Hôm nay,  

Tiểu Hổ Gian Truân

13/01/202300:00:00(Xem: 2797)

 
Vừa cố buộc sợi dây vào cổ con mèo bà cụ vừa mềm giọng dỗ dành. Như ngày xưa dỗ dành thằng con trai khi nó mới lên ba lên bốn, “Ngoan đi. Về ở với nhà giàu, người ta thương chúng mày.”

Vẫn đùa nghịch như mọi khi, hai con mèo dụi đầu vào nhau. Chúng nó thích vật nhau, ngã lăn vòng vòng rồi một đứa chạy, đứa kia đuổi bắt.

“Làm gì thế nào. Đứng yên một tí được không. Chúng mày không biết buồn à.”

Bà mắng cả hai đứa.

“Đến như vậy mà vẫn con nhởn nhơ được.”

Bà nhẹ nhàng túm cổ một đứa. Vòng sợi dây quanh cổ nó. Nới một vòng tròn đủ để đầu nó không tuột ra ra nhưng cũng không siết quá chặt, để nó còn thở được. Rồi bà buộc thắt nút lại. Con mèo con bị buộc dây quanh cổ, lúc đầu loay hoay tìm cách gỡ, nhưng chỉ một lúc sau đã quên, lại tiếp tục vờn bắt con kia. Bà nhoài người túm con thứ nhì. Tuốt sợi dây luộc, luồn quanh cổ nó. Đo đại khái cái vòng dây không quá lỏng để khỏi tuột qua đầu và không quá chật để không làm con mèo nghẹt thở. Xong, bà buộc hai đầu dây lại với nhau.

“Đứng yên xem nào. Hai đứa bay làm gì mà đùa giỡn không biết mệt. Đói rã họng ra mà vẫn cứ nhởn nhơ.” Bà mắng mỏ hai đứa nó. Hệt như ngày trước mắng mỏ hai đứa con. Khi hai anh em chúng nó còn bé tí, chả biết thế nào là lo âu; khi người mẹ đơn thân một mình chống chọi với cuộc đời, để cố nuôi cho hai đứa con dại lên người.

“Ở yên đó đi. Để bà xem còn cái gì ăn không đã.”

Bà bỏ hai con mèo đó, lủi thủi đi vào góc căn chòi. Tết nhất đến nơi rồi mà trời vẫn cứ nắng hanh. Gió đi đâu mất biệt. Cái lạnh gai gai những ngày cuối năm giờ chỉ còn trong trí nhớ. Ai ăn đậu hũ không. Tiếng rao hàng ngoài đầu ngõ. Tiếng reo lên bổng xuống trầm. Nhà chị này rao hàng mà cứ như đang hát karaoke. Bà cụ thầm nghĩ, rồi nuốt nước miếng. Cái lưng cong vòng. Bà cố với tay lấy chiếc hộp thiếc méo mó nằm trơ vơ trên cái dàn bếp, mà những vỉ lò bếp ga đã bị tháo đi mất từ đời thuở nào.    

Hai tay đỡ cái hộp nhẹ tênh, bà lủi thủi bước ra khoảng giữa căn chòi, nơi vạt nắng xiên nghiêng, cẩn thận đặt xuống nền nhà. Một vẩy gió lùa qua khung cửa. Cái chòi không có cửa. Như vậy cũng hay, cụ vẫn nghĩ, không có cửa nên những luồng gió hiếm hoi ra vào thoải mái. Chỉ khổ là ngày mưa, bà với mấy con mèo phải co ro, ép người sát vào cái vách tường quét vôi loang lổ để khỏi bị ướt.

Cái hộp đặt xuống đất. Mảnh giấy quảng cáo chương trình ca nhạc nhặt ngoài ngõ trải ra bên cạnh. Cô hoa hậu môi cười trào ra ngoài khung hình. Bà loay hoay với cái nắp hộp thiếc. Những đốt xương ngón tay vặn vẹo. Nắp hộp mở ra. Những hạt cơm lổn nhổn. Bà cụ bốc một nhúm cơm, bỏ lên tấm giấy quảng cáo.

