Hôm nay,  

Tiểu Hổ Gian Truân

13/01/202300:00:00(Xem: 3019)

 
Vừa cố buộc sợi dây vào cổ con mèo bà cụ vừa mềm giọng dỗ dành. Như ngày xưa dỗ dành thằng con trai khi nó mới lên ba lên bốn, “Ngoan đi. Về ở với nhà giàu, người ta thương chúng mày.”

Vẫn đùa nghịch như mọi khi, hai con mèo dụi đầu vào nhau. Chúng nó thích vật nhau, ngã lăn vòng vòng rồi một đứa chạy, đứa kia đuổi bắt.

“Làm gì thế nào. Đứng yên một tí được không. Chúng mày không biết buồn à.”

Bà mắng cả hai đứa.

“Đến như vậy mà vẫn con nhởn nhơ được.”

Bà nhẹ nhàng túm cổ một đứa. Vòng sợi dây quanh cổ nó. Nới một vòng tròn đủ để đầu nó không tuột ra ra nhưng cũng không siết quá chặt, để nó còn thở được. Rồi bà buộc thắt nút lại. Con mèo con bị buộc dây quanh cổ, lúc đầu loay hoay tìm cách gỡ, nhưng chỉ một lúc sau đã quên, lại tiếp tục vờn bắt con kia. Bà nhoài người túm con thứ nhì. Tuốt sợi dây luộc, luồn quanh cổ nó. Đo đại khái cái vòng dây không quá lỏng để khỏi tuột qua đầu và không quá chật để không làm con mèo nghẹt thở. Xong, bà buộc hai đầu dây lại với nhau.

“Đứng yên xem nào. Hai đứa bay làm gì mà đùa giỡn không biết mệt. Đói rã họng ra mà vẫn cứ nhởn nhơ.” Bà mắng mỏ hai đứa nó. Hệt như ngày trước mắng mỏ hai đứa con. Khi hai anh em chúng nó còn bé tí, chả biết thế nào là lo âu; khi người mẹ đơn thân một mình chống chọi với cuộc đời, để cố nuôi cho hai đứa con dại lên người.

“Ở yên đó đi. Để bà xem còn cái gì ăn không đã.”

Bà bỏ hai con mèo đó, lủi thủi đi vào góc căn chòi. Tết nhất đến nơi rồi mà trời vẫn cứ nắng hanh. Gió đi đâu mất biệt. Cái lạnh gai gai những ngày cuối năm giờ chỉ còn trong trí nhớ. Ai ăn đậu hũ không. Tiếng rao hàng ngoài đầu ngõ. Tiếng reo lên bổng xuống trầm. Nhà chị này rao hàng mà cứ như đang hát karaoke. Bà cụ thầm nghĩ, rồi nuốt nước miếng. Cái lưng cong vòng. Bà cố với tay lấy chiếc hộp thiếc méo mó nằm trơ vơ trên cái dàn bếp, mà những vỉ lò bếp ga đã bị tháo đi mất từ đời thuở nào.    

Hai tay đỡ cái hộp nhẹ tênh, bà lủi thủi bước ra khoảng giữa căn chòi, nơi vạt nắng xiên nghiêng, cẩn thận đặt xuống nền nhà. Một vẩy gió lùa qua khung cửa. Cái chòi không có cửa. Như vậy cũng hay, cụ vẫn nghĩ, không có cửa nên những luồng gió hiếm hoi ra vào thoải mái. Chỉ khổ là ngày mưa, bà với mấy con mèo phải co ro, ép người sát vào cái vách tường quét vôi loang lổ để khỏi bị ướt.

Cái hộp đặt xuống đất. Mảnh giấy quảng cáo chương trình ca nhạc nhặt ngoài ngõ trải ra bên cạnh. Cô hoa hậu môi cười trào ra ngoài khung hình. Bà loay hoay với cái nắp hộp thiếc. Những đốt xương ngón tay vặn vẹo. Nắp hộp mở ra. Những hạt cơm lổn nhổn. Bà cụ bốc một nhúm cơm, bỏ lên tấm giấy quảng cáo.

