Hôm nay,  

Tóc mai sợi vắn sợi dài

23/02/202311:16:00(Xem: 3739)
Phiếm

couple-in-love

Cái răng cái tóc là góc con người! Bởi đấy ai cũng thích săn sóc răng cho kỹ, răng có chắc, ăn mới mạnh, mới ngon và mới có sức khỏe. Điều này phải kể mấy ông nha sĩ ở bên tây này cũng khá mạnh tay khi chặt tiền, nếu bạn có răng đau, nhất là răng sâu, phải tìm đến phòng mạch. Cũng kể thêm là khi ta có hàm răng đều đặn, trắng bóng làm tăng thêm giá trị của nụ cười, hiển nhiên. Nụ cười là một trong những biểu tượng của tình yêu! Điều này quan trọng không vừa đâu.

 

Chúng ta còn nhiều thì giờ để nói về cái răng sau, nay hẳng nói về cái tóc nhiều hơn. Cái tóc là góc cao nhất của con người, nhìn thấy một người đối diện ta chú ý ngay xem đầu tóc hắn thế nào. Nhìn một người đầu tóc gọn gàng chải vén khéo, lịch sự, ta ưng bụng ngay, đây là một người đàng hoàng, cẩn thận, bình thường như mọi người bình thường. Đối diện với một người tóc tai gớm ghiếc, lởm chởm hoặc bù xù không chịu chải gỡ, ta có cảm tưởng ngay trước mặt hình như là hiện diện một con bú dù thì phải, theo nghĩa đơn giản người Việt Nam ta gọi đó là bú dù là con khỉ đột, khỉ điên, người càn rỡ, khùng khùng.

 

Xem vậy đầu tóc nên chăm sóc cho kỹ.

 

Khi xưa còn bé, có lần cha mẹ tôi đi dự đám cưới về, tôi lăng xăng một bên tò mò hỏi xem cô dâu có đẹp không ? Mẹ tôi khi nào cũng vui vẻ vồn vã:

 

– Cô dâu đẹp lắm con ạ, cô dâu nào cũng đẹp cả, mai này khi con thành cô dâu con cũng sẽ đẹp như vậy.

 

–  Như mẹ hồi đó hả?

 

–  Không chắc đâu. –  Cha tôi xen vào ngay –  Mẹ mày ngày là cô dâu chẳng mấy đẹp.

 

– Tại sao?

 

– Tại sao à, tại vì mẹ chải cái đầu tóc cao như đội một quả tạ hay cái tổ chim én, coi kỳ kỳ làm sao ấy.

 

– Thế sao lúc đó bố không nói. –  Tôi phản ứng vội vã.

 

– Nói thế nào được lúc đó. Dứt dây động rừng, lúc ấy xung quanh mẹ con bao nhiêu là người, nào bà mợ, bà cô, bà bác, bà thím cô dâu, nom cô dâu nhà ta rõ muôn màu muôn vẻ, bố đâu dám nói, sợ họ giận… thì làm sao xong đám cưới.

 

– Rồi bây giờ?

 

– Giờ thì chịu, lỡ rồi.

 

Mẹ tôi thấy rõ ràng bà bị khiêu khích, bà trả lời không kém cạnh:

 

– Thôi đi, ông ghen thì có, lúc nào chú rể cũng sợ lùn hơn cô dâu.

 

Nói cho vui chứ thật ra là mẹ tôi không thể nào cao hơn bố tôi được. Từ ngày bỏ nước ra đi, mẹ tôi viện cớ phải xông xáo nơi xứ người để kiếm ăn cho dễ nên đầu tóc lúc nào cũng nên chải gọn gàng ở tiệm. Bố tôi ngược lại thích cắt tóc ở nhà, nghĩa là anh em chúng tôi được trang bị có một cây kéo răng lược vừa để cắt vừa để tỉa tóc, thế là phải học nghề mới, nghề cắt tóc cho bố tôi, còn dao cạo thì tạm thời dùng dao cạo râu của người để thay thế. Anh hai tôi khởi sự hành nghề từ khi anh mới 14 tuổi, chỉ cắt và tỉa loanh quanh dưới chân tóc theo đường viền tóc cũ để lại. Mẹ tôi thích, rất thích cái trò cắt tóc ở nhà vì đỡ phải móc túi chi tiền, người bảo bên đây trời lạnh, càng cắt thấp chân tóc bao nhiêu càng khỏi lạnh, khỏi tốn thời giờ quấn khăn quàng hay đội mũ. Cha tôi khi xưa ở trong quân đội, tóc luôn luôn hớt ngắn, giờ thì vẫn hớt nhưng để dài hơn, mặt ông như trẻ lại. Có lẽ ông rất vừa ý được hớt tóc ở nhà nên mua khăn quàng và một tấm gương soi lớn phía trước mặt. Hai bên thì người soi bằng hai tấm gương nhỏ để bàn, người theo dõi rất kỹ những lần đầu tiên thợ cắt tóc nhà làm việc, hơi so le vài sợi tóc khách cũng đòi sửa lại, hễ thợ cạo bên hơi đậm, bên hơi lợt là ông sửa ngay:

 

– Tại sao cạo một bên kỹ quá một bên dối quá hóa ra kỳ, đây phải sửa lại bên này một chút như vậy, như vậy…

 

Ngài dùng gương chiếu phía sau kiểm soát hàng rào sau gáy:

 

– Ấy ấy, còn hơi lệch, phải cắt tỉa thêm chỗ này, đừng cắt nhiều quá, khoan, từ từ, rất từ từ, lỡ tay cắt quá là khó chữa!

 

Anh tôi dẫy nẩy:

 

– Thôi, cắt tóc cho bố mệt quá, bố đi tiệm đi, tụi con chán rồi. Hay là con cho bố tiền hớt tóc cũng được!

 

– Không, bố bảo làm là phải làm, cắt ở nhà lợi hơn.

 

– Con không thấy lợi đâu cả. Thấy mệt quá với bố. Có bao giờ cắt tóc không mất tiền mà khách cứ đòi hỏi, cằn nhằn chủ luôn miệng léo nhéo vậy không?

 

– Rồi dần dần các con sẽ làm khéo hơn, đừng lo, bố không cằn nhằn nữa. Nhưng các con phải làm sao cho bố đi ra đường coi cho được chứ!

 

Lần tiếp đó trong tháng tới, con em út trong nhà nguyện làm thợ hớt tóc. Nó có hoa tay, tỉ mỉ và được tiếng là khéo khi hai bố con ở trong nhà tắm, tạm dùng làm phòng hớt tóc, tịnh không nghe một tiếng cãi cọ nào giửa chủ và thợ. Khi hớt xong, ông đi ra, chỉ nghe tiếng rũ khăn quàng thật mạnh biết là cô út đã hoàn thành công tác. Bố tôi đi ra mặt hơi đỏ, ông thở phào nhẹ nhõm:

 

– Nó làm tao hơi sợ, lúc nào cũng phải giơ hai tay lên che lấy hai cái tai.

 

Tụi tôi nháy nhau cười rồi mỗi đứa đi một ngả. Tạm im. Đến khi cô Tám từ Canada sang thăm gia đình tôi vụ hè thì mọi người lại đem chuyện tóc tai ra kể. Cô Tám sung sướng hả hê hơn:

 

– Tao ấy à, bên đó tao cũng sắm một bộ đồ nghề làm ăn trên đầu trên cổ mấy đứa, mà toàn là mấy thằng cháu rể không à, rể ta, rể tây có hết, cũng có lần tao làm đẹp khỏi chê, cũng có lần tỉa hơi xéo, sửa hoài, sửa hoài coi cũng không ra sao. Kỳ đó thằng Tánh đi làm giữa mùa hè phải mang mũ ni che tai trọn tháng. Có lần tao hớt cho thằng rể Mỹ cao quá, cái đầu làm như trọc lóc, lúc soi gương, nó nản ra mặt mà không dám phàn nàn, chỉ nhắc khéo:

 

– Cháu đã đi quân dịch từ 4, 5 năm trước rồi kìa.

 

Con Vân vợ nó vội an ủi:

 

– Không sao, kỳ sau cô sẽ làm khéo hơn, vả lại tóc của cưng mau dài lắm.

 

Nhưng mà lũ chúng nó vẫn khoái mang đầu đến cho tao hớt, mỗi lần ngồi vào ghế, đứa nào cũng lặp đi lặp lại cả chục lần:

 

– Từ từ, từ từ, cô Tám, cô hớt dài dài chút đi, météo nói tháng này nhiệt độ xuống dữ lắm!