Hai con mèo nhỏ ngơ ngác nhìn những hạt cơm trắng. Chúng đứng ngẩn ra đó một lúc lâu. Bà cụ đẩy cả hai đứa sát lại nhúm cơm. Hai đứa vẫn ngập ngừng. Bà đẩy mặt thằng anh sát xuống nhúm cơm. Thằng anh nhấm nháp, bà lại đẩy đầu thằng em vào nhúm cơm. Thằng em có vẻ nhanh nhẹn hơn thằng anh. Ngay cả khi đùa giỡn, thằng anh cũng chậm chạp hơn thằng em.

Khi hai con mèo đã bắt đầu nhỏ nhẻ nhấm nháp những hạt cơm trắng, bà cụ mới thong thả bốc cơm trong cái hộp thiếc bỏ vào miệng. Những hạt cơm khô khốc. Hèn gì hai con mèo liếm láp như bị bắt buộc. Nhưng mà cơm thừa của quán ăn thì như vậy là quý lắm rồi. Bà thầm nghĩ. Những ngón tay xương xẩu run run nhét những hạt cơm vào cái miệng móm mém. Bà nhai thật kỹ. Cái răng lung lay lâu rồi. Cứ chạm vào là đau nhói. Vì vậy bà luôn dòm ngó những tô canh thừa của khách trong cái quán ăn đầu ngõ. Cuối ngày, thỉnh thoảng xin được chút nước súp thừa của tiệm phở, thế là cả nhà - bà với mấy anh em nhà mèo - mới có được bữa ăn thịnh soạn.

Thằng mèo anh ăn vài miếng rồi ngưng. Thằng mèo em ngước nhìn, rồi lại cúi xuống những hạt cơm.

“Mày lười ăn lắm nghe chưa, thằng cả này.” Bà cụ lẩm nhẩm mắng thằng mèo anh.

Trong mắt cụ, trong tim cụ, đây là thằng con cả. Thằng con cả có hai cái to vểnh lên như hai cái loa. Và cũng vẫn trong mắt, trong tim cụ, thằng mèo em, tính theo ngôi thứ thì là thứ ba, nhỏ hơn anh một tí thôi, nhưng nhanh nhẹn và nghịch ngợm có hạng.

“Tiểu hổ mà ăn uống cứ như mèo ấy thôi!” Cụ mắng thằng mèo anh.

Trong mắt cụ, trong tim cụ; nhà này có bốn đứa con. Ba thằng con trai và một đứa con gái. Bốn anh em nhà mèo.

“Phải ăn mạnh lên mới có sức, có sức thì mới sống sót được ở cái đất này, con ạ.” Cụ nói, một tay bốc cơm bỏ lên miệng, một tay xoa đầu thằng con cả.
Thằng mèo anh cả ngưng ăn, đứng tần ngần nhìn thằng em. Rồi quay lên nhìn bà cụ. Bà cụ nhìn nó. Nhìn hai con mắt nó. Nhìn cái màu lông loang loang nửa đen, nửa xám trắng của nó. Cái màu lông giống hệt mẹ nó.

Có tiếng xe gắn máy rầm rộ phía trước. Chiếc Dream thắng gấp ngay trước cửa. Bà cụ ngưng bốc cơm, kéo sợi dây buộc cổ hai con mèo lại sát bên mình.
“Mẹ đang làm gì thế?” Giọng đàn ông rổn rảng.

Bà cụ ngước con mắt kéo mây lên nhìn. Bóng người lù lù trước mặt. Cụ nuốt vội miếng cơm, hỏi bằng giọng khàn đục, “Mày đi đâu đấy? Hôm nay không đi làm à?”

“Hôm nay nghỉ.” Gã thanh niên áo thun quần jean bạc phếch dựng xe. Chân khua đế giầy lộp cộp, tay lắc chùm chìa khóa leng keng. “Bà nội ăn uống gì sớm thế?”