Hai con mèo nhỏ ngơ ngác nhìn những hạt cơm trắng. Chúng đứng ngẩn ra đó một lúc lâu. Bà cụ đẩy cả hai đứa sát lại nhúm cơm. Hai đứa vẫn ngập ngừng. Bà đẩy mặt thằng anh sát xuống nhúm cơm. Thằng anh nhấm nháp, bà lại đẩy đầu thằng em vào nhúm cơm. Thằng em có vẻ nhanh nhẹn hơn thằng anh. Ngay cả khi đùa giỡn, thằng anh cũng chậm chạp hơn thằng em.

Khi hai con mèo đã bắt đầu nhỏ nhẻ nhấm nháp những hạt cơm trắng, bà cụ mới thong thả bốc cơm trong cái hộp thiếc bỏ vào miệng. Những hạt cơm khô khốc. Hèn gì hai con mèo liếm láp như bị bắt buộc. Nhưng mà cơm thừa của quán ăn thì như vậy là quý lắm rồi. Bà thầm nghĩ. Những ngón tay xương xẩu run run nhét những hạt cơm vào cái miệng móm mém. Bà nhai thật kỹ. Cái răng lung lay lâu rồi. Cứ chạm vào là đau nhói. Vì vậy bà luôn dòm ngó những tô canh thừa của khách trong cái quán ăn đầu ngõ. Cuối ngày, thỉnh thoảng xin được chút nước súp thừa của tiệm phở, thế là cả nhà - bà với mấy anh em nhà mèo - mới có được bữa ăn thịnh soạn.

Thằng mèo anh ăn vài miếng rồi ngưng. Thằng mèo em ngước nhìn, rồi lại cúi xuống những hạt cơm.

“Mày lười ăn lắm nghe chưa, thằng cả này.” Bà cụ lẩm nhẩm mắng thằng mèo anh.

Trong mắt cụ, trong tim cụ, đây là thằng con cả. Thằng con cả có hai cái to vểnh lên như hai cái loa. Và cũng vẫn trong mắt, trong tim cụ, thằng mèo em, tính theo ngôi thứ thì là thứ ba, nhỏ hơn anh một tí thôi, nhưng nhanh nhẹn và nghịch ngợm có hạng.

“Tiểu hổ mà ăn uống cứ như mèo ấy thôi!” Cụ mắng thằng mèo anh.

Trong mắt cụ, trong tim cụ; nhà này có bốn đứa con. Ba thằng con trai và một đứa con gái. Bốn anh em nhà mèo.

“Phải ăn mạnh lên mới có sức, có sức thì mới sống sót được ở cái đất này, con ạ.” Cụ nói, một tay bốc cơm bỏ lên miệng, một tay xoa đầu thằng con cả.
Thằng mèo anh cả ngưng ăn, đứng tần ngần nhìn thằng em. Rồi quay lên nhìn bà cụ. Bà cụ nhìn nó. Nhìn hai con mắt nó. Nhìn cái màu lông loang loang nửa đen, nửa xám trắng của nó. Cái màu lông giống hệt mẹ nó.

Có tiếng xe gắn máy rầm rộ phía trước. Chiếc Dream thắng gấp ngay trước cửa. Bà cụ ngưng bốc cơm, kéo sợi dây buộc cổ hai con mèo lại sát bên mình.
“Mẹ đang làm gì thế?” Giọng đàn ông rổn rảng.

Bà cụ ngước con mắt kéo mây lên nhìn. Bóng người lù lù trước mặt. Cụ nuốt vội miếng cơm, hỏi bằng giọng khàn đục, “Mày đi đâu đấy? Hôm nay không đi làm à?”

“Hôm nay nghỉ.” Gã thanh niên áo thun quần jean bạc phếch dựng xe. Chân khua đế giầy lộp cộp, tay lắc chùm chìa khóa leng keng. “Bà nội ăn uống gì sớm thế?”