 

Để trả công hớt tóc, các cháu mang đến tặng cô Tám tôi nhiều loại dầu gội đầu thật thơm, đủ các nhãn hiệu khác nhau, có thứ còn đắt tiền hơn cả hai, ba lần nếu phải đi tiệm hớt tóc. Cô nói cô chất đầy một tủ dầu gội đầu tùy ý khách chọn. Thậm chí có những đứa cháu gái không đến cắt tóc cũng tự động mở tủ xin dầu gội đầu, có đứa còn gội, sấy và chải nhờ ngay tại nhà cô cho tiện. Cuối tuần căn nhà nhỏ hai phòng của cô biến thành cửa tiệm vui ghê. Cô phải nhắc khéo coi chừng sắp nhỏ đi ra đi vào ồn ào, thiên hạ tưởng cô làm ăn trốn thuế thì hơi phiền sau đó.

 

Nhưng nhân viên nhà nước đi kiểm tra chưa bao giờ tới, thì bỗng một hôm có một người khách tới, chỉ xin yêu cầu cắt ngắn bớt mái tóc dài đi mà thôi. Điều đó dễ ợt. Chỉ việc cầm kéo bén đưa một đường ngang lưng là xong. Ông khách già lối sáu, bẩy chục tuổi chậm chạp cởi áo ngoài, bỏ khăn, bỏ mũ ra. Một búi tóc khá to, bằng trái ổi xá lị bạc trắng dính sát sau gáy ông lộ ra làm cô Tám tôi tò mò hỏi dạn dĩ hơn:

 

– Dạ thưa bác, bác tính để đầu tóc để thờ ông bà như các cụ ta trước đây hồi còn ở bên nhà?

 

Ông già đẹp lão ngồi xuống ghế, thong thả dựa lưng vào tường, đưa hai tay lên cao phân bua:

 

– Thưa không phải vậy, cô chủ, số là vợ chồng tôi sang đây lánh nạn cộng sản từ năm 1975. Từ ngày đó, bà nhà tôi tập hớt tóc cho tôi, trước vụng sau khéo, suốt gần 20 năm tôi đã quen với đường kéo quen thuộc của bà. Cách nay hai năm, bà qua đời đột ngột. Tôi, phần ngại đi tiệm, phần lưu luyến với thói quen của vợ, tôi để vậy, muốn ra sao thì ra, nhưng nay thì nó dài quá, vướng vít khi gội đầu, khi chải gỡ, cô tính tôi đã ngần này tuổi rồi mà phải vật lộn với tóc tai đâu phải dễ. Nó dài quá lưng rồi. Vất vả quá. Tôi chờ cô chủ cắt ngắn đến vai. Thế thôi.

 

Bác có muốn làm ngắn hơn cũng được. Như khi xưa bác gái đã làm. Tiệm tôi đây, xin bác tha lỗi, là tiệm nhà thôi nhưng có đủ dao, kéo, tỉa, tông đơ…

 

Cô mau mắn đề nghị với vẻ sẵn lòng như muốn giúp ông già gội đầu cho khỏe, nhưng ông cụ già chối đây đẩy:

 

– Xin cám ơn lòng tốt của cô chủ, nhưng tôi chỉ muốn cắt tới chạm vai, vậy thôi!

 

– À, có lẽ bác đã lỡ hứa với bác gái cái vụ độc quyền hớt tóc này rồi. Nhưng, nếu chỉ cần xén cho ngắn đi để gội chải cho đỡ vất vả thì ở nhà con cháu làm được, can chi bác phải lặn lội tới đây? –  Cô chủ rất là tò mò hỏi vặn vẹo.

 

– Không, tôi muốn ra đây cắt tóc là để bà ấy không thấy ở nhà thì cũng được. Mà ngặt cái hình bà ấy đẹp quá, con cháu đem treo lung tung khắp nơi trong nhà. Tôi thì tôi không muốn bà ấy nhìn thấy tôi cắt tóc, bà ấy theo dõi tôi hoài cô à!

 

Cô Tám tôi cười khả ái:

 

– Không đâu, thưa bác, mấy lúc gần đây bác gái nhìn bác hoài từ tứ phía trong nhà là muốn nói với bác: Mình hãy đi cắt bớt  tóc đi, tóc tai dài, gội chải vất vả lắm. Bác gái khi nào mà chẳng lo lắng cho bác.

 

– Cô nói đúng quá, cô chủ, vợ tôi chu đáo lắm!

 

Chúc Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.