“Cho hai đứa này ăn.” Bà cụ trả lời, một tay vẫn níu chặt sợi dây buộc cổ hai con mèo.

Hai đứa này… Mẹ làm như thể chúng nó là trẻ con không bằng.” Gã thanh niên cười khẩy.

Gã ngồi thụp xuống bên cạnh bà cụ. Bà cụ nhích vội ra sau, tay nắm chặt sợi dây. Hai con mèo bị kéo sát vào nhau, ngọ ngoạy cái đầu, tìm cách gỡ.

“Hai tiểu hổ này được đấy. Vài tháng nữa mẹ đãi con bữa tiệc tiểu hổ nhớ.”

Người thanh niên toét miệng cười. Bà cụ kéo sợi dây sát vào người. Hai con mèo nhỏ bị lôi sát vào nhau, bốn chân cào xuống đất, ngọ ngoạy cái đầu, căng kéo sợi dây.

“Mày!” bà cụ mím môi, lườm thằng con trai. “Cái đồ ác nhân ác đức!”

Giọng bà cụ khàn, pha chút uất ức, nên ẩm như thấm đầy hơi nước. Hai mắt khô gay gay đỏ chớp vội. Thằng con trai vẫn cười. Gã đưa tay xoa đầu thằng mèo anh, rồi xoa tới thằng mèo em, “Hai tiểu hổ này làm món nhậu ngon phải biết.”

“Đồ ác nhân ác đức! Mày ăn thịt mẹ nó chưa đủ sao?”

“Vật dưỡng nhân mà mẹ. Nuôi thú không để làm thịt ăn thì để làm gì.”

“Cha mày!” Bà cụ trừng mắt, lập lại câu trách móc, “Mày ăn thịt mẹ chúng nó chưa đủ hay sao!”

Gã thanh niên đứng dậy, tay vẫn vung vẩy chùm chìa khóa. “Mẹ nó là mèo già, ăn thịt đâu có ngon bằng mèo non. Non như hai con mèo này.”

Gã chỉ ngón tay xuống chỗ hai anh em nhà mèo đang ngồi. Bà cụ gạt cái hộp thiếc đựng cơm qua một bên, kéo hẳn hai con mèo vào lòng. Thằng mèo em kêu ngao một tiếng như hỏi han, thắc mắc.

“Mày cần cái gì, nói thẳng ra đi.”

“Tết này con đi Sing chơi. Mẹ lại coi nhà hộ.”

Bà cụ chần chừ suy nghĩ.

Gã thanh niên nói tiếp, “Nhưng không được đem hai con mèo này theo. Bẩn cả nhà.”

Đang phân vân, nghe thấy cái lệnh cấm mèo, bà cụ buột miệng, “Không cho đem theo, tao để chúng nó ở đâu?”

“Ở đây.” Gã thanh niên quơ tay một vòng quanh cái chòi bỏ hoang. Cái chòi èo uột bám vào vách tường nhà của một đại gia trong ngõ.

“Bỏ chúng nó ở đây cho người ta bắt đi làm thịt à?”

“Còn bé quá, chẳng ai làm thịt bây giờ đâu. Vài tháng nữa…” Gã nói, và bật cười sằng sặc một mình.

Giọng cười kéo bà cụ lại một buổi chiều, khi bà lại coi giùm thằng cháu nội, thằng cháu thủ thỉ kể với bà là bố bắt mèo của bà làm thịt, bà hỏi đứa bố, thì đứa bố cũng cười sằng sặc như thế.

Cười một hồi, gã ôm bụng, nghiêm trang nét mặt, “Lại coi nhà giùm tụi con, tụi con trả tiền sòng phẳng.”

Gã đàn ông rồ máy xe, quay một vòng bánh, thả khói mù mịt rồi mất hút đầu con hẻm.

