuôi, đã mất tăm theo cùng với những mưa, những nắng của đời.

 

...Ta muốn tìm mau

Tới cõi nào, nương náu

Cho ta thành mơ,

Sống yên trong lời thơ

Vắng tanh,

Như đời gió…

(Chopin, Tristesse; PhạmDuy)

 

– LêChiềuGiang

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.