“Cho hai đứa này ăn.” Bà cụ trả lời, một tay vẫn níu chặt sợi dây buộc cổ hai con mèo.

Hai đứa này… Mẹ làm như thể chúng nó là trẻ con không bằng.” Gã thanh niên cười khẩy.

Gã ngồi thụp xuống bên cạnh bà cụ. Bà cụ nhích vội ra sau, tay nắm chặt sợi dây. Hai con mèo bị kéo sát vào nhau, ngọ ngoạy cái đầu, tìm cách gỡ.

“Hai tiểu hổ này được đấy. Vài tháng nữa mẹ đãi con bữa tiệc tiểu hổ nhớ.”

Người thanh niên toét miệng cười. Bà cụ kéo sợi dây sát vào người. Hai con mèo nhỏ bị lôi sát vào nhau, bốn chân cào xuống đất, ngọ ngoạy cái đầu, căng kéo sợi dây.

“Mày!” bà cụ mím môi, lườm thằng con trai. “Cái đồ ác nhân ác đức!”

Giọng bà cụ khàn, pha chút uất ức, nên ẩm như thấm đầy hơi nước. Hai mắt khô gay gay đỏ chớp vội. Thằng con trai vẫn cười. Gã đưa tay xoa đầu thằng mèo anh, rồi xoa tới thằng mèo em, “Hai tiểu hổ này làm món nhậu ngon phải biết.”

“Đồ ác nhân ác đức! Mày ăn thịt mẹ nó chưa đủ sao?”

“Vật dưỡng nhân mà mẹ. Nuôi thú không để làm thịt ăn thì để làm gì.”

“Cha mày!” Bà cụ trừng mắt, lập lại câu trách móc, “Mày ăn thịt mẹ chúng nó chưa đủ hay sao!”

Gã thanh niên đứng dậy, tay vẫn vung vẩy chùm chìa khóa. “Mẹ nó là mèo già, ăn thịt đâu có ngon bằng mèo non. Non như hai con mèo này.”

Gã chỉ ngón tay xuống chỗ hai anh em nhà mèo đang ngồi. Bà cụ gạt cái hộp thiếc đựng cơm qua một bên, kéo hẳn hai con mèo vào lòng. Thằng mèo em kêu ngao một tiếng như hỏi han, thắc mắc.

“Mày cần cái gì, nói thẳng ra đi.”

“Tết này con đi Sing chơi. Mẹ lại coi nhà hộ.”

Bà cụ chần chừ suy nghĩ.

Gã thanh niên nói tiếp, “Nhưng không được đem hai con mèo này theo. Bẩn cả nhà.”

Đang phân vân, nghe thấy cái lệnh cấm mèo, bà cụ buột miệng, “Không cho đem theo, tao để chúng nó ở đâu?”

“Ở đây.” Gã thanh niên quơ tay một vòng quanh cái chòi bỏ hoang. Cái chòi èo uột bám vào vách tường nhà của một đại gia trong ngõ.

“Bỏ chúng nó ở đây cho người ta bắt đi làm thịt à?”

“Còn bé quá, chẳng ai làm thịt bây giờ đâu. Vài tháng nữa…” Gã nói, và bật cười sằng sặc một mình.

Giọng cười kéo bà cụ lại một buổi chiều, khi bà lại coi giùm thằng cháu nội, thằng cháu thủ thỉ kể với bà là bố bắt mèo của bà làm thịt, bà hỏi đứa bố, thì đứa bố cũng cười sằng sặc như thế.

Cười một hồi, gã ôm bụng, nghiêm trang nét mặt, “Lại coi nhà giùm tụi con, tụi con trả tiền sòng phẳng.”

Gã đàn ông rồ máy xe, quay một vòng bánh, thả khói mù mịt rồi mất hút đầu con hẻm.

Bà cụ nới tay níu sợi dây. Hai anh em thằng mèo lúc lắc cái đầu rồi chống chân ngồi nhìn quanh. Bà cụ xoa đầu hai đứa, đậy nắp hộp thiếc đựng cơm lại, lom khom đi lại góc căn chòi, đặt lên kệ.