Bà cụ nới tay níu sợi dây. Hai anh em thằng mèo lúc lắc cái đầu rồi chống chân ngồi nhìn quanh. Bà cụ xoa đầu hai đứa, đậy nắp hộp thiếc đựng cơm lại, lom khom đi lại góc căn chòi, đặt lên kệ.

“Đi thôi, hai đứa bay.”


Cụ nhặt từng đứa, thận trọng bỏ vào trong cái túi vải. Chúng nó ngao ngao thắc mắc và ngọ ngoạy lục sục trong túi.

“Có yên đi không nào! Việc gì mà làm um lên như thế chứ.”

Hai anh em nhà mèo đã một lần bị bỏ vào cái túi này, đem ra chợ. Lần ấy, cụ đi quanh quẩn mấy vòng chợ mà không tìm được chỗ để bày món hàng đặc biệt này. Lúc ấy cái túi chật cứng vì có tới bốn anh em nhà chúng nó. Ba thằng mèo anh, một con mèo em út. Vác chúng nó đi vòng quanh chợ khiến cái lưng cụ muốn gẫy thành trăm mảnh vụn. Bốn đứa nó còn lao nhao, chọc ghẹo, cấu xé nhau trong túi vải. Cụ vừa cố vác cái lưng còng, vừa đeo chúng trên vai, vừa lẩm nhẩm la rầy anh em nhà chúng nó.

“Làm gì mà ầm ĩ lên như thế, chúng bay. Anh em không còn gặp nhau lâu nữa đâu, phải biết quý lúc còn có nhau chứ.”

Cụ la rầy chúng. Như một lần; như biết bao nhiêu lần la mắng hai đứa con. Bây giờ chẳng còn phải la đứa nào. Con trai lớn ăn nên làm ra, có vợ có con, có nhà có cửa. Con gái cũng lấy chồng tận bên Hàn Quốc. Chả còn đứa nào cận kề để cụ mắng mỏ. May mà có lũ mèo. Thiên hạ thấy bà cụ lưng còng sát đất, đeo túi vải trên vai, vừa đi vừa nói một mình, giống như người mất trí, sợ vạ lây, lảng tránh ra xa. Cụ vừa vác cái túi trên vai, vừa chập choạng những bước chân rã rời.

Vác cái lưng gẫy gập, đeo hai con mắt nhấp nháy dưới ánh nắng chói lòa, bà cụ như cánh bèo trôi trong dòng sông người quẫy động. Bên mấy sạp bán cá có chỗ trống, cụ định ngồi xuống nhưng lại sợ anh em nhà mèo chúng nó ngửi mùi cá, thèm thuồng tội nghiệp, cụ lại tiếp tục lê bước. Đến gian hàng bán các đồ gia vị, cụ lại định ngồi xuống, nhưng mùi tiêu, mùi tỏi cay nồng trong không khí khiến mũi cụ ngứa ngáy, và nhất là cụ nghe được tiếng hắt hơi - thật nhỏ nhưng cụ vẫn nghe rõ - của con mèo út. Con bé đúng là con nhà tiểu thơ. Cụ nghĩ thầm và tiếp tục lê bước trong nhà lồng chợ.

Đến chỗ trống vừa đủ một người ngồi trong khu bán bánh mứt cho thiên hạ ăn tết, cụ ngập ngừng đứng lại thở. Lâu lắm cụ không được nếm mùi bánh kẹo ngày tết. Căn chòi ghếch lên vách tường ông nhà giàu là chỗ trú ngụ của cụ mấy năm nay rồi. Và thực đơn của cụ là những cơm thừa, canh cặn của quán ăn đầu con ngõ. Thừa với cặn nhưng đừng thiu đừng thối là quý rồi.

“Bà già làm gì vậy?” Người chủ quán hỏi lúc cụ mở túi, kéo bốn anh em nhà mèo ra.

“Bác cho tôi nhờ chỗ một tí.” Cụ nói.

“Bà làm gì vậy?”

“Tôi bán mấy con mèo.”

Người đàn bà có cặp lông mày sắc như hai thanh kiếm nhìn chăm chăm bốn con mèo mướp giống hệt nhau, đang loi nhoi trên cái túi vải, trải lên nền xi măng.

“Bà bán giá cả thế nào đây?” Một người đàn bà mặc áo dài, túi xách đeo vai, dừng lại, nhìn lũ mèo.

Câu hỏi bất ngờ. Bà cụ hoàn toàn không chuẩn bị cho câu hỏi này. Cả đời có bao giờ mua bán mèo đâu. Mẹ của bốn đứa này là mèo hoang. Chị mèo đói ghé căn chòi của cụ một buổi trưa trời mưa tầm tã, nước ngập đường phố, xe cộ, người ngợm lội nước lõm bõm. Con hẻm nhờ ở khu đất cao nên không bị lụt. Chị mèo sợ nước, đứng sát vào vách tường tránh mưa. Cụ cho nó ăn, nó ở lại với cụ. Nó hẹn hò chim chuột lén lút đâu đó cụ chả biết. Nó có bầu. Nó rên rỉ chuyển bụng. Rồi nó sinh cho cụ ba thằng mèo con và một út mèo. Năm mẹ con nó sống quanh quẩn bên cụ. Ngày ngày cụ lân la quán ăn, xin lau bàn, chùi ghế cho người ta, đổi lấy tí cơm, tí canh cho cụ và cho năm mẹ con nhà mèo. Mèo mẹ đang nuôi bốn đứa con mơn mởn thì thằng con trời đánh của cụ rình bắt nó đem đi làm thịt.

Thành ra cụ ngập ngừng.

“Bao nhiêu một con?” Người khách vén hai tà áo, ngồi xuống, xoa đầu mấy con mèo.

Trong kia, người đàn bà có cặp lông mày sắc như hai thanh kiếm lớn giọng, “Bà già không có giấy phép, đem đi chỗ khác bán đi.”

Như không nghe người chủ quầy hàng bánh mứt nói gì, người phụ nữ mặc áo dài màu thiên thanh hỏi, “Sao bác không để chúng nó ở với mẹ chúng nó ít lâu nữa?”

“Chúng nó mồ côi cô ạ.”

“Ô, vậy… Con này bao nhiêu?” Người khách chỉ vào con mèo út, hỏi. “Cái miệng nhọ của nó xinh ghê. Miệng này ăn vụng phải biết!” Người khách nhấc con mèo út lên, cười.

Thấy không ai để ý đến mình, người chủ quầy hàng bánh mứt la toáng lên, “Kêu bảo vệ lại. Kêu bảo vệ lại.” Hai con mắt trợn ngược, cặp lông mi sắc như hai thanh kiếm vung lên, bà ta bấm điện thoại di động, nói oang oang vào máy.

Trong chớp mắt, hai ba gã đàn ông ào đến. Bà cụ hoảng hốt, nói vội với người phụ nữ áo thiên thanh, “Cô cứ lấy một con về nuôi đi. Chỉ cần đừng làm thịt nó tội nghiệp!”

Bọn đàn ông áo xanh màu cứt ngựa, quần ka-ki vàng nhạt ùa tới như cơn lốc. Người khách áo dài màu xanh da trời ôm lấy con mèo cái có cái chấm ở mũi, vội đứng dậy, bước đi. Bà cụ hoảng hốt bốc vội đám mèo bỏ vào túi, nhưng chỉ kịp bỏ được hai anh em thằng này vào cái túi vải thì bọn lâu la kia đã đến sát bên. Những đôi chân hung hãn đá văng “quầy hàng” của bà cụ. Bàn chân đá trúng một con mèo. Một tiếng kêu thất thanh. Tiếng mèo. Tiếng bà cụ. Âm thanh lẫn vào nhau. Nhưng tiếng kêu của bà cụ kéo dài tưởng như không bao giờ ngừng, còn tiếng kêu của con mèo thì tắt ngấm. Và con vật rơi xuống đất như một nắm bột mềm. 