“Đi thôi, hai đứa bay.”


Cụ nhặt từng đứa, thận trọng bỏ vào trong cái túi vải. Chúng nó ngao ngao thắc mắc và ngọ ngoạy lục sục trong túi.

“Có yên đi không nào! Việc gì mà làm um lên như thế chứ.”

Hai anh em nhà mèo đã một lần bị bỏ vào cái túi này, đem ra chợ. Lần ấy, cụ đi quanh quẩn mấy vòng chợ mà không tìm được chỗ để bày món hàng đặc biệt này. Lúc ấy cái túi chật cứng vì có tới bốn anh em nhà chúng nó. Ba thằng mèo anh, một con mèo em út. Vác chúng nó đi vòng quanh chợ khiến cái lưng cụ muốn gẫy thành trăm mảnh vụn. Bốn đứa nó còn lao nhao, chọc ghẹo, cấu xé nhau trong túi vải. Cụ vừa cố vác cái lưng còng, vừa đeo chúng trên vai, vừa lẩm nhẩm la rầy anh em nhà chúng nó.

“Làm gì mà ầm ĩ lên như thế, chúng bay. Anh em không còn gặp nhau lâu nữa đâu, phải biết quý lúc còn có nhau chứ.”

Cụ la rầy chúng. Như một lần; như biết bao nhiêu lần la mắng hai đứa con. Bây giờ chẳng còn phải la đứa nào. Con trai lớn ăn nên làm ra, có vợ có con, có nhà có cửa. Con gái cũng lấy chồng tận bên Hàn Quốc. Chả còn đứa nào cận kề để cụ mắng mỏ. May mà có lũ mèo. Thiên hạ thấy bà cụ lưng còng sát đất, đeo túi vải trên vai, vừa đi vừa nói một mình, giống như người mất trí, sợ vạ lây, lảng tránh ra xa. Cụ vừa vác cái túi trên vai, vừa chập choạng những bước chân rã rời.

Vác cái lưng gẫy gập, đeo hai con mắt nhấp nháy dưới ánh nắng chói lòa, bà cụ như cánh bèo trôi trong dòng sông người quẫy động. Bên mấy sạp bán cá có chỗ trống, cụ định ngồi xuống nhưng lại sợ anh em nhà mèo chúng nó ngửi mùi cá, thèm thuồng tội nghiệp, cụ lại tiếp tục lê bước. Đến gian hàng bán các đồ gia vị, cụ lại định ngồi xuống, nhưng mùi tiêu, mùi tỏi cay nồng trong không khí khiến mũi cụ ngứa ngáy, và nhất là cụ nghe được tiếng hắt hơi - thật nhỏ nhưng cụ vẫn nghe rõ - của con mèo út. Con bé đúng là con nhà tiểu thơ. Cụ nghĩ thầm và tiếp tục lê bước trong nhà lồng chợ.

Đến chỗ trống vừa đủ một người ngồi trong khu bán bánh mứt cho thiên hạ ăn tết, cụ ngập ngừng đứng lại thở. Lâu lắm cụ không được nếm mùi bánh kẹo ngày tết. Căn chòi ghếch lên vách tường ông nhà giàu là chỗ trú ngụ của cụ mấy năm nay rồi. Và thực đơn của cụ là những cơm thừa, canh cặn của quán ăn đầu con ngõ. Thừa với cặn nhưng đừng thiu đừng thối là quý rồi.

“Bà già làm gì vậy?” Người chủ quán hỏi lúc cụ mở túi, kéo bốn anh em nhà mèo ra.

“Bác cho tôi nhờ chỗ một tí.” Cụ nói.

“Bà làm gì vậy?”

“Tôi bán mấy con mèo.”

Người đàn bà có cặp lông mày sắc như hai thanh kiếm nhìn chăm chăm bốn con mèo mướp giống hệt nhau, đang loi nhoi trên cái túi vải, trải lên nền xi măng.