Chuyện đã qua. Mọi người trong khu chợ đã quên. Người chủ quầy hàng bánh mứt – có cặp lông mày song kiếm - hẳn cũng đã quên, chỉ mình bà cụ còn nhớ.

Và hai anh em thằng mèo chắc cũng còn nhớ.

Vì vậy, bà cụ không dám bén mảng đến chợ nhà lồng nữa. Cụ cũng không dám bày hàng trước cửa tiệm của thiên hạ. Cụ tìm đâu ra giấy phép để ngồi bán bây giờ. Mà cụ đâu có thực tâm muốn bán hai anh em chúng nó. Khổ nỗi ở với cụ, sớm muộn gì chúng nó cũng theo nhau lên bàn nhậu của lũ phàm phu. Thật là gian truân anh em nhà tiểu hổ.

Hôm nay, bà cụ lại lập lại chuyện ấy. Thắt cái vòng dây lỏng quanh cổ hai đứa. Buộc thắt nút cho khỏi tuột. Đem chúng nó ra phố. Cụ chọn khúc đường ít xe cộ không có những đứa trời đánh rú ga ầm ĩ khoe xe xịn, để anh em nhà mèo không bị giật mình. Cụ chọn chỗ không có bóng những tên lâu la áo màu cứt ngựa quần ka-ki vàng nhạt, mặt mũi sần sượng như những tên cướp cạn. Và lựa chỗ không có bóng dáng một con chó hoang nào để anh em nhà mèo không bất ngờ bị cấu xé oan uổng.

“Ngồi yên một tí đi mà,” cụ thì thầm nhắn nhủ, hai tay đặt trên lưng hai đứa.

Hai anh em nó ngồi bên nhau, ngơ ngác nhìn phía trước. Lề đường lồi lõm, nứt nẻ khắp chung quanh. Chỗ này an toàn. Tụi lâu la cũng ít quần thảo. Đám khách bộ hành đi qua, ném lại quầy hàng của cụ cái nhìn lạ lẫm. Nắng đã tắt, phố đã lên đèn, mà chẳng ai hỏi han gì tới hai con mèo của cụ.

“Ngồi yên tí đi mà,” cụ thì thầm, tay khẽ ấn cái lưng của thằng mèo em xuống khi nó gồng mình đứng dậy. “Gần tết rồi. Về được với nhà tử tế thì tao cũng yên tâm.” Cụ xoa lưng thằng mèo em, dỗ dành. “Đi được trước tết thì tốt hơn chứ Tết Ta hàng quán đóng cửa ăn tết tới ra Giêng mới mở cửa, mình kiếm đâu ra cơm cặn canh thừa. Tao thì nhịn được chứ để chúng mày đói tao không nỡ.”

Một người đàn ông dừng lại, nhìn hai con mèo. Tim bà cụ lạc mất một nhịp. Mừng. Tết rồi, về với người tử tế cũng đỡ khổ một đời. Cụ thầm nghĩ.  

“Bán mèo hả bà già?”

Bà cụ ngập ngừng, rồi khẽ gật đầu. Cụ cố chào hàng, “Tiểu hổ. Nuôi cho nó bắt chuột.” Cụ cố nhấn mạnh hai chữ bắt chuột để người đàn ông thấy hai anh em chúng nó cũng được việc. Cụ không muốn người ta đem hai anh em nó ra làm thịt. “Giống này hay chuột lắm!” Cụ nói.

Người đàn ông nhếch mép cười. Gã ngước nhìn ngôi chung cư cao tới tận mây trời - với đèn xanh đèn đỏ chớp nháy giữa ban ngày - ở trước mặt. Rồi lại nhìn xuống hai anh em nhà tiểu hổ.

“Bé tí thế này thì nhai chả bõ dính răng!” Gã nói, rồi nhún vai bước đi.

Bà cụ sững người ra một giây, rồi cúi xuống hai anh em nhà mèo, thì thầm đủ cho hai đứa nó nghe, “Thôi về bay ơi, tối rồi!”

Chủ nhật 06 tháng 01, 2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.