“Bà bán giá cả thế nào đây?” Một người đàn bà mặc áo dài, túi xách đeo vai, dừng lại, nhìn lũ mèo.

Câu hỏi bất ngờ. Bà cụ hoàn toàn không chuẩn bị cho câu hỏi này. Cả đời có bao giờ mua bán mèo đâu. Mẹ của bốn đứa này là mèo hoang. Chị mèo đói ghé căn chòi của cụ một buổi trưa trời mưa tầm tã, nước ngập đường phố, xe cộ, người ngợm lội nước lõm bõm. Con hẻm nhờ ở khu đất cao nên không bị lụt. Chị mèo sợ nước, đứng sát vào vách tường tránh mưa. Cụ cho nó ăn, nó ở lại với cụ. Nó hẹn hò chim chuột lén lút đâu đó cụ chả biết. Nó có bầu. Nó rên rỉ chuyển bụng. Rồi nó sinh cho cụ ba thằng mèo con và một út mèo. Năm mẹ con nó sống quanh quẩn bên cụ. Ngày ngày cụ lân la quán ăn, xin lau bàn, chùi ghế cho người ta, đổi lấy tí cơm, tí canh cho cụ và cho năm mẹ con nhà mèo. Mèo mẹ đang nuôi bốn đứa con mơn mởn thì thằng con trời đánh của cụ rình bắt nó đem đi làm thịt.

Thành ra cụ ngập ngừng.

“Bao nhiêu một con?” Người khách vén hai tà áo, ngồi xuống, xoa đầu mấy con mèo.

Trong kia, người đàn bà có cặp lông mày sắc như hai thanh kiếm lớn giọng, “Bà già không có giấy phép, đem đi chỗ khác bán đi.”

Như không nghe người chủ quầy hàng bánh mứt nói gì, người phụ nữ mặc áo dài màu thiên thanh hỏi, “Sao bác không để chúng nó ở với mẹ chúng nó ít lâu nữa?”

“Chúng nó mồ côi cô ạ.”

“Ô, vậy… Con này bao nhiêu?” Người khách chỉ vào con mèo út, hỏi. “Cái miệng nhọ của nó xinh ghê. Miệng này ăn vụng phải biết!” Người khách nhấc con mèo út lên, cười.

Thấy không ai để ý đến mình, người chủ quầy hàng bánh mứt la toáng lên, “Kêu bảo vệ lại. Kêu bảo vệ lại.” Hai con mắt trợn ngược, cặp lông mi sắc như hai thanh kiếm vung lên, bà ta bấm điện thoại di động, nói oang oang vào máy.

Trong chớp mắt, hai ba gã đàn ông ào đến. Bà cụ hoảng hốt, nói vội với người phụ nữ áo thiên thanh, “Cô cứ lấy một con về nuôi đi. Chỉ cần đừng làm thịt nó tội nghiệp!”

Bọn đàn ông áo xanh màu cứt ngựa, quần ka-ki vàng nhạt ùa tới như cơn lốc. Người khách áo dài màu xanh da trời ôm lấy con mèo cái có cái chấm ở mũi, vội đứng dậy, bước đi. Bà cụ hoảng hốt bốc vội đám mèo bỏ vào túi, nhưng chỉ kịp bỏ được hai anh em thằng này vào cái túi vải thì bọn lâu la kia đã đến sát bên. Những đôi chân hung hãn đá văng “quầy hàng” của bà cụ. Bàn chân đá trúng một con mèo. Một tiếng kêu thất thanh. Tiếng mèo. Tiếng bà cụ. Âm thanh lẫn vào nhau. Nhưng tiếng kêu của bà cụ kéo dài tưởng như không bao giờ ngừng, còn tiếng kêu của con mèo thì tắt ngấm. Và con vật rơi xuống đất như một nắm bột mềm. 

Chuyện đã qua. Mọi người trong khu chợ đã quên. Người chủ quầy hàng bánh mứt – có cặp lông mày song kiếm - hẳn cũng đã quên, chỉ mình bà cụ còn nhớ.

Và hai anh em thằng mèo chắc cũng còn nhớ.

Vì vậy, bà cụ không dám bén mảng đến chợ nhà lồng nữa. Cụ cũng không dám bày hàng trước cửa tiệm của thiên hạ. Cụ tìm đâu ra giấy phép để ngồi bán bây giờ. Mà cụ đâu có thực tâm muốn bán hai anh em chúng nó. Khổ nỗi ở với cụ, sớm muộn gì chúng nó cũng theo nhau lên bàn nhậu của lũ phàm phu. Thật là gian truân anh em nhà tiểu hổ.

Hôm nay, bà cụ lại lập lại chuyện ấy. Thắt cái vòng dây lỏng quanh cổ hai đứa. Buộc thắt nút cho khỏi tuột. Đem chúng nó ra phố. Cụ chọn khúc đường ít xe cộ không có những đứa trời đánh rú ga ầm ĩ khoe xe xịn, để anh em nhà mèo không bị giật mình. Cụ chọn chỗ không có bóng những tên lâu la áo màu cứt ngựa quần ka-ki vàng nhạt, mặt mũi sần sượng như những tên cướp cạn. Và lựa chỗ không có bóng dáng một con chó hoang nào để anh em nhà mèo không bất ngờ bị cấu xé oan uổng.

“Ngồi yên một tí đi mà,” cụ thì thầm nhắn nhủ, hai tay đặt trên lưng hai đứa.

Hai anh em nó ngồi bên nhau, ngơ ngác nhìn phía trước. Lề đường lồi lõm, nứt nẻ khắp chung quanh. Chỗ này an toàn. Tụi lâu la cũng ít quần thảo. Đám khách bộ hành đi qua, ném lại quầy hàng của cụ cái nhìn lạ lẫm. Nắng đã tắt, phố đã lên đèn, mà chẳng ai hỏi han gì tới hai con mèo của cụ.

“Ngồi yên tí đi mà,” cụ thì thầm, tay khẽ ấn cái lưng của thằng mèo em xuống khi nó gồng mình đứng dậy. “Gần tết rồi. Về được với nhà tử tế thì tao cũng yên tâm.” Cụ xoa lưng thằng mèo em, dỗ dành. “Đi được trước tết thì tốt hơn chứ Tết Ta hàng quán đóng cửa ăn tết tới ra Giêng mới mở cửa, mình kiếm đâu ra cơm cặn canh thừa. Tao thì nhịn được chứ để chúng mày đói tao không nỡ.”

Một người đàn ông dừng lại, nhìn hai con mèo. Tim bà cụ lạc mất một nhịp. Mừng. Tết rồi, về với người tử tế cũng đỡ khổ một đời. Cụ thầm nghĩ.  

“Bán mèo hả bà già?”

Bà cụ ngập ngừng, rồi khẽ gật đầu. Cụ cố chào hàng, “Tiểu hổ. Nuôi cho nó bắt chuột.” Cụ cố nhấn mạnh hai chữ bắt chuột để người đàn ông thấy hai anh em chúng nó cũng được việc. Cụ không muốn người ta đem hai anh em nó ra làm thịt. “Giống này hay chuột lắm!” Cụ nói.

Người đàn ông nhếch mép cười. Gã ngước nhìn ngôi chung cư cao tới tận mây trời - với đèn xanh đèn đỏ chớp nháy giữa ban ngày - ở trước mặt. Rồi lại nhìn xuống hai anh em nhà tiểu hổ.

“Bé tí thế này thì nhai chả bõ dính răng!” Gã nói, rồi nhún vai bước đi.

Bà cụ sững người ra một giây, rồi cúi xuống hai anh em nhà mèo, thì thầm đủ cho hai đứa nó nghe, “Thôi về bay ơi, tối rồi!”

Chủ nhật 06 tháng 01, 2018

